Tổng quan về luận án

Nghiên cứu "Cơ chế pháp lý về sự tham gia của nhân dân trong hoạt động lập pháp ở Việt Nam" do Nghiên cứu sinh Mai Thị Thanh Tâm thực hiện tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, Mã số: 938 01 06; Dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Tào Thị Quyên và TS. Hoàng Minh Hội, bảo vệ năm 2022) là công trình khoa học tiên phong giải quyết khoảng trống lý luận và thực tiễn về quyền lực nhân dân trong quy trình lập pháp tại Việt Nam. Bối cảnh nghiên cứu xuất phát từ yêu cầu thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013: "Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân... Nhà nước phục vụ nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân".

Khoảng trống nghiên cứu (research gap) cốt lõi được xác định: Mặc dù quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân đã được hiến định tại Điều 28 Hiến pháp năm 2013 và cụ thể hóa trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015, Luật Trưng cầu ý dân năm 2015, nhưng nền tảng lý luận chuyên ngành về "Cơ chế pháp lý về sự tham gia của nhân dân trong hoạt động lập pháp" (CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP) vẫn chưa được xây dựng một cách hoàn chỉnh. Các công trình trước đây chỉ tiếp cận tản mạn ở góc độ quản lý công, chính sách công hoặc từng thiết chế riêng lẻ, thiếu một cấu trúc lý thuyết thống nhất kết nối giữa thể chế, thiết chế, quy trình vận hành và điều kiện bảo đảm.

Luận án xác lập 03 câu hỏi nghiên cứu (Research Questions) và 03 giả thuyết/luận điểm khoa học tương ứng:

  1. RQ1: Cơ sở lý luận của CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP bao gồm những yếu tố cấu thành, tiêu chí hoàn thiện và điều kiện bảo đảm nào?
    • Luận điểm 1: CCPL là một chỉnh thể động thống nhất giữa thể chế pháp lý và thiết chế bảo đảm, lấy việc bảo đảm quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân làm mục tiêu tối thượng.
  2. RQ2: Thực trạng vận hành CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP từ khi Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực đến nay đạt được những kết quả gì và tồn tại những điểm nghẽn thể chế nào?
    • Luận điểm 2: Mặc dù hình thức lấy ý kiến được mở rộng, hoạt động tham gia của nhân dân vẫn nặng tính hình thức do thiếu cơ chế pháp lý ràng buộc trách nhiệm giải trình và tiếp thu bắt buộc của cơ quan nhà nước.
  3. RQ3: Những quan điểm và giải pháp đột phá nào cần được triển khai để hoàn thiện CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP tại Việt Nam trong kỷ nguyên số hóa?
    • Luận điểm 3: Hoàn thiện CCPL đòi hỏi phải đổi mới đồng bộ từ quy trình lập pháp mở, luật hóa thủ tục phản hồi ý kiến, kích hoạt các thiết chế dân chủ trực tiếp (trưng cầu ý dân, sáng kiến công dân) đến hiện đại hóa công nghệ lập pháp (E-rulemaking).

Phạm vi nghiên cứu bao quát không gian chính trị - pháp lý Việt Nam từ năm 2013 đến năm 2022, có đối chiếu so sánh quốc tế với các mô hình lập pháp điển hình (Hoa Kỳ, Trung Quốc, Liên hiệp Vương quốc Anh, Nam Phi, Thụy Sĩ).


Literature Review và Positioning

Tổng quan tài liệu nghiên cứu trong nước và quốc tế chỉ ra ba dòng học thuật chính:

Dòng thứ nhất tập trung vào lý luận chung về cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực và giám sát nhà nước. Các công trình tiêu biểu của Nguyễn Minh Đoan (2014) về kiểm soát quyền lực nhà nước, Trương Thị Hồng Hà (2012) về cơ chế pháp lý đảm bảo chức năng giám sát của Quốc hội, Nguyễn Mạnh Bình (2017) về giám sát xã hội, và Hoàng Minh Hội (2018) về giám sát của nhân dân qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã đặt nền móng tiếp cận CCPL như một hệ thống gồm: thể chế, thiết chế, phương pháp - trình tự và hậu quả pháp lý. Tuy nhiên, các công trình này chủ yếu nhìn nhận quyền lực nhà nước ở trạng thái kiểm soát sau (hậu kiểm), chưa đi sâu vào cơ chế nhân dân trực tiếp đồng kiến tạo chính sách trong giai đoạn xây dựng luật.

