Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THI CỬ Chương 2. HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ THI CỬ THỜI LÊ THÁNH TÔNG. NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO CÔNG TÁC QUẢN LÝ, TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG THI CỬ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THI CỬ 1. Các khái niệm cơ bản về quản lý thi cử và đánh giá giáo dục. Quản lý giáo dục Trước khi đề cập đến khái niệm quản lý giáo dục, chúng ta cần tìm hiểu khái niểm về quản lý. Ngay từ khi xã hội loài người xuất hiện, con người đã biết quần tụ thành bày, nhóm để tồn tại và phát triển.
Lao động đơn lẻ của mỗi cá nhân dần trở thành lao động phối hợp với các cá nhân khác, con người biết phân công, hợp tác với nhau trong cộng đồng nhằm đạt được năng suất lao động cao hơn, hiệu quả hơn. Sự phân công, hợp tác đó đòi hỏi phải có sự phối hợp, điều hành chỉ huy… đó chính là hoạt động quản lý. Các quan điểm, học thuyết về quản lý đầu tiên ra đời đã gần một thế kỷ nay nhưng ý nghĩa lý luận cũng như giá trị thực tiễn của chúng vẫn còn mang tính thời sự, bởi vì các quan điểm, học thuyết ấy ra đời trong bối cảnh nền văn minh công nghiệp đã khá phát triển và đến nay, nền văn minh ấy vẫn tồn tại và không ngừng phát triển. Về vấn đề quản lý, Các Mác đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cũng cần phải có một sự chỉ đạo, điều hoà những hoạt động cá nhân nhằm thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó.
Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [4, tr. 480] Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý từ nhiều cách tiếp cận khác nhau. Taylor (1856 - 1915) người đựơc coi là cha đẻ của “thuyết quản lý khoa học” đưa ra quan niệm cho rằng : “quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”. Tư tưởng trung tâm trong cách 8 z tiếp cận của ông là xác định xem một công việc được thực hiện như thế nào chứ không phải dựa vào kinh nghiệm [20, tr.
21] Xuất phát từ các loại hình hoạt động quản lý, Henry Fayol (1841 - 1925), một kỹ sư mỏ người Pháp, một nhà quản lý thành công và về sau giảng dạy về quản lý, với cách tiếp cận khoa học về quản lý cho rằng: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”. Ông khẳng định : “Khi con người lao động hiệp tác thì điều tối quan trọng là họ cần phải xác định rõ công việc mà họ phải hoàn thành, và những nhiệm vụ của mỗi cá nhân phải là mắt lưới dệt nên mục tiêu của tổ chức”. Mục tiêu của quản lý là hình thành môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất”. 68] Mary Parker Follett (1868 - 1933), người có những đóng góp quan trọng vào thuyết quan hệ con người trong quản lý nêu quan điểm cho rằng, quản lý là một quá trình động và liên tục.
Hai điểm nổi bật trong đóng góp của bà là: lôi cuốn thuộc cấp tham gia giải quyết vấn đề và tính động của hoạt động quản lý thay vì những nguyên tắc tĩnh. 24] Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”. 1] Về khái niệm quản lý, tác giả Lê Du Phong (Trường ĐH Kinh tế quốc dân): đã khái quát từ quan niệm của một số học giả như sau “Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất. 68, 69] 9 z Từ các quan điểm chung của các thuật ngữ nêu trên có thể đưa ra nhận xét về hoạt động quản lý (management) như sau: Tuy cách diễn đạt khác nhau nhưng các tác giả đều thống nhất quan điểm: Quản lý là một quá trình tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra với hiệu quả cao nhất.
Trong hoạt động quản lý có hai hệ thống quan hệ mật thiết với nhau, đó là chủ thể quản lý và khách thể quản lý. Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân hay một nhóm người có chức năng quản lý, điều khiển tổ chức, