Chương I: Lý luận về cơ chế kiểm soát quyền lực Nhà nước và vị trí, vai trò của Hiến pháp đối với việc kiểm soát quyền lực Nhà nước. Chương 2: Hiễn pháp năm 1946 và những giá trị của cơ chế kiểm soát quyền lực Nhà nước trong Hiến pháp năm 1946. Chuong 1 LY LUAN VE CO CHE KIEM SOAT NHA NUOC VA VI TRI, VAI TRO CUA HIEN PHAP DOI VOI KIEM SOAT QUYEN LUC NHA NUOC 1. Khái niệm cơ chế kiểm soát quyền lực Nhà nước 1.
Khái quát về quyền lực Nhà nước 1. Quyén lực Nhà nước Quyén luc (power), theo Tir dién Oxford, là “khả năng hoặc năng lực làm một việc nhất định hoặc hành động theo một cách thức nhất định”, hoặc là “năng lực hay khả năng điều khiển hay tác động đến thái độ của người khác hoặc đến diễn biến của một sự việc” [33, tr. Quyền lực Nhà nước “la quyên lực dựa trên sức mạnh của bộ máy nhà nước; là khả năng sử dụng nhà nước để thực hiện ý chí của giai cấp thống trị (hoặc của nhân dân) buộc xã hội phải phục tùngý chí đó ” [19]. Quyền lực Nhà nước là một bộ phận chủ yếu, cơ bản và cốt lõi của quyền lực chính trị.
QLNN tổn tại trong mối quan hệ giữa các tô chức cá nhân, tổ chức trong xã hội với Nhà nước và phục tùng Nhà nước. Theo một cách hiểu khác thì quyền lực Nhà nước là quyền lực chính trị và của giai cấp thống trị được thực hiện bằng Nhà nước, hoặc “quyên lực nhà nước là khả năng sử dụng nhà nước để thực hiện ý chí của giai cấp thống trị (của nhân dân) buộc xã hội phải phục tùng ý chí đó. QLNN là quyên lực chính trị được thực hiện bằng nhà nước” [1]. QLUNN là một dạng quyền lực đặc biệt của quyền lực chính trị.
Sở dĩ là quyền lực đặc biệt là bởi vì đó là quyền lực nhân danh cộng đồng thực hiện một cách công khai trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. QLNN được đảm bảo băng sức mạnh cưỡng chế nhằm bắt buộc các chủ thể khác phải phục tùng quyền lực này, và biện pháp cưỡng chế băng nhân danh Nhà nước và được thực hiện bởi bằng cơ quan Nhà nước. Ngay từ thời cô đại, các nhà tư tưởng về chính trị - triết học đã cho rằng quyên lực Nhà nước là cái vôn có trong xã hội. Nguôn gôc của quyên lực Nhà nước được các nhà triết học giải thích theo nhiều cách khác nhau qua các thời kỳ khác nhau nhưng vẫn có sự kế thừa và phát triển từ các ý niệm qua các học thuyết và các tác phẩm về quyền lực Nhà nước.
Trong thời kỳ phong kiến, QLNN có thể được giải thích và hiểu là do hiện tượng siêu nhiên, là ý niệm tuyệt đối, hoặc là sản phẩm của Thượng đế, Chúa trời, hoặc do các hiện tượng trong xã hội. Quan niệm của Aristotle thì quyền lực Nhà nước là sự hình thành một cách tự nhiên do con người sống trong xã hội tạo nên, do vậy trong xã hội tất yêu sẽ tồn tại một trật tự tự nhiên là có một số người ra lệnh và một số người phải phục tùng. Đến thời kỳ khai sáng (thời kỳ cận đại) cùng với đòi hỏi của con người về sự tự do, dân chủ, giai cấp tư sản đã chống lại sự chuyên quyền độc đoán của Nhà nước phong kiến, đòi hỏi và tìm kiếm sự bình đẳng trong việc tham gia và nắm giữ quyền lực Nhà nước. Mục đích của quyền lực Nhà nước là giữ gìn các quyền tự nhiên và không thê tước bỏ của con người.