Dòng thứ hai nghiên cứu về hoạt động lập pháp và sự tham gia của các tổ chức xã hội, tiêu biểu như công trình của Lê Hồng Hạnh (2018) thuộc Đề tài cấp Nhà nước KX.02.04/16-20, Phan Trung Lý và Đặng Xuân Phương (2016) về dân chủ trực tiếp, Trần Quốc Bình (2018) về vai trò của Chính phủ trong quy trình lập pháp, Vũ Hồng Anh (2017) về phản biện xã hội, và Đỗ Thị Hương Huế (2019) dưới góc độ quản lý công. Điểm chung của các tác giả là thừa nhận nhận định của Lê Hồng Hạnh: "quá trình dân chủ hóa trong HĐLP ở khía cạnh thu hút sự tham gia của nhân dân vẫn còn khá hình thức". Mặc dù vậy, các nghiên cứu chưa làm rõ trách nhiệm pháp lý bắt buộc (legal liability) của cơ quan soạn thảo khi bỏ qua ý kiến công chúng.

Dòng thứ ba là các nghiên cứu quốc tế về dân chủ tham gia và thang đo sự tham gia của công chúng:

  • Sherry Arnstein (1969) với tác phẩm kinh điển "A Ladder of Citizen Participation" phân chia 8 bậc thang tham gia từ thao túng (manipulation) đến người dân kiểm soát (citizen control).
  • Khung phân tích 3 cấp độ của OECD (2001) trong "Citizens as Partners": Thông tin (Information) -> Tham vấn (Consultation) -> Chủ động tham gia (Active participation).
  • Khung hướng dẫn của Hiệp hội Quốc tế về Sự tham gia của Công chúng (IAP2, 2007) với 5 mức độ: Inform, Consult, Involve, Collaborate, Empower.
  • Phán quyết bước ngoặt của Tòa án Hiến pháp Nam Phi trong vụ kiện Doctors for Life International v The Speaker of the National Assembly and Others (2006) được Karen Syma Czapanskiy & Rashida Manjoo (2008) phân tích, khẳng định nghĩa vụ hiến định của cơ quan lập pháp trong việc tạo điều kiện thuận lợi và chủ động lôi cuốn công chúng tham gia, nếu vi phạm sẽ dẫn đến hệ quả đạo luật bị tuyên bố vô hiệu.

Luận án định vị nghiên cứu tại điểm giao thoa giữa Lý luận Nhà nước và Pháp luật XHCN với các chuẩn mực quốc tế về lập pháp có sự tham gia (participatory law-making). Công trình khắc phục xung đột giữa quan điểm "lập pháp là đặc quyền thuần túy của nghị viện" và quan điểm "dân chủ trực tiếp tuyệt đối", xác lập mô hình lập pháp kết hợp hài hòa giữa dân chủ đại diện và dân chủ tham gia.


Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án mở rộng học thuyết Nhà nước và Pháp luật XHCN về quyền lực nhân dân và cơ chế điều chỉnh pháp luật thông qua ba đóng góp lý thuyết trọng yếu:

  1. Xác lập cấu trúc bản chất của CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP: Định nghĩa CCPL là một chỉnh thể thống nhất gồm hai cấu phần hữu cơ: Thể chế pháp lý (hệ thống quy phạm quy định quyền, nghĩa vụ, trình tự, thủ tục và trách nhiệm giải trình) và Thiết chế bảo đảm (Quốc hội, Chính phủ, MTTQVN, các tổ chức xã hội và cơ quan báo chí). Mối quan hệ giữa hai cấu phần này vận hành theo nguyên tắc: Nhân dân là chủ thể gốc của quyền lực ủy quyền cho Nhà nước, đồng thời giữ quyền giám sát và tham gia trực tiếp vào quy trình làm luật để kiểm soát sự tha hóa quyền lực.
  2. Phát triển lý luận về các cấp độ tham gia lập pháp tại Việt Nam: Tích hợp lý thuyết thang bậc tham gia của Sherry Arnstein và OECD vào thể chế chính trị Việt Nam, luận án phân định 4 cấp độ tham gia cụ thể:
    • Cấp độ 1 - Minh bạch thông tin: Nhà nước công khai hóa toàn bộ dự thảo, hồ sơ đánh giá tác động chính sách (RIA).
    • Cấp độ 2 - Tham vấn xã hội: Lấy ý kiến rộng rãi, tổ chức hội thảo, điều trần công khai.
    • Cấp độ 3 - Phản biện xã hội: Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội phản biện độc lập các chính sách có tác động lớn.
    • Cấp độ 4 - Quyết định trực tiếp: Nhân dân thực hiện quyền phúc quyết thông qua Trưng cầu ý dân và đề xuất Sáng kiến lập pháp của công dân.
  3. Luận giải mối quan hệ biện chứng giữa tính dân chủ và chất lượng kỹ thuật lập pháp: Chứng minh rằng sự tham gia của nhân dân không làm chậm trễ quy trình lập pháp mà là phương thức tối ưu hóa nguồn lực trí tuệ xã hội, cung cấp thông tin kiểm chứng thực tế, giảm thiểu chi phí tuân thủ pháp luật và loại bỏ nguy cơ "cài cắm lợi ích nhóm" trong văn bản luật.

Khung phân tích độc đáo

Luận án xây dựng khung phân tích đa chiều tích hợp ba nền tảng: Chủ nghĩa duy vật lịch sử (Marx - Lenin), Tư tưởng Hồ Chí Minh về "dân là gốc", và Lý thuyết Dân chủ tham gia hiện đại (Pierre Rosanvallon, 2008): "Dân chủ tham gia là phù hợp với nhu cầu xã hội. Người dân ngày càng không chỉ hài lòng với việc bỏ phiếu và giao phó mọi việc cho người đại diện của họ. Họ muốn được nhìn thấy tiếng nói của mình, lợi ích của mình được cân nhắc thế nào trong các chính sách".

+-----------------------------------------------------------------------------+
|                             NỀN TẢNG LÝ THUYẾT                              |
|  - Chủ nghĩa Mác - Lênin & Tư tưởng Hồ Chí Minh (Quyền lực thuộc về nhân dân)|
|  - Lý thuyết Dân chủ tham gia & Dân chủ trực tiếp (Rosanvallon, Habermas)   |
|  - Thang bậc tham gia công dân (Arnstein 1969, OECD 2001, IAP2 2007)        |
+--------------------------------------+--------------------------------------+
                                       |
                                       v
+-----------------------------------------------------------------------------+
|        CƠ CHẾ PHÁP LÝ VỀ SỰ THAM GIA CỦA NHÂN DÂN TRONG HĐLP                |
|                                                                             |
|  +--------------------------------+   +----------------------------------+  |
|  |       THỂ CHẾ PHÁP LÝ          |   |        THIẾT CHẾ BẢO ĐẢM         |  |
|  | - Quyền & nghĩa vụ nhân dân    |   | - Quốc hội, UBTVQH, ĐBQH         |  |
|  | - Quy trình, thủ tục tham gia  |<->| - Chính phủ & cơ quan soạn thảo  |  |
|  | - Trách nhiệm giải trình CQNN  |   | - MTTQVN & các tổ chức XH (VCCI) |  |
|  | - Chế tài & hậu quả pháp lý    |   | - Cơ quan báo chí, truyền thông  |  |
|  +--------------------------------+   +----------------------------------+  |
|                                  |     |                                    |
+----------------------------------|-----|------------------------------------+
                                   |     |
                                   v     v
+-----------------------------------------------------------------------------+
|                         BỘ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ KÉP                            |
|  - Trạng thái TĨNH: Tính toàn diện, đồng bộ, phù hợp, khả thi của thể chế   |
|  - Trạng thái ĐỘNG: Hiệu lực thực thi & Hiệu quả tác động thực tế (Impact)  |
+-----------------------------------------------------------------------------+

