CHƯƠNG 1. NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE KINH TẾ TUẦN HOÀN VÀ CƠ CHE PHÁP LÝ THUC DAY KINH TE TUẦN HOÀN HƯỚNG TỚI MỤC TIỂU PHAT TRIEN BEN VỮNG 1. Lý luận về kinh tế tuần hoàn 1. Khái niệm kinh tế tuần hoàn Sự xuất hiện của khái niệm “kinh tế tuần hoàn” tại Việt Nam manh nha vào cuối thé kỷ 20, đầu thé ky 21.
Xét dưới góc độ ngôn ngữ học, “kinh tế tuần hoàn” trong tiếng Anh là “circular economy”, trong đó từ “circular” nghĩa là sự tiếp nối theo dạng vòng tròn của các sự vật, hiện tượng!. Cách hiểu trên khá tương đồng với thuật ngữ Hán - Việt “tuần hoàn”?, chỉ sự quay vòng của một chu trình, trong đó tat cả các chủ thể tham gia đều hoạt động theo vòng khép kín, tất cả các khâu, các bước và bộ phận sẽ đều có mối liên hệ chặt chẽ theo hướng đầu ra của giai đoạn này là tiền đề của giai đoạn sau. Do đó, ở mức độ khái quát nhất, KTTH dé cập đến một nền kinh tế mà các chủ thê kết nối với nhau theo dạng móc xích tròn không có điểm khởi đầu, không có điểm kết thúc, nhằm biến sản phẩm của chu trình này thành nguyên liệu cho chính chu trình đó, hoặc cho chu trình khác. Xét đưới góc độ kinh tế học, khó có thé xác định hình thức sơ khai nhất của mô hình KTTH bắt nguồn từ thời điểm nào.
Thực tế cho thấy, trường phái tư tưởng ủng hộ khả năng chu chuyền của nguyên liệu và năng lượng đã xuất hiện từ những năm 60 của thé kỷ trước? và đã có khoảng 114 định nghĩa “kinh tế tuần hoàn” được công bố trên toàn thế giới". Tuy nhiên, các học giả quốc tế thống nhất cao rằng khái niệm KTTH được đặt ra bởi hai nhà kinh tế - sinh thái học David W. Kerry Turner; bằng cách phân tích sơ đồ về sự liên kết nội tại giữa kinh tế và môi trường, các tác giả đã tìm ra phương pháp cân băng vật liệu và đi đến nhận định rằng trong một vòng chu chuyền, “moi thứ déu là dau vào đối với thứ khác”Š. Về sau, khái niệm đã chịu ảnh hưởng của nhiều quan điểm, tư tưởng của các học giả khác nhau, đồng thời đã có sự mở rộng dé phù hợp với bối cảnh xã hội hiện nay.
Điển hình phải ké đến định nghĩa của Hội đồng Châu Au (EU): “kinh tế tuân hoàn là nên kinh té mà ở đó giá trị của sản phẩm, vật liệu ! https://www.com/definition/english/circular_1?q=circular, truy cập ngày 15/12/2021. ? Theo chiết tự từ, “tuần” (đã) nghĩa là tương tự, theo khuôn phép cũ, còn “hoàn” (3) nghĩa là vòng quanh, xung quanh. Tổng hợp lại, “tuần hoàn” nghĩa là lặp đi lặp lại thành vòng khép kín. Nguồn: Hàn Hau Giang (1997), Tir điển Hán - Việ:, NXB Thanh phố Hồ Chí Minh, Thanh phố Hồ Chí Minh, tr.
3 Trong bai viét The Economics of the Coming Spaceship Earth (1966) cua Kenneth Boulding, tac giả miêu tả Trái đất như một tau vũ tru khép kin, do han chế nguồn nguyên liệu nên loài người phải tai chế dé tồn tai. 4 Julian Kirchherr, Denise Reike, M. Hekkert (2017), Conceptualizing the Circular Economy: An Analysis of 114 Definitions, Resources, Conservation and Recycling 127, Elsevier B. Kerry Turner (1990), Economics of Natural Resources and the Environment, Hemel Hempstead: Harvester Wheatsheaf, p.