Chính quyền Nhà nước phải được thành lập gồm những người lấy quyền lực chính đáng của mình từ sự nhất trí của nhân dân. Điều quan trọng là nhân dân lại trao cho mình quyền có thể thay thế Nhà nước nếu như nó không thực hiện khế ước đã ký. Tư tường về quyền lực Nhà nước trong thời kỳ này bắt đầu khởi nguồn từ một nhà triết học người Anh, John Locke là người theo trường phái chủ nghĩa kinh nghiệm Anh trong lĩnh vực nhận thức luận, trong tác phẩm “Hai khảo luận vẻ chính quyên” của John Locke chính là nền tảng về nguồn gốc của quyền lực Nhà nước trong thời kỳ này, đó cũng mang tính bước ngoặt của cách mạng tư sản ở châu Âu, những luận điểm của ông sau này được các nhà tư tưởng sau này kế thừa và phát triển trong thời kỳ khai sáng như; Voltaire, Montesquieu, J. Kế thừa những tư tưởng từ học thuyết của John Lock, một nhà khai sáng vĩ đại Montesquieu người Pháp đã giải thích quyền lực trong mỗi một quốc gia đều có 3 quyền: Trong mỗi quốc gia đều có ba thứ quyền lực: quyền lập pháp, quyền thi hành những điều hợp với quốc tế công pháp và quyền thi hành những điều trong luật dân sự.
Với quyền thứ nhất, Nhà vua hay pháp quan làm ra các thứ luật cho một thời gian hay vĩnh viễn, và sửa đổi hay hủy bỏ luật này. Với quyền thứ hai, Nhà vua quyết định hòa hay đình chiến, gửi đại sứ các nước, thiết lập an ninh, đề phòng xâm lược. Với quyền thứ ba, Nhà vua hay pháp quan trừng trị tội phạm, phân xử tranh chấp giữa các cá nhân. Người ta sẽ gọi đây là quyền tư pháp, vì trên kia là quyền hành pháp quốc gia [25, tr.
Theo quan điểm về triết học của chủ nghĩa Mác — Lê nin, QLNN vừa có bản chất giai cấp vừa có bản chất xã hội. Bản chất về giai cấp thể hiện là quyền lực chính trị của giai cấp, hoặc liên minh giai cấp chiếm địa vị thống trị về kinh tế trong xã hội, là công cụ bạo lực có tô chức của một giai cấp này dé tran áp một giai cấp khác. Về bản chất xã hội là do QLNN là một dạng quyền lực công của toàn xã hội và được lập nên để thực thi những chức năng công này trong việc duy trì lợi ích chung của xã hội. Bởi vậy, QLNN có thể coi là quyền lực do nhân dân ủy quyên, không phải “uyên tự nhiên ”, được thiết lập và duy trì bằng pháp luật.
Trong Nhà nước hiện đại sau này, về cơ bản thì QLNN được xây dựng và tổ chức thực hiện bằng 3 quyền năng cụ thể gồm; Quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Quyên lập pháp Thuật ngữ quyển lập pháp trong quan niệm của các nhà khoa học trên thế giới đã xuất hiện từ rất sớm. Đó là “cơ quan quyển lực lập pháp là nơi có quyền định hướng việc sử dụng sức mạnh của công quốc như thế nào cho sự bảo toàn cộng đồng và thành viên của nó” [17, tr. Cùng với sự phát triển của xã hội, ngày nay các nhà khoa học pháp lý cũng có các quan điểm khác nhau về quyền lập pháp, theo Giáo sư Nguyễn Đăng Dung — Khoa Luật ĐHQGHN thì: “Quyển lập pháp thủa ban đầu được dùng để chỉ các hành vi thảo luận và ban hành các văn bản chứa đựng quy phạm pháp luật, quyền này còn được gọi là quyền làm luật (ra luật), nhưng sau đó theo thời gian quyền làm luật được mở rộng sang các lĩnh vực khác như: giám sát, thành lập Chính phủ - hành pháp, bỏ phiếu tín nhiệm hành pháp, thậm chí còn là xét xử cả quan chức cao cấp.
Tất cả những hảnh vi nói trên đều được hiểu trong phạm vi của quyền lập pháp, quyền của cơ quan được thành lập từ sự ủy thác của cử tri ” [3, tr. Cũng với quan điểm ở cách tiếp cận khác, Giáo sư Trần Ngọc Đường thi cho rang: “guyén lập pháp là quyền đại diện cho Nhân dân thể hiện ý chí chung của quốc gia. Những người được nhân dân trao cho quyền này là những người do phố thông đầu phiếu bầu ra hợp thành cơ quan gọi là Quốc hội ” [41]. Quyên lập pháp là quyền được đại hiện cho ý chí của mọi tầng lớp Nhân dân thông qua việc biểu quyết hay đại diện bằng một đạo luật, một quy định của chính sách quốc gia đó, cùng với việc giám sát việc thi hành chính sách của quốc gia.
Trong thực tế, bản chất của quyén lập pháp là mang tính đại diện cho ý chí chung của tập thể trong việc biểu quyết thông qua luật chứ không thống nhất với quyền xây dựng và làm luật. Hiến pháp của các quốc gia trên thế giới đều trao quyền này cho Quốc hội hoặc Nghị viện, vì thế mà cơ quan này được gọi là cơ quan lập pháp hay cơ quan thực hiện quyền lập pháp. Quyên hành pháp: Cũng như quyền lập pháp, quyền hành pháp là thuật ngữ được hình thành từ rất sớm của các nhà khoa học trên thế giới. Trong cuốn; “Tỉnh thân pháp luật” Montesquieu cho rằng quyền hành pháp là quyền mà; “quyết định việc hòa hay chiến, gửi đại sứ đi các nước, thiết lập an ninh và đề phòng xâm lược” [25, tr.
Cơ quan hành pháp phải được thành lập bởi cơ quan lập pháp và cơ chế hoạt động dựa trên nguyên tắc dân chủ, mọi người dân đều có thể tham gia vào việc quản lý Nhà nước thông qua quyền của mình bằng cơ quan lập pháp. Jacques Rousseau: “ý chí riêng thường tác động ngược lại ý chí chung, cho nên Chính phủ cũng thường hay có ý hướng làm trái với quyên lực tối cao của dân chúng ” và những người nắm quyền lực chính trị “phải làm đúng theo pháp luật, chỉ cho pháp làm những điều mà pháp luật cho pháp ” [16, tr. Theo từ điển luật học, “quyên quản lý hành chính nhà nước Z2 về mọi lĩnh vực đời sống xã hội như chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. trên phạm vi toàn lãnh thổ quốc gia" [2, tr.651] Cũng theo GS.TS Nguyễn Đăng Dung ông cho rằng quyển hành pháp chính là “quyên hoạch định và điều hành chính sách quốc gia” [40].
Quyển hành pháp, theo Giáo sư Phạm Hồng Thái — Khoa Luật DHQGHN thi: Quyền điều hành đất nước là nhánh quyền lực hình thành sớm hơn so với các nhánh quyền lực khác, nó gắn liền với lịch sử nhà nước. Do vậy, trên thực tế quyền hành pháp luôn nổi lên là trung tâm của quyền lực nhà nước. Thực tiễn đã chứng minh rằng: hành pháp mạnh biết quản lý, biết dẫn dắt các quá trình xã hội phát triển phù hợp với các quy luật của tự nhiên và xã hội tất yêu dẫn đất nước tới sự phát triển, phồn vinh, còn khi hành pháp yêu không có khả năng quản lý tất yếu dẫn đất nước tới những cuộc khủng hoảng về chính trị - kinh tế - xã hội [42].