Khung tiêu chí đánh giá hoàn thiện CCPL được xác lập trên hai trạng thái:

  • Trạng thái tĩnh: Đánh giá mức độ đồng bộ, minh bạch, khả thi của hệ thống quy phạm pháp luật và tính hợp lý trong phân công thẩm quyền của các thiết chế.
  • Trạng thái động: Đánh giá thông qua mức độ hiệu lực (tỷ lệ quy định được thi hành trên thực tế) và mức độ hiệu quả (tỷ lệ ý kiến đóng góp được phản hồi, tiếp thu vào văn bản luật chính thức).

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Luận án áp dụng thế giới quan và phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân tích các quan hệ pháp luật trong sự vận động kinh tế - xã hội cụ thể của thời kỳ đổi mới. Thiết kế nghiên cứu mang tính đa tầng (multi-level design), kết hợp giữa tiếp cận chuẩn tắc (normative legal research) và tiếp cận thực chứng (empirical legal analysis).

Phạm vi cấp độ phân tích:

  • Cấp độ vĩ mô: Chuẩn mực hiến định và văn kiện Đại hội Đảng về Nhà nước pháp quyền.
  • Cấp độ trung mô: Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi 2020), Luật Trưng cầu ý dân 2015, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 2015.
  • Cấp độ vi mô: Quy trình soạn thảo cụ thể của các dự án luật trọng điểm tại Quốc hội khóa XIV (2016-2021) và khóa XV.

Quy trình nghiên cứu rigorous

Quy trình nghiên cứu tuân thủ chặt chẽ tính khoa học thông qua việc phối hợp đa dạng các phương pháp chuyên ngành:

  • Phương pháp luật học so sánh (Comparative Law): Khảo sát mô hình tham vấn công chúng và sáng kiến lập pháp tại Hoa Kỳ (Public Hearings), Liên hiệp Vương quốc Anh, Trung Quốc (Điểm liên lạc lập pháp cơ sở), Thụy Sĩ (Trưng cầu ý dân bắt buộc) và án lệ Nam Phi để chắt lọc bài học kinh nghiệm thích ứng cho Việt Nam.
  • Phương pháp thống kê và phân tích tài liệu thực chứng: Thu thập, định lượng hóa dữ liệu về các đợt lấy ý kiến nhân dân được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ, Cổng thông tin điện tử Quốc hội, các báo cáo tổng kết nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIV, và báo cáo điều tra xã hội học của Viện Nghiên cứu lập pháp, VCCI và Quỹ Châu Á.
  • Tam giác hóa dữ liệu (Data Triangulation): Kiểm chứng chéo giữa văn bản pháp luật thực định, số liệu thống kê hành chính của các bộ ngành và đánh giá độc lập từ các hiệp hội doanh nghiệp, chuyên gia phản biện xã hội.

Data và phân tích

Dữ liệu phân tích tập trung vào các sự kiện lập pháp điển hình giai đoạn 2013-2022:

  • Điển hình lấy ý kiến quy mô toàn dân: Dự thảo Bộ luật Dân sự năm 2015 (thu hút hơn 21,5 triệu lượt ý kiến đóng góp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân), Dự thảo Hiến pháp năm 2013 (hơn 26 triệu lượt ý kiến), và các dự thảo Luật Đất đai.
  • Dữ liệu tham vấn qua Cổng thông tin điện tử: Phân tích tần suất và số lượng phản hồi đối với các dự án luật do các Bộ chủ trì soạn thảo từ năm 2016 đến năm 2021. Kết quả chỉ ra sự phân hóa sâu sắc: trong khi một số dự luật thu hút hàng nghìn ý kiến đóng góp chuyên sâu từ các hiệp hội (như VCCI, Hội Luật gia), thì phần lớn các dự án luật đăng tải trên cổng thông tin chỉ nhận được số lượng bình luận rất khiêm tốn từ người dân cá nhân.
  • Phân tích nguyên nhân: Do định dạng văn bản đăng tải mang tính kỹ thuật lập pháp phức tạp, thiếu bản tóm tắt chính sách đại chúng (policy briefs), thời hạn đăng tải 60 ngày thường rơi vào tình trạng thụ động, thiếu cơ chế quảng bá tích cực.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