và tài nguyên được duy trì lâu nhất có thé và sự phát thai duoc giảm thiểu” ® và của Tô chức Ellen MacArthur Foundation: “kinh té tuân hoàn là một hệ thống có tính khôi phục và tái tạo thông qua các kế hoạch và thiết kế chủ động. Nó thay thé khái niệm “kết thúc vòng doi” của vật liệu bằng khái niệm khôi phục, chuyển dịch. Theo cách hiểu này, KTTH đã bồ sung thêm sự ưu tiên đối với việc kéo dai vòng đời sản phâm và khâu tiền sản xuất - chính là hoạt động lên kế hoạch và sử dụng thiết kế thân thiện với môi trường, bởi suy cho cùng Trái đất là một hệ thông khép kín, nơi tất cả vật chất và năng lượng chỉ là một sự trao đổi; chính vì thế, tài nguyên và dich vụ sinh thái đều chỉ có những giới han nhất định mà cho dù có sử dụng tiết kiệm đến đâu thi sẽ có một ngày nguồn dự trữ ấy cạn kiệt?. Cách mang công nghiệp 4.0 và nền kinh tế tri thức rộng mở đặt nền tảng cho chúng ta hướng tới các giá trị bền vững, tuần hoàn, duy trì lâu nhất giá trị của sản phẩm, đảm bảo khả năng tai sử dụng, tái chê cua sản phâm khi vòng đời của chúng kêt thúc.
Ở Việt Nam, các khía cạnh kinh tế của KTTH từng xuất hiện hơn 20 năm về trước với những tên gọi, biểu hiện khác nhau. Ở mức độ sơ khai nhất, đó là mô hình VAC (Vườn - Ao - Chuéng), RVAC (Rừng - Vườn - Ao - Chuông), hệ thong aquaponics (kết hợp giữa nuôi trồng thủy sản và thủy canh tạo thành vòng khép kín)?, các khu công nghiệp (KCN) sinh thái. Nội hàm của KTTH còn được thể hiện qua các chính sách BVMT của Đảng và Nhà nước như Kế hoạch quốc gia về Môi trường và PTBV giai đoạn 1991 - 2000 (1991), Định hướng phát triển về PTBV ở Việt Nam (2004). và được các cơ quan có liên quan triển khai nghiên cứu, áp dụng.
Có thé thay, những khía cạnh của KTTH đã từng được đề cập và triển khai ở Việt Nam nhưng chưa được gọi tên bằng thuật ngữ được sử dụng ngày nay. Trong vài năm trở lại, số lượng công trình nghiên cứu chuyên sâu về KTTH tại Việt Nam đã tăng lên đáng ké, và hầu hết các học giả đều đồng ý với quan niệm về KTTH của EU và Tổ chức Ellen MacArthur Foundation, rằng KTTH là sự thay đổi về triết lý phát triển, hướng tới phục hồi và tái tạo, từ đó giảm phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên và hạn chê rác thải!? Trên cơ sở phù hợp với thông lệ quốc tế, dựa trên mục tiêu và bản chất của KTTH tại Việt Nam, nhóm tác giả cho rằng “kinh tế tuần hoàn” cần được hiểu là “m6 hình kinh té được thiết kế sao cho các luồng nguyên vật liệu được vận hành trong những chu trình khép kin, nhằm giảm khai thác nguyên vật liệu, kéo dài tuổi thọ của sản phẩm, hạn chế 5 Vasileios Rizos, Katja Tuokko, Arno Behrens (2017), The Circular Economy: A review of definitions, processes and impacts, CEPS Research Reports, Circular Impacts project, European Union’s Horizon 2020 Research and Innovation Programme. Nguồn: https://ec.eu/eurostat/web/circular-economy, truy cập vào 17/12/2021. 7 Ellen MacArthur Foundation (2013), Towards the Circular Economy.
Economic and business rationale for an accelerated business, Ellen MacArthur Foundation publication, p. 8 “Why efficiency is not enough”. Nguồn: https://sustainableconsumption.org/concept/why-efficiency-is- not-enough, truy cap ngay 18/12/2021. ? Cây trồng giúp lọc sạch nguồn nước cho cá phát triển, còn chất thải của cá là nguồn.
thứcăn hữu cơ cho cây. 10 Nguyễn Hoàng Nam, Hoàng Thị Huê , Nguyễn Thi Bich Phương (2019), Kinh tế tuần hoàn và sự chuyển dịch tat yếu, Tạp chí Khoa học: Nghiên cứu Chính sách và Quan ly, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr. 8 phat thải và giảm tác động xau dén môi trường ”. * So sánh nên kinh tê tuyên tính và nên kinh tê tuần hoàn Ngày nay, chúng ta đang tồn tại và phát triển trong một nền kinh tế truyền thống (còn gọi là kinh tế tuyến tính - Linear Economy).
