CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ CÔNG CỤ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP 1. Động lực và tạo động lực làm việc cho đội ngũ giảng viên tại các trường đại học công lập 1. Giảng viên trong các trường đại học công lập 1. Khái niệm giảng viên, đội ngũ giảng viên a.
Khái niệm giảng viên Giảng viên là chức danh nghề nghiệp của nhà giáo làm công tác giảng dạy ở các trường đại học, cao đẳng. Ở Việt Nam, theo quy định của Luật giáo dục 2005, giảng viên đại học là những nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng và được phân chia thành các ngạch giảng viên, giảng viên chính, giảng viên cao cấp. Theo Khoản 3 Điều 70 của Luật Giáo dục sửa đổi, bổ sung năm 2009, giảng viên được hiểu như sau:“Nhà giáo giảng dạy tại các cơ sở giáo dục đại học hoặc cao đẳng nghề gọi là giảng viên”. Như vậy giảng viên trong các trường đại học công lập là những người tham gia giảng dạy tại các trường đại học công lập.
Điều 54 - Luật Giáo dục đại học quy định Giảng viên trong cơ sở giáo dục học là người có nhân thân rõ ràng; có phẩm chất, đạo đức tốt; có sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp; đạt trình độ về chuyên môn, nghiệp vụ quy định tại điểm e khoản 1 Điều 77 của Luật giáo dục. Chức danh của giảng viên bao gồm trợ giảng, giảng viên, giảng viên chính, phó giáo sư, giáo sư. Trình độ chuẩn của chức danh giảng viên giảng dạy trình độ đại học là thạc sĩ trở lên. Trường hợp đặc biệt ở một số ngành chuyên môn đặc thù do Bộ 9 trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định.
Hiệu trưởng cơ sở giáo dục đại học ưu tiên tuyển dụng người có trình độ từ thạc sĩ trở lên làm giảng viên. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, quy định việc bồi dưỡng, sử dụng giảng viên. Khái niệm đội ngũ giảng viên Theo từ điển tiếng Việt:“Đội ngũ là khối đông người cùng chức năng nghề nghiệp được tập hợp và tổ chức thành một lực lượng”. Đội ngũ được xem là một tập thể người gắn kết với nhau, cùng chung lý tưởng, mục đích, ràng buộc nhau về vật chất, tinh thần và hoạt động theo một nguyên tắc nhằm hướng tới mục đích chung của tổ chức.
Đội ngũ giảng viên là tập hợp những giảng viên được tổ chức thành một lực lượng có chung một nhiệm vụ là giảng dạy, thực hiện các mục tiêu giáo dục đã đặt ra cho tập thể đó. Tập hợp giảng viên của một trường đại học, cao đẳng nhất định thì được gọi là đội ngũ giảng viên của trường đó. Đối với những người lãnh đạo - quản lý trong các tổ chức giáo dục, đào tạo phải làm thế nào để gắn kết các thành viên trong đội ngũ giảng viên lại tạo thành một đội ngũ cùng chung mục đích, lý tưởng mà trong đó mỗi thành viên là một nhân tố quan trọng với đầy đủ trình độ, năng lực và phẩm chất đạo đức với những tri thức mới, tập hợp thành một khối đoàn kết thống nhất tạo ra một đội ngũ nhà giáo lớn mạnh, rộng khắp đáp ứng được nhiệm vụ của giáo dục trong thời đại ngày nay là một yêu cầu hết sức cần thiết. Nhiệm vụ, quyền hạn của giảng viên a.
Nhiệm vụ của giảng viên Nhiệm vụ của giảng viên được qui định tại Điều 72 của Luật Giáo dục 2005 cụ thể như sau: - Hoàn thành nhiệm vụ giảng dạy và NCKH được qui định theo giờ chuẩn do Bộ GD&ĐT ban hành đối với các chức danh và ngạch tương ứng; 10 - Giảng dạy theo nội dung, chương trình đã được Bộ GD&ĐT, trường cao đẳng qui định. Viết giáo trình, bài giảng, tài liệu phục vụ giảng dạy -học tập theo sự phân công của các cấp quản lý; - Không ngừng tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, cải tiến phương pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng đào tạo; - Tham gia và chủ trì các đề tài NCKH, phát triển công nghệ, dịch vụ khoa học, công nghệ và các hoạt động khoa học, công nghệ khác; - Chịu sự giám sát của các cấp quản lý về chất lượng, nội dung, phương pháp đào tạo và NCKH; - Hướng dẫn, giúp đỡ người trong học tập, NCKH, rèn luyện tư tưởng, đạo đức, tác phong, lối sống. - Các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật. Quyền hạn của giảng viên - Được giảng dạy theo chuyên ngành đào tạo; - Được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ; - Được ký hợp đồng thỉnh giảng và nghiên cứu khoa học tại các trường, cơ sở giáo dục khác và cơ sở nghiên cứu khoa học với điều kiện bảo đảm thực hiện đầy đủ nhĩa vụ nơi mình công tác; - Được bảo vệ nhân phẩm, danh dự; - Được nghỉ hè, nghỉ Tết âm lịch, nghỉ học kỳ theo quy định; - Được phong tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân, Nhà giáo ưu tú và được khen thưởng theo quy định của pháp luật.
Phân biệt với các đối tượng khác Một trường đại học công lập thường bao gồm 2 nhóm lao động chính: cán bộ hành chính và giảng viên. Cán bộ hành chính bao gồm lãnh đạo, chuyên viên, nhân viên các bộ phận chức năng, các trung tâm trực thuộc. Giảng viên là những người trực tiếp làm công tác khoa học (giảng dạy, nghiên cứu). Do đó, một 11 trường đại học có uy tín và danh tiếng trước hết là trường có đội ngũ giảng viên có trình độ đào tạo cao tại những cơ sở có uy tín trong và ngoài nước và đội ngũ cán bộ hành chính phục vụ chuyên nghiệp trong các công việc.