  1. Sự bất cân xứng trong cấu trúc thể chế: Pháp luật hiện hành quy định rất rõ quyền tham gia đóng góp ý kiến của người dân (Điều 28 Hiến pháp 2013, Điều 6 Luật Ban hành VBQPPL 2015), nhưng lại thiếu vắng quy định về nghĩa vụ pháp lý bắt buộc (mandatory statutory obligation) và chế tài đối với cơ quan chủ trì soạn thảo trong việc tiếp thu, giải trình công khai lý do chấp nhận hoặc bác bỏ từng nhóm ý kiến của nhân dân.
  2. Thực trạng "điểm nghẽn" của các hình thức dân chủ trực tiếp: Sau hơn 7 năm Luật Trưng cầu ý dân năm 2015 có hiệu lực, Việt Nam chưa tổ chức bất kỳ một cuộc trưng cầu ý dân nào trên thực tế. Quyền sáng kiến lập pháp của công dân chưa được thể chế hóa thành quy trình cụ thể; nhân dân chủ yếu tham gia ở hình thức bị động khi Nhà nước tổ chức lấy ý kiến.
  3. Phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc còn mờ nhạt: Mặc dù Quyết định 217-QĐ/TW và Luật MTTQVN 2015 đã tạo hành lang pháp lý, hoạt động phản biện xã hội đối với các dự án luật còn mang tính hình thức, thời gian nhận hồ sơ thẩm định/thẩm tra quá ngắn khiến các ý kiến phản biện chưa được đào sâu và chưa có cơ chế đối thoại trực tiếp tại nghị trường.
  4. Hiện tượng "Bẫy tham vấn hình thức" (Tokenism Trap): Nhiều đợt lấy ý kiến diễn ra dàn trải, nặng về số lượng báo cáo cơ học hơn là chất lượng chiều sâu. Đối tượng được lấy ý kiến thực tế vẫn co cụm ở các cơ quan nhà nước, viện nghiên cứu, chuyên gia đầu ngành, trong khi các nhóm đối tượng chịu tác động trực tiếp (vulnerable groups, nông dân, lao động tự do) ít có cơ hội tiếp cận kênh phản hồi.

Implications đa chiều

  • Về mặt lý luận: Xác lập cơ sở khoa học để khẳng định: Tham gia lập pháp không đơn thuần là hoạt động dân chủ hình thức mà là điều kiện tiên quyết bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính xã hội của văn bản luật. Lênin từng nhấn mạnh việc lôi cuốn quần chúng tham gia quản lý nhà nước là "phương pháp tuyệt diệu để tăng ngay một lúc bộ máy nhà nước của chúng ta lên gấp mười lần", và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Việc gì cũng phải học hỏi và bàn bạc với dân chúng, giải thích cho dân chúng. Tin vào dân chúng. Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết".
  • Về mặt thể chế và chính sách:
    • Sửa đổi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo hướng: Bắt buộc đính kèm Báo cáo tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến nhân dân trong hồ sơ dự án luật trình Quốc hội; nếu không có báo cáo giải trình chi tiết, Ủy ban Thường vụ Quốc hội có quyền từ chối đưa dự án luật vào chương trình nghị sự.
    • Luật hóa quy trình điều trần công khai (Public Hearings) tại các Ủy ban chuyên môn của Quốc hội đối với các dự luật nhạy cảm, có tác động kinh tế - xã hội sâu rộng.
    • Xây dựng Nghị định hướng dẫn thi hành chi tiết Luật Trưng cầu ý dân năm 2015, từng bước nghiên cứu cơ chế thí điểm "Sáng kiến lập pháp của công dân" (Citizens' legislative initiatives) khi thu thập đủ số lượng chữ ký hợp lệ theo luật định.
  • Về mặt công nghệ và phương thức thực thi: Xây dựng Cổng lập pháp điện tử quốc gia tích hợp nền tảng số tương tác hai chiều, ứng dụng Trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ xử lý ngôn ngữ tự nhiên (NLP) để tự động tổng hợp, phân loại hàng triệu ý kiến đóng góp của người dân theo từng điều khoản dự thảo.

