phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan và cơ sở lý luận Chƣơng 2: Xây dựng bộ công cụ kiểm tra đánh giá kết quả học tập Chƣơng Hạt nhân nguyên tử Vật lý 12 - THPT (học kì II) Chƣơng 3: Thử nghiệm và phân tích kết quả 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I. TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm kiểm tra Kiểm tra là sự kết hợp của quá trình dạy – học nhằm nắm đƣợc thông tin về trình độ kiến thức và kết quả học tập của học sinh qua mỗi bài giảng, qua một chƣơng, một phần, một kì học để tìm ra những lỗ hổng kiến thức, những nguyên nhân cơ bản của thực trạng đó và tìm ra những biện pháp khắc phục kịp thời nhất những lỗ hổng, đồng thời củng cố và tiếp tục nâng cao hiệu quả của hoạt động dạy – học”[2.
Nguyễn Bá Kim thì: “Kiểm tra nhằm cung cấp cho thầy thông tin về kết quả dạy và trò là những thông tin về kết quả học, trƣớc hết là về mặt tri thức và kỹ năng của từng học sinh nhƣng cũng lƣu ý cả về mặt năng lực, thái độ và phẩm chất của họ cùng với sự diễn biến của quá trình dạy học”. “Kiểm tra là sự theo dõi, tác động của ngƣời kiểm tra đối với ngƣời học nhằm thu đƣợc những thông tin cần thiết để đánh giá” – theo tác giả Phạm Hữu Tòng. Nhƣ vậy nếu chỉ xét trong phạm trù giáo dục thì kiểm tra là công việc có mục đích kép xác định xem mỗi ngƣời học sau khi học đã đạt đƣợc gì (kiến thức), làm đƣợc gì (kỹ năng) và bộc lộ thái độ ứng xử ra sao, đồng thời có đƣợc những thông tin phản hồi để điều chỉnh quá trình dạy – học sao cho phù hợp với từng thời điểm khác nhau. Đánh giá Trong lịch sử phát triển ngành đo lƣờng và kiểm tra đánh giá trong dạy học, đã có không ít quan điểm cách tiếp cận khác nhau khi xác định khái niệm đánh giá.
Theo Griffin (1993) , đánh giá là một sự mô tả, bao gồm các hoạt động thu thập thông tin minh chứng về thành quả học tập của ngƣời học và diễn giải ý nghĩa thông tin minh chứng đó, mô tả thành quả học tập của ngƣời học dựa trên sự diễn giải. Định nghĩa này mới chỉ nói lên bản chất của hoạt động đánh giá mà chƣa đề cập mục đích của hoạt động đánh giá. Tác giả Đỗ Công Tuất (2000) định nghĩa đánh giá nhƣ sau: “đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phân đoán về kết quả của công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu đƣợc, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải tạo thực trạng, điều chỉnh nâng cao 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chất lƣợng và hiệu quả công việc”. Định nghĩa này có lẽ nghiêng về khái niệm đánh giá với bản chất nổi bật là nhận định và phán đoán.
Đánh giá ở đây đƣợc hiểu là một khái niệm có thể dùng chung cho nhiều lĩnh vực, không chỉ áp dụng cho ngành giáo dục. Tác giả cũng đề cập mục tiêu cuối cùng của hoạt động đánh giá là điều chỉnh nâng cao chất lƣợng và hiệu quả. Có rất nhiều định nghĩa khác về đánh giá nhƣng tất cả đều cho rằng: “đánh giá là một quá trình có hệ thống để xác định mức độ đạt đƣợc của mục tiêu thông qua những định hƣớng của việc đánh giá. Nó bao gồm những liệt kê, mô tả về mặt định tính hay định lƣợng những vấn đề mà đối tƣợng đạt đƣợc (kĩ năng, kiến thức, thái độ…).
Tùy thuộc vào mục tiêu phát triển mà ta hƣớng tới trong việc kiểm tra – đánh giá”. Những nghiên cứu lịch sử phát triển hệ thống giáo dục cho thấy đánh giá rất đa dạng về hình thức và quy mô cũng nhƣ cách thức và chủ thể điều khiển, tiến hành. Việt Nam đang từng bƣớc hoàn thiện mục tiêu kiểm tra đánh giá để phù hợp với quốc tế. Nhƣ vậy, kiểm tra và đánh giá là hai công việc có thứ tự và đan xen nhằm miêu tả và tập hợp những bằng chứng về kết quả của quá trình giáo dục để đối chiếu với mục tiêu: “Kiểm tra và đánh giá là hai quá trình có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Kiểm tra là để đánh giá kết quả học tập và đánh giá kết quả lại dựa trên cơ sở của kiểm tra”[3]. Trong thực tế, có thể tiến hành kiểm tra nhƣng không tiến hành đánh đánh giá. Nhƣng để đánh giá đƣợc phải tiến hành kiểm tra, thông qua kiểm tra mới có thể đánh giá và đánh giá chính là kết quả của kiểm tra. Đánh giá đƣợc tiến hành ở nhiều thời điểm khác nhau trong quá trình dạy học.
Ở mỗi thời điểm, đánh giá có mục đích riêng: Đánh giá khởi sự (place assessment) là hình thức kiểm tra khảo sát các kiến thức mà ngƣời học nắm đƣợc trƣớc khi bắt đầu dạy môn học mới. Câu hỏi đặt ra là ngƣời học đã nắm đƣợc những kiến thức gì để có thể tiếp thu kiến thức mới ? Học sinh có thể gặp những khó khăn gì khi tiếp thu kiến thức mới? Đánh giá quá trình (Formative assessment) là hình thức kiểm tra theo dõi sự tiếp thu những kiến thức mới của ngƣời học. Từ đó đánh giá đƣợc mức độ tiếp thu kiến thức, điều chỉnh tốc độ và mục tiêu trong quá trình dạy học cho phù hợp. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đánh giá tổng kết (sumartive assessment) thƣờng đƣợc tiến hành vào cuối kì giảng dạy một chƣơng, giữa học kì, hết học kì, cuối học kì nhằm xác định mức độ đạt đƣợc của ngƣời học trong suốt một quá trình.
