Chương 1: Tổng quan đề tài HVTH: Trần Thị Mỹ Hạnh -8- 1.5 PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN Đề tài được thực hiện bằng các phương pháp nghiên cứu sau: - Phương pháp thu thập và tổng hợp dữ liệu: tìm hiểu về nội dung phương pháp phân nhóm và cách đánh giá kết quả phân nhóm dữ liệu. - Phương pháp nghiên cứu so sánh: so sánh và lựa chọn ra những chỉ số thích hợp sử dụng trong việc đánh giá kết quả phân nhóm. - Phương pháp thực nghiệm: thực nghiệm để xác định những vấn đề cần quan tâm và đưa ra các kiến nghị giúp xây dựng công cụ hỗ trợ hiệu quả. - Phương pháp phân tích thiết kế: phân tích và thiết kế chức năng giao diện của công cụ.
- Phương pháp lập trình: sử dụng ngôn ngữ lập trình VBA của ArcGis 9.3 được tích hợp sẵn trong phần mềm.6 KẾT CẤU LUẬN VĂN Luận văn gồm có 6 chương: Chương 1: Tổng quan đề tài: Giới thiệu chung về bối cảnh, mục tiêu và phương pháp thực hiện của đề tài. Cấu trúc, nội dung của luận văn được trình bày ở cuối chương. Chương 2: Bản đồ chuyên đề và phân nhóm dữ liệu: Giới thiệu các khái niệm cơ bản về bản đồ chuyên đề (nội dung và các phương pháp thể hiện) và các lý luận cơ bản về phân nhóm. Chương 3: Đánh giá kết quả phân nhóm dữ liệu: Trình bày lý do tại sao phải đánh giá kết quả phân nhóm dữ liệu, và đưa ra các tiêu chí để đánh giá kết quả phân nhóm, sau đó lựa chọn các tiêu chí, chỉ số để đưa vào lập trình công cụ đánh giá kết quả phân nhóm.
Chương 4: Nghiên cứu thực nghiệm và nhận xét: Thực nghiệm trên dữ liệu cụ thể từ đó đưa ra các nhận xét, kiến nghị giúp tìm ra giải pháp phân nhóm phù hợp và đề xuất những chức năng cần có trong công cụ hỗ trợ phân nhóm dữ liệu. Chương 1: Tổng quan đề tài HVTH: Trần Thị Mỹ Hạnh -9- Chương 5: Xây dựng công cụ hỗ trợ việc phân nhóm dữ liệu: Trình bày chi tiết giao diện, chức năng của công cụ hỗ trợ việc phân nhóm dữ liệu và hướng dẫn người dùng sử dụng công cụ sao cho hiệu quả. Chương 6: Kết luận: Tổng kết lại những công việc đã làm được, sau đó nêu ra những đóng góp và hướng phát triển của luận văn. Chương 1: Tổng quan đề tài HVTH: Trần Thị Mỹ Hạnh -10- CHƯƠNG 2 BẢN ĐỒ CHUYÊN ĐỀ VÀ PHÂN NHÓM DỮ LIỆU Bản đồ chuyên đề Ø Khái niệm Ø Nội dung thể hiện Ø Phương pháp thể hiện nội dung Phân nhóm dữ liệu Ø Khái niệm Ø Phân nhóm hay không phân nhóm Ø Số nhóm cần phân chia Ø Các phương pháp phân nhóm Tiểu kết Chương 2: Bản đồ chuyên đề và phân nhóm dữ liệu HVTH: Trần Thị Mỹ Hạnh -11- 2.1 Khái niệm “ Bản đồ chuyên đề là những bản đồ thể hiện chi tiết và thật đầy đủ một yếu tố hoặc một vài yếu tố của bản đồ địa lý chung, hoặc một vài hiện tượng, quá trình địa lý mà không thể hiện trên bản đồ địa lý chung.
Bản đồ chuyên đề về một yếu tố nào đó sẽ được đề cập đầy đủ các khía cạnh của yếu tố đó, ví dụ như vấn đề dân cư thì phải phản ánh dân số, mật độ, thành phần xã hội, nghề nghiệp, độ tuổi.2 Nội dung thể hiện Bản đồ chuyên đề thể hiện rất chi tiết một mặt, một bộ phận của đối tượng hiện tượng. Những đối tượng hiện tượng này tồn tại trên mặt đất, trong lòng đất, trong bầu khí quyển hoặc trong xã hội loài người. Trong bản đồ chuyên đề có sự phân chia nội dung chính và nội dung phụ. Nội dung chính là nội dung chuyên đề, còn nội dung phụ là các yếu tố cơ sở địa lý.