Limitations và Future Research

  • Giới hạn nghiên cứu (Limitations): Luận án tập trung chủ yếu vào quy trình lập pháp ở cấp độ luật do Quốc hội ban hành, chưa đi sâu vào quy trình ban hành các văn bản dưới luật (Nghị định, Thông tư) hoặc nghị quyết quy phạm của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh. Nguồn dữ liệu thống kê phụ thuộc vào báo cáo công khai của các cơ quan nhà nước do quy chế tiếp cận hồ sơ lập pháp nội bộ còn có những hạn chế nhất định.
  • Định hướng nghiên cứu tương lai (Future Research Agenda):
    1. Xây dựng Bộ chỉ số Đo lường Mức độ tham gia Lập pháp của Công chúng (Public Legislative Participation Index - PLPI) áp dụng cho các cơ quan soạn thảo tại Việt Nam.
    2. Nghiên cứu cơ chế kiểm soát và minh bạch hóa hoạt động vận động chính sách (Lobbying/Policy Advocacy) hợp pháp của các hiệp hội doanh nghiệp và tổ chức xã hội trong quy trình lập pháp.
    3. Đánh giá tác động của Chuyển đổi số và Dân chủ số (E-democracy) đối với hành vi chính trị - pháp lý của công dân trong việc tham gia hoạch định chính sách công.

Tác động và ảnh hưởng

  • Ảnh hưởng học thuật: Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo chuyên khảo có giá trị lý luận cao cho các viện nghiên cứu, trường đại học đào tạo chuyên ngành Luật học, Lý luận Nhà nước và Pháp luật, Quản trị công tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.
  • Đóng góp xây dựng chính sách: Cung cấp luận cứ khoa học trực tiếp phục vụ triển khai Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII về "Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới".
  • Tác động xã hội: Thúc đẩy năng lực thực thi quyền làm chủ của nhân dân, tạo tiền đề nâng cao chất lượng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), Hội Luật gia Việt Nam, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào hệ thống pháp luật và Nhà nước.

Đối tượng hưởng lợi

  • Cơ quan quyền lực nhà nước (Quốc hội, các Ủy ban của Quốc hội, ĐBQH): Nắm bắt khung tiêu chí đánh giá chất lượng tham vấn công chúng để thẩm tra các dự án luật một cách thực chất.
  • Cơ quan hành chính nhà nước (Chính phủ, các Bộ, ngành chủ trì soạn thảo): Áp dụng quy trình chuẩn hóa về lấy ý kiến, kỹ năng truyền thông chính sách và phương pháp giải trình phản hồi ý kiến nhân dân.
  • Tổ chức chính trị - xã hội và Hiệp hội nghề nghiệp (MTTQVN, VCCI, các hội luật gia): Có cơ sở lý luận và phương pháp luận vững chắc để nâng cao hiệu quả các chương trình phản biện xã hội.
  • Giới nghiên cứu học thuật và nghiên cứu sinh: Khai thác hệ thống khái niệm, mô hình phân tích và dữ liệu thực chứng để tiếp tục phát triển các đề tài chuyên sâu về luật học và khoa học chính trị.