Đánh giá chuẩn đoán (diagnostic assessment) nhằm phán đoán, dự báo những khó khăn mà ngƣời học có thể gặp phải, phát hiện nguyên nhân của các lỗi thƣờng gặp và lặp đi lặp lại để tìm cách khắc phục. Đánh giá theo năng lực Theo phát triển năng lực học sinh là việc đánh giá kết quả học tập không lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trung tâm của việc đánh giá. Đánh giá kết quả học tập theo năng lực cần chú trọng khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau. Đánh giá kết quả học tập đối với các môn học khác nhau và các hoạt động giáo dục ở mỗi lớp và sau cấp học là biện pháp chủ yếu nhằm xác định mức độ thực hiện mục tiêu dạy học, có vai trò quan trọng trong việc cải thiện kết quả học tập của học sinh.
Hay nói cách khác, đánh giá theo năng lực là đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái độ trong bối cảnh có ý nghĩa (Leen pil, 2011). Xét về bản chất thì không có mâu thuẫn giữa đánh giá năng lực và đánh giá kiến thức kỹ năng, mà đánh giá năng lực đƣợc coi là bƣớc phát triển cao hơn so với đánh giá kiến thức, kỹ năng. Để chứng minh HS có năng lực ở một mức độ nào đó, phải tạo cơ hội cho HS đƣợc giải quyết vấn đề trong tình huống mang tính thực tiễn. Khi đó HS vừa phải vận dụng những kiến thức, kỹ năng đã đƣợc học ở nhà trƣờng, vừa phải dùng những kinh nghiệm của bản thân thu đƣợc từ những trải nghiệm bên ngoài nhà trƣờng (gia đình, cộng đồng và xã hội).
Nhƣ vậy, thông qua việc hoàn thành một nhiệm vụ trong bối cảnh thực, ngƣời ta có thể đồng thời đánh giá đƣợc cả kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hiện và những giá trị, tình cảm của ngƣời học. Mặt khác, đánh giá năng lực không hoàn toàn phải dựa vào chƣơng trình giáo dục môn học nhƣ đánh giá kiến thức, kỹ năng, bởi năng lực là tổng hòa, kết tinh kiến thức, kỹ năng, thái độ, tình cảm, giá trị, chuẩn mực đạo đức,… đƣợc hình thành từ nhiều lĩnh vực học tập và từ sự phát triển tự nhiên về mặt xã hội của một con ngƣời. Có thể tổng hợp một số dấu hiệu khác biệt cơ bản giữa đánh giá năng lực ngƣời học và đánh giá kiến thức, kỹ năng của ngƣời học nhƣ sau: 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Bảng đánh giá năng lực của ngƣời học cần đạt Tiêu chí Đánh giá năng lực Đánh giá kiến thức, kỹ năng so sánh Đánh giá khả năng HS vận dụng Xác định việc đạt kiến thức, kỹ năng các kiến thức, kỹ năng đã học vào Mục theo mục tiêu của chƣơng trình giáo giải quyết vấn đề thực tiễn của đích chủ dục.
yếu nhất Đánh giá, xếp hạng giữa những Vì sự tiến bộ của ngƣời học so với ngƣời học với nhau. chính họ. Ngữ Gắn với nội dung học tập (những Gắn với ngữ cảnh học tập và thực cảnh kiến thức, kỹ năng, thái độ) đƣợc tiễn cuộc sống của HS. đánh giá học trong nhà trƣờng.
Những kiến thức, kỹ năng, thái độ Những kiến thức, kỹ năng, thái độ ở ở nhiều môn học, nhiều hoạt động Nội một môn học. giáo dục và những trải nghiệm của dung Quy chuẩn theo việc ngƣời học có bản thân HS trong cuộc sống xã hội đánh giá đạt đƣợc hay không một nội dung đã (tập trung vào năng lực thực hiện). Câu hỏi, bài tập, nhiệm vụ trong Công cụ Nhiệm vụ, bài tập trong tình huống, tình huống hàn lâm hoặc tình huống đánh giá bối cảnh thực. Thời Đánh giá mọi thời điểm của quá Thƣờng diễn ra ở những thời điểm điểm trình dạy học, chú trọng đến đánh nhất định trong quá trình dạy học, đánh giá giá trong khi học.
đặc biệt là trƣớc và sau khi dạy. Năng lực ngƣời học phụ thuộc vào Năng lực ngƣời học phụ thuộc vào độ khó của nhiệm vụ hoặc bài tập số lƣợng câu hỏi, nhiệm vụ hay bài đã hoàn thành. Kết quả tập đã hoàn thành. Học sinh thực hiện đƣợc các nhiệm đánh giá Học sinh càng có đƣợc nhiều kiến vụ môn học càng khó, càng phức thức, kỹ năng thì càng đƣợc coi là tạp sẽ đƣợc coi là có năng lực cao có năng lực cao hơn.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Mục đích và vai trò của kiểm tra đánh giá Kiểm tra – đánh giá có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với học sinh, giáo viên và đặc biệt là đối với cán bộ quản lý Đối với học sinh: việc đánh giá có hệ thống và thƣờng xuyên cung cấp kịp thời thông tin “liên hệ ngƣợc” giúp ngƣời học điều chỉnh hoạt động học.