Bản đồ chuyên đề đi sâu vào nội dung bên trong của hiện tượng, đi xa hơn những đặc điểm địa lý đơn thuần như hiện tượng địa chất, địa vật lý trọng trường… Để thể hiện nội dung chuyên đề, bản đồ chuyên đề thường sử dụng nhiều phương pháp thể hiện nội dung khác nhau. Tuỳ theo đặc điểm phân bố hiện tượng và đặc điểm số liệu thống kê mà ta chọn phương pháp thích hợp. Sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu một số phương pháp thể hiện nội dung cơ bản [5, trang 82].3 Phương pháp thể hiện nội dung § Phương pháp ký hiệu theo điểm: Phương pháp ký hiệu theo điểm là phương pháp thể hiện các đối tượng định vị theo điểm, xác định cụ thể trên bản đồ như xí nghiệp, trường học, vùng dân cư… Mỗi ký hiệu gồm 3 thành phần: dạng ký hiệu, kích thước ký hiệu và màu sắc ký hiệu. Dạng ký hiệu và màu sắc ký hiệu dùng để nêu lên đặc tính chất lượng, còn Chương 2: Bản đồ chuyên đề và phân nhóm dữ liệu HVTH: Trần Thị Mỹ Hạnh -12- kích thước ký hiệu phản ánh định lượng của hiện tượng.
Ký hiệu có thể có dạng tượng hình hay dạng hình học.1 Phương pháp ký hiệu theo điểm § Phương pháp biểu đồ định vị: Phương pháp biểu đồ định vị là phương pháp dùng các biểu đồ đặt tại một điểm hay tại một số điểm mà đặc tính của hiện tượng không chỉ có tại những điểm đó mà cho cả vùng rộng lớn. Biểu đồ định vị thể hiện giá trị của hiện tượng theo tháng hoặc theo chu kỳ khác nhau (nhiệt độ, mưa, gió, v.v… ) nhằm nêu lên những đặc trưng như tiến trình, tần suất, cường độ, xác suất của hiện tượng. Biểu đồ định vị có các dạng như: đồ thị, biểu đồ cột, biểu đồ bánh, hoa gió… Hình 2. Phương pháp biểu đồ định vị Chương 2: Bản đồ chuyên đề và phân nhóm dữ liệu HVTH: Trần Thị Mỹ Hạnh -13- § Phương pháp đường chuyển động: ng chuy Phương pháp đường chuyển động được dùng để thể hiện sự di chuyển ng chuy chuy của hiện tượng như: dòng chảy, dòng òng hải lưu, di dân, di cư động vật, t, chuyển chuy quân, vận chuyển hành khách và hàng ng hhóa.
Phương pháp đường chuyển động.3 Ph § Phương pháp đường ng đđồng mức: Phương pháp đường đồng mức là phương pháp dùng các đường nố ng m ối những điểm có cùng giá trị. Hiện tượng ng đư được biểu diễn bằng đường đồng mức phải là hiện tượng liên tục còn đặc tính của hiệện tượng là đặc tính số lượng.4 Phương pháp đường đồng mức. Chương 2: Bản đồ chuyênn đđề và phân nhóm dữ liệu HVTH: Trần Thị Mỹ Hạnh -14- § Phương pháp chấm điểm: Phương pháp chấm điểm là phương pháp biểu diễn sự phân bố của hiện tượng bằng các điểm chấm trên bản đồ. Mỗi điểm chấm biểu diễn một giá trị nhất định của hiện tượng.5 Phương pháp chấm điểm § Phương pháp khoanh vùng: Phương pháp khoanh vùng biểu diễn một hiện tượng nào đó phát triển trên một diện tích không lớn, phân bố của hiện tượng thường là phân tán, phát triển thành cụm, phân bố không đều khắp trên lãnh thổ mà chỉ có ở từng vùng nhất định.6 Phương pháp khoanh vùng Chương 2: Bản đồ chuyên đề và phân nhóm dữ liệu HVTH: Trần Thị Mỹ Hạnh -15- § Phương pháp nền chất lượng: Phương pháp nền chất lượng là phương pháp thể hiện tượng phân bố trên toàn lãnh thổ, phân biệt nhau bởi tiêu chuẩn định tính.