Sản phẩm cuối cùng của một trường đại học là chất lượng sinh viên được đào tạo và chất lượng các công trình nghiên cứu khoa học. Giảng viên chính là tác nhân chính quyết định chất lượng của sản phẩm. Trong các trường đại học, đội ngũ người lao động (giảng viên) có những đặc điểm mà người làm công tác nhân sự cần nắm rõ: Giảng viên đại học là lao động bậc cao, yêu cầu tính hàn lâm và khả năng sáng tạo cao; có tính độc lập: thể hiện ở quan điểm và phương pháp nghiên cứu. Những đặc điểm này là cơ sở then chốt giúp tìm ra giải pháp tạo động lực thích hợp để thúc đẩy sự nỗ lực của giảng viên trong việc sản sinh tri thức khoa học và truyền đạt cho người học.
Động lực làm việc của giảng viên 1. Khái niệm “Động lực là những yếu tố tạo ra lý do hành động cho con người và thúc đẩy con người hành động một cách tích cực, có năng suất, chất lượng, hiệu quả, có khả năng thích nghi và sáng tạo cao nhất trong tiềm năng của họ”.[14,717] Như vậy động lực làm việc của giảng viên là những yếu tố kích thích giảng viên hoạt động một cách tích cực có chất lượng, hiệu quả, khả năng thích nghi cao, có sáng tạo cao nhất đối với tiềm năng của họ. Vai trò của động lực làm việc Động lực làm việc giúp giảng viên có được nỗ lực lớn hơn để lao động học hỏi, đúc kết được những kinh nghiệm trong công việc, nâng cao kiến thức, trình độ để tự hoàn thiện mình. Đồng thời động lực cũng giúp giảng viên có sự say mê làm việc hơn nhằm đạt mục tiêu của bản thân cũng như mục tiêu của Nhà trường.
Một giảng viên có động lực làm việc là người luôn sẵn sàng nỗ lực làm 12 việc hết mình nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy, nhiệt tình tham gia học tập và nghiên cứu khoa học nhằm hoàn thiện bản thân và đáp ứng nhu cầu của Nhà trường. Tiêu chí đánh giá động lực làm việc của giảng viên a. Số lượng, chất lượng của các hoạt động giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học của giảng viên Một là số lượng và chất lượng hoạt động giảng dạy. Về số lượng: Căn cứ vào quyết định số: 64/2008/QĐ-BGDĐT quy định chế độ làm việc đối với giảng viên để đánh giá mức độ hoàn thành công việc của giảng viên.
Một giảng viên hoàn thành nhiệm vụ là phải đảm bảo thực hiện đầy đủ số giờ giảng dạy, học tập và nghiên cứu theo quy định. Về chất lượng giảng dạy: là một trong những tiêu chí quan trọng nhất phản ánh hiệu quả của công tác tạo động lực. Một công cụ tạo động lực tốt sẽ thúc đẩy được giảng viên phát huy hết năng lực của bản thân cho công việc. Chất lượng giảng dạy được biểu hiện thông qua những tiêu chí cụ thể sau: giảng dạy đúng chuyên môn, đảm bảo đầy đủ hồ sơ lên lớp và kết quả giảng dạy được biểu hiện thông qua kết quả học tập của sinh viên.
- Về học tập: Số lượng và chất lượng tham gia các lớp bồi dưỡng, nâng cao trình độ theo yêu cầu chung của ngành và của nhà trường như tham gia nghiên cứu sinh, học cao học, bồi dưỡng trình độ tin học và ngoại ngữ, bồi dưỡng lí luận chính trị và nghiệp vụ sư phạm…Đồng thời còn đánh giá thông qua việc giảng viên cập nhật thường xuyên kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, phương pháp giảng dạy và nâng cao hiểu biết. - Về nghiên cứu khoa học: Nghiên cứu khoa học là một trong những hoạt động rất thiết thực và cần thiết đối với mỗi giảng viên. Thông qua hoạt động này giảng viên có thể nâng cao khả năng nghiên cứu đồng thời hỗ trợ cho hoạt động giảng dạy. Đánh giá động lực của giảng viên thông qua hoạt động nghiên cứu khoa học thông qua các tiêu chí sau: Một là số lượng và chất lượng các ấn phẩm được xuất bản trong các tạp 13 chí khoa học (đặc biệt là danh tiếng của các tạp chí) hoặc các hội nghị khoa học ở trong và ngoài nước liên quan đến các công trình nghiên cứu.
Hai là kết quả nghiên cứu được áp dụng vào thực tiễn, vào giảng dạy (những nội dung nghiên cứu được áp dụng như là những ý tưởng mới hoặc những sáng kiến quan trọng cho công việc). Ba là số lượng sách và tài liệu tham khảo được xuất bản/sử dụng: Sách và các công trình nghiên cứu chuyên khảo. Số lượng các chương viết trong sách và hoặc đánh giá về các bài báo. Báo cáo về hoạt các hoạt động học thuật/kỹ năng nghiên cứu.
Mức độ gắn bó của giảng viên với nhà trường Giảng viên là một nghề đòi hỏi năng lực cao nhưng đãi ngộ lại vô cùng thấp. Để được giữ lại trường (hoặc qua đợt thi tuyển), các cá nhân đều phải có một bảng thành tích vượt trội, nổi bật.