Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ GIÁM SÁT HIẾN PHÁP 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của cơ chế giám sát Hiến pháp 1. Khái niệm cơ chế giám sát Hiến pháp Trong Từ điển tiếng Việt, “giám sát” được hiểu là “sự theo dõi, xem xét làm đúng hoặc làm sai những điều đã quy định” hoặc được hiểu là “theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không”.[30] Theo Từ điển Luật học: Giám sát là sự theo dõi, quan sát hoạt động mang tính chủ động thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng dẫn hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát đi đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã được xác định từ trước, đảm bảo cho pháp luật được tuân theo nghiêm chỉnh.174] Tuy cách diễn đạt và biểu hiện ý nghĩa của từ “giám sát” có khác nhau nhưng chúng đều có một số đặc điểm sau đây: Giám sát luôn luôn gắn liền với một chủ thể nhất định, tức là phải trả lời được câu hỏi: ai (người hoặc tổ chức nào) có quyền thực hiện việc theo dõi, xem xét, kiểm tra và đưa ra những nhận định về một việc làm nào đó đã được thực hiện đúng hoặcc sai những điều đã quy định. Đồng thời “giám sát” cũng luôn luôn gắn với một đối tượng cụ thể, tức là phải trả lời được câu hỏi: giám sát ai, giám sát việc gì.
Điều này có ý nghĩa quan trọng ở chỗ, nó phân biệt giữa “giám sát” và “kiểm tra”. “Kiểm tra” thì chủ thể hoạt động và đối tượng chịu sự tác động của hoạt động đó có thể đồng nhất với nhau, đó là việc tự kiểm tra của chủ thể hoạt động. Nói một cách khác, chủ thể tự mình xem xét, đánh giá tình trạng tốt, xấu của công việc mình đang làm. Nhưng “giám sát” thì không thể tự mình giám sát hoạt động của chính mình.
“Giám sát” là hoạt động của chủ thể ngoài hệ thống đối với đối tượng thuộc hệ thống 7 khác, tức là giữa cơ quan giám sát và cơ quan chịu giám sát không nằm trong cùng một hệ thống phụ thuộc nhau. “Giám sát” phải được tiến hành trên cơ sở các quyền và nghĩa vụ của chủ thể giám sát và đối tượng chịu sự giám sát. “Giám sát” cũng phải được tiến hành trên những căn cứ nhất định, nếu như không có những quy định này thì không có cơ sở để chủ thể có quyền thực hiện việc giám sát, đưa ra những nhận định về hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát. Trong hoạt động giám sát, cả chủ thể giám sát, đối tượng bị giám sát và nội dung tính chất hoạt động giám sát đều rất đa dạng.
Từ giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước đến giám sát thi công một công trình, giám sát kỹ thuật, giám sát một trận thi đấu thể thao .v… Trong đó, đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước đáng chú ý hai loại hình giám sát sau đây: Giám sát mang tính chất quyền lực nhà nước: Là loại hình giám sát được tiến hành bởi chủ thể là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với một hay một số hệ thống các cơ quan nhà nước khác theo những nguyên tắc nhất định về sự phân công quyền lực nhà nước. Đó có thể là hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội/ Nghị viện đối với Chính phủ, Tòa án tối cao và Viện Kiểm sát tối cao; là hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp đối với các cơ quan nhà nước ở địa phương như ở các nước xã hội chủ nghĩa. Ngoài ra có thể kể thêm hoạt động giám sát của Tòa án đối với bộ máy nhà nước thông qua hoạt động xét xử. Các phương pháp, cách thức mà loại hình giám sát này áp dụng luôn luôn mang tính quyền lực nhà nước và nó trực tiếp mang lại những hậu quả pháp lý.
Giám sát có tính quyền lực nhà nước có trong các hình thức mà trong khoa học pháp lý gọi là thanh tra, kiểm tra, kiểm sát… Giám sát không mang tính quyền lực nhà nước: Là loại hình giám sát được tiến hành bởi các chủ thể phi Nhà nước. Đó 8 là hoạt động giám sát của các tổ chức đoàn thể, hội, nhóm, thuộc khu vực xã hội dân sự với bộ máy nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước. Giám sát này thường chỉ dừng lại ở việc theo dõi, đánh giá và đưa ra các kiến nghị xử lý lên các cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà thôi. Còn đối với giám sát Hiến pháp, thuật ngữ “giám sát Hiến pháp” lần đầu tiên được đưa ra trong nghị lập hiến Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1787.
Những chính trị gia đầu tiên khởi xướng và cổ vũ cho tư tưởng giám sát Hiến pháp là Wilson, Madison, Hamilton. Với mục đích nhằm kiềm chế quyền lập pháp của Quốc hội liên bang, bảo đảm cho cho các nhánh quyền khác có những quyền hạn tự bảo vệ khi cần thiết chính trị gia đề nghị trao cho Tòa án quyền bãi bỏ dự luật do Quốc hội liên bang thông qua. Theo mô hình của Mỹ, giám sát Hiến pháp còn có tên gọi khác là “giám sát tư pháp” (judical review), được hiểu là thẩm quyền của Tòa án trong việc xem xét tính hợp hiến của các đạo luật được ban hành bởi các cơ quan hoặc các cấp chính quyền khác nhau. Ở Châu Âu, thuật ngữ “giám sát Hiến pháp” được sử dụng phổ biến vào những năm đầu thế kỷ XX.