Ví dụ: các quần thể thực vật khác nhau trên bản đồ thực vật, các loại đất khác nhau trên bản đồ thổ nhưỡng, các vùng cư trú của các dân tộc khác nhau trên bản đồ dân cư - dân tộc, các vùng sản xuất nông nghiệp khác nhau trên bản đồ kinh tế … Hình 2.7 Phương pháp nền chất lượng. § Phương pháp nền số lượng: Phương pháp nền số lượng là phương pháp thể hiện tượng phân bố trên toàn lãnh thổ, phân biệt nhau bởi tiêu chuẩn định lượng. Ví dụ nhiệt độ các vùng trên bản đồ nhiệt độ, mật độ dân cư, độ dốc.8 Phương pháp nền số lượng. Chương 2: Bản đồ chuyên đề và phân nhóm dữ liệu HVTH: Trần Thị Mỹ Hạnh -16- § Phương pháp biểu đồ bản đồ: Phương pháp biểu đồ bản đồ là phương pháp biểu hiện các đối tượng, hiện tượng bằng các biểu đồ đặt trong các đơn vị phân chia lãnh thổ.
Mỗi biểu đồ có giá trị tổng lượng theo số lượng thống kê của đối tượng phân bố trong lãnh thổ đó.9 Phương pháp biểu đồ bản đồ. § Phương pháp đồ giải: Phương pháp đồ giải là phương pháp biểu diễn cường độ trung bình của hiện tượng trong từng đơn vị phân chia lãnh thổ. Ví dụ như mật độ dân số, tỷ lệ diện tích trồng trọt so với tổng diện tích của đơn vị diện tích của lãnh thổ, số bác sĩ trên 1000 dân… Hình 2. Phương pháp đồ giải Chương 2: Bản đồ chuyên đề và phân nhóm dữ liệu HVTH: Trần Thị Mỹ Hạnh -17- 2.2 PHÂN NHÓM DỮ LIỆU 2.1 Khái niệm “ Phân nhóm dữ liệu là việc chia dãy dữ liệu ta cần thể hiện thành từng nhóm và sau đó, tất cả những đối tượng nằm chung nhóm sẽ được gán một giá trị chung” [1].
Với cùng một dãy dữ liệu, khi áp dụng phương pháp phân nhóm khác nhau sẽ cho ra những kết quả khác nhau. · Nguyên tắc cơ bản: Mỗi giá trị dữ liệu gốc ban đầu phải rơi vào một và chỉ một trong các nhóm. Phân nhóm dữ liệu có thể làm đơn giản hóa dữ liệu, làm cho bản đồ trở nên dễ nhìn, dễ bao quát hơn, mang lại hiệu quả cao cho những người khai thác thông tin từ bản đồ. Nhưng bên cạnh đó, phân nhóm dữ liệu có thể sẽ làm mất tính chi tiết của dữ liệu.
Vì vậy, khi tiến hành phân nhóm dữ liệu, người làm bản đồ phải trả lời những câu hỏi sau: - Có cần phân nhóm hay không? - Số nhóm cần phải phân ra là bao nhiêu? - Có những phương pháp phân nhóm dữ liệu nào? - Phân nhóm theo cách nào là tốt nhất? - Làm sao để đánh giá kết quả phân nhóm? Chúng ta lần lượt tìm các câu trả lời cho các câu hỏi được đặt ra ở trên.2 Phân nhóm hay không phân nhóm Vấn đề thường gặp là người làm bản đồ có nên phân nhóm dữ liệu hay không? Phương pháp phân nhóm nào sẽ được sử dụng? Người làm bản đồ đã đưa ra lập luận cho bản đồ phân nhóm dựa trên hai lý do: độc giả không có khả năng phân biệt sự khác nhau giữa các ký hiệu (hay màu sắc của nhiều khu vực), và sự khó khăn trong việc tạo ra bản đồ không phân nhóm bằng cách sử dụng các phương pháp truyền thống.