Tại đây, nguyên liệu thô được khai thác từ môi trường, được đưa vào quá trình sản xuất kinh doanh và kết thúc chu trình kinh tế là thải loại ra môi trường, dẫn đến gia tăng chất thải, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và gây ô nhiễm, suy thoái môi trường. Đứng trước vấn nạn này, thế giới và cộng đồng doanh nghiệp đang ngày càng chú ý nhiều hơn đến việc khuyến khích, hỗ trợ và xây dựng các mô hình kinh doanh theo hướng bền vững, điển hình là mô hình KTTH. Đề đánh giá tính đúng đắn, tất yếu của xu hướng chuyền dich sang mô hình KTTH, bài nghiên cứu sẽ xem xét sự khác biệt giữa mô hình kinh tế truyền thống và KTTH trên các phương diện sau: Thứ: nhát, về cach tạo ra gia tri của dòng nguyên liệu, logic của nên kinh tê tuyên tính là chỉ nguyên liệu thô mới đi vào giai đoạn đâu tiên của chuỗi giá tri, va coi rác thải là sản phâm cân được loại bỏ; còn KTTH tận dụng các sản phâm thải bỏ từ quy trình trước nhưng vẫn còn khả năng tái sử dụng dựa trên triết lý “chất thải là nguyên liệu thô mới 1 6 221] Thứ hai, về cách duy trì giá trị của đòng nguyên liệu, theo truyền thống, nền kinh tế vận hành qua các giai đoạn chế tạo (Make) - sử dụng (Use) - loại bỏ (Dispose). Theo đó, các nguyên liệu thô được thu gom, chế biến thành các sản phẩm, được sử dụng cho đến khi bị loại bỏ ra khỏi chuỗi giá trị.
Điều này nghĩa là thời gian một sản pham tồn tại trên thị trường là rất ngăn và phụ thuộc phần lớn vào thị hiếu của người tiêu dùng thay vi giá trị thực tế của sản phẩm. Ngược lại, KTTH tập trung bao tồn giá tri trên cơ sở tái sử dung (Reuse) - tiết giảm (Reduce) - tái chế (Recycle). Bằng cách thiết kế các sản phâm chú trọng vào độ bền, khả năng tháo rời và tái sử dụng, các nguyên liệu sẽ giữ được tối đa giá trị, vẫn có thể được đưa về dây chuyền sản xuất ban đầu và trở thành nguyên liệu đầu vào, khép kín một vòng tuần hoàn. Như vậy, cho đến khi sản phẩm thực sự hết giá trị, bắt buộc phải đem đi xử lý hoặc tiêu hủy thì lượng chất thải ra ngoài môi trường sẽ được giảm tối đa.no/om-bransjen, truy cập ngày 19/12/2021.
KINH TẾ TUYẾN TÍNH KINH TẾ TUẦN HOÀN Nguyên liệu Nguyên liệu Tài nguyên Thải bỏ và Thải bỏ và tiêu hủy tiêu hủy Hình 1. Mức độ tận dụng giá trị của sản phẩm trong nên kinh tế tuyến tính và KTTH? Thứ: ba, về giá trị cốt lõi, nền kinh tế tuyến tính tập trung vào “sản phẩm” va sự tối đa hóa lợi nhuận, vì vậy giá trị được tạo ra trong hệ thống kinh tế này băng cách sản xuất và bán càng nhiều sản phẩm càng tốt; còn KTTH tập trung vào “dịch vụ” và bảo tồn giá trị. Thông thường, người bán hàng có doanh thu từ việc bán được sản phẩm mới, không liên quan đến việc người tiêu dùng quyết định sử dụng và loại bỏ sản phẩm khi nào; ngược lại, với sự phát triển của ý thức môi trường trên toàn thế giới, mô hình tích hợp sản phẩm - dịch vụ (Product-As-A-Service System'3) ngày càng được ưa chuộng, trong đó người bán có được doanh thu từ địch vụ đi kèm với sản phẩm, chứ không phải từ sản pham ban dau!