Người đầu tiên khởi xướng tư tưởng giám sát Hiến pháp là luật gia người Đức H. Giám sát Hiến pháp ở Châu Âu còn có tên gọi là “giám sát” tính hợp hiến” và được định nghĩa “Giám sát tính hợp hiến là nguyên tắc theo đó Tòa án có thể tuyên bố các đạo luật được thông qua bởi cơ quan lập pháp và cả cơ quan hành pháp là vi phạm Hiến pháp. Tòa án có thể hủy bỏ các đạo luật vi phạm đến quyền cơ bản của con người được quy định trong Hiến pháp”. Hiểu theo mô hình chủ yếu của Mỹ hay theo mô hình của Châu Âu, thì hoạt động giám sát Hiến pháp luôn hướng tới mục đích cuối cùng là bảo vệ tính tối cao của Hiến pháp.
Tóm lại, có thể hiểu thuật ngữ giám sát Hiến pháp như sau: “Giám sát Hiến pháp” là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra các văn bản do các cơ quan nhà nước khác có thẩm quyền ban hành hoặc 9 hành vi của các quan chức nhà nước cao cấp có phù hợp với Hiến pháp hay không nhằm bảo đảm bảo tính tối cao của Hiến pháp trong hệ thống pháp luật và trong đời sống xã hội. Ngoài thuật ngữ “giám sát Hiến pháp” còn tồn tại nhiều thuật ngữ khác nhau: bảo hiến, bảo vệ Hiến pháp, tài phán Hiến pháp… Thuật ngữ “giám sát Hiến pháp” còn được gọi là “kiểm tra Hiến pháp bằng tòa án” tức là cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp. Cơ quan giám sát thông qua hoạt động tố tụng Hiến pháp sẽ đưa ra những bản án, những quyết định có giá trị như đạo luật trong việc xem xét tính hợp hiến của các văn bản do các cơ quan nhà nước ban hành và hành vi được thực hiện trên cơ sở những văn bản vi hiến xâm phạm đến các quyền và tự do hiến định của công dân. Trong một trật tự nhà nước pháp quyền, người ta thường hay đồng nhất hai thuật ngữ “Bảo hiến” và “giám sát Hiến pháp”.
“Bảo hiến” hay còn gọi là “bảo vệ Hiến pháp” và được hiểu theo hai nghĩa khác nhau: Theo nghĩa rộng: Bảo hiến có thể hiểu là toàn bộ những yếu tố, cách thức, biện pháp nhằm bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp và chống lại mọi sự vi phạm Hiến pháp. Bất kỳ hoạt động nào, do ai thực hiện nhằm phòng ngừa, phát hiện hoặc xử lý vi hiến được xem là bảo vệ Hiến pháp. Theo nghĩa hẹp: Bảo hiến là hoạt động của chủ thể có thẩm quyền ra quyết định về tính hợp hiến hoặc bất hợp hiến và áp dụng chế tài đối với các cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền do có văn bản pháp luật hay hành vi vi hiến. Bảo hiến theo nghĩa hẹp thường gắn với việc cơ quan có thẩm quyền xem xét và ra quyết định về sự phù hợp với Hiến pháp của các đạo luật do cơ quan lập pháp, hành pháp ban hành, đồng thời xét xử các hành vi vi phạm Hiến pháp của các cá nhân được Hiến pháp quy định các quyền và nghĩa vụ.
10 Việc dùng các thuật ngữ được sử dụng để diễn đạt cho hoạt động bảo đảm tính tối cao của Hiến pháp không chứa đụng hàm ý mâu thuẫn, phủ định lẫn nhau. Tuy nhiên sử dụng thuật ngữ “giám sát Hiến pháp” sẽ chính xác và mang tính khái quát hơn. Vì giám sát Hiến pháp ngoài việc thực hiện những nhiệm vụ của bảo hiến còn có chức năng xây dựng cơ quan giám sát, hoàn thiện cơ quan giám sát, thay đổi bộ máy cơ cấu, hoạt động của cơ quan giám sát sao cho cơ quan đó thực hiện hoạt động giám sát một cách có hiệu quả nhất. Cho nên ở một mức độ nhất định việc sử dụng thuật ngữ “giám sát Hiến pháp” để bao hàm các thuật ngữ còn lại.
* Cơ chế giám sát Hiến pháp Khái niệm “Cơ chế” là chuyển ngữ của từ “mécanisme” trong tiếng Pháp. Từ điển Le Petit Larousse (1999) giảng nghĩa “mécanisme” là “cách thức hoạt động của một tập hợp các yếu tố phụ thuộc vào nhau”. Còn Từ điển Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học 1996) giảng nghĩa cơ chế là “cách thức theo đó một quá trình thực hiện”. Có thể hiểu Cơ chế giám sát Hiến pháp ở đây được hiểu là cách thức hoạt động của các chủ thể giám sát Hiến pháp dựa trên nền tảng thể chế cho phép và các yếu tố bảo đảm hiệu lực của việc giám sát.
Cơ chế giám sát Hiến pháp là hệ thống các chức năng, thẩm quyền và thủ tục kiểm tra, giám sát việc tuân theo và thi hành Hiến pháp, pháp luật nhằm bảo đảm cho việc thực hiện có hiệu quả các chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước. Hiến pháp với tính chất là đạo luật tối cao về tổ chức bộ máy nhà nước, ghi nhận và bảo vệ quyền công dân, rất cần có một cơ chế bảo vệ. Sẽ đầy đủ và bao quát nếu gọi đúng tên của cơ chế bảo vệ văn bản này là “Cơ chế giám sát Hiến pháp”.