Câu hỏi chuyên sâu

  1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì? Trả lời: Luận án đã xây dựng hoàn chỉnh khái niệm và cấu trúc CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP dưới góc độ chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, chuyển hóa nguyên tắc trừu tượng "quyền lực thuộc về nhân dân" thành cơ chế vận hành cụ thể với 4 cấp độ tham gia, gắn kết quyền tham gia với trách nhiệm giải trình bắt buộc của nhà nước.
  2. Điểm đổi mới phương pháp luận so với các nghiên cứu trước đây? Trả lời: So với các nghiên cứu tiếp cận đơn ngành của Đỗ Thị Hương Huế (2019 - Quản trị công) hay Trần Hồng Nguyên (2009 - Luật hiến pháp), luận án phối hợp phương pháp luận duy vật biện chứng với luật học so sánh quốc tế (đối chiếu án lệ Nam Phi, kinh nghiệm OECD, Hoa Kỳ, Trung Quốc) và thiết lập khung tiêu chí kép đánh giá CCPL ở cả hai trạng thái tĩnh và động.
  3. Phát hiện thực chứng gây bất ngờ nhất từ dữ liệu nghiên cứu? Trả lời: Sự tương phản sâu sắc giữa quy mô tham gia thụ động (hơn 21,5 triệu lượt ý kiến trong Bộ luật Dân sự 2015) với việc "đóng băng" hoàn toàn các cơ chế tham gia chủ động bậc cao (0 cuộc trưng cầu ý dân, 0 sáng kiến lập pháp của công dân được kích hoạt theo quy trình độc lập), phản ánh thể chế hiện hành vẫn vận hành theo quán tính hành chính khép kín.
  4. Luận án có cung cấp quy trình/giao thức chuẩn để tái lập nghiên cứu không? Trả lời: Có. Bộ tiêu chí đánh giá CCPL (gồm 4 tiêu chí thể chế: tính toàn diện, tính đồng bộ, tính phù hợp, tính khả thi; và 2 tiêu chí vận hành: mức độ hiệu lực, mức độ hiệu quả) cùng quy trình phân tích nội dung hồ sơ dự án luật hoàn toàn có thể áp dụng cho mọi nghiên cứu đánh giá quy trình lập pháp tại các quốc gia đang chuyển đổi.
  5. Chương trình nghiên cứu 10 năm tiếp theo được định hình như thế nào? Trả lời: Trọng tâm 10 năm tới là chuyển đổi mô hình lập pháp truyền thống sang "Lập pháp thông minh / Lập pháp số" (Digital Legislative Ecosystem), nghiên cứu hoàn thiện khung pháp lý về quyền tiếp cận thông tin lập pháp tự động và cơ chế giải trình bắt buộc trên nền tảng dữ liệu lớn (Big Data).

Kết luận

Luận án "Cơ chế pháp lý về sự tham gia của nhân dân trong hoạt động lập pháp ở Việt Nam" của tác giả Mai Thị Thanh Tâm là công trình khoa học toàn diện, công phu, tạo ra bước đột phá lý luận và thực tiễn với các kết quả cốt lõi:

  1. Xây dựng hệ thống lý luận hoàn chỉnh, định nghĩa chuẩn xác khái niệm, đặc điểm, vai trò, cấu trúc 2 bộ phận (thể chế và thiết chế) và bộ tiêu chí đánh giá kép đối với CCPL về sự tham gia của nhân dân trong HĐLP.
  2. Tích hợp nhuần nhuyễn các lý thuyết dân chủ tham gia hiện đại (Arnstein, OECD, IAP2, Rosanvallon) vào việc hiện thực hóa nguyên tắc hiến định quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân tại Việt Nam.
  3. Đánh giá khách quan, đa chiều thực trạng lập pháp giai đoạn 2013-2022, bóc tách chính xác các "điểm nghẽn" thể chế, hiện tượng tham vấn hình thức và sự thiếu vắng chế tài đối với nghĩa vụ giải trình của cơ quan soạn thảo.
  4. Tổng kết sâu sắc kinh nghiệm lập pháp có sự tham gia của các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là bài học về nghĩa vụ hiến định của nghị viện từ án lệ Tòa án Hiến pháp Nam Phi.
  5. Đề xuất hệ thống quan điểm mang tính chỉ đạo và 6 nhóm giải pháp đồng bộ, có tính khả thi cao nhằm sửa đổi Luật Ban hành VBQPPL, kích hoạt Luật Trưng cầu ý dân và xây dựng nền tảng E-rulemaking hiện đại.
  6. Mở ra các hướng nghiên cứu học thuật mới về Dân chủ số, Chỉ số tham gia lập pháp và kiểm soát quyền lực nhà nước trong quá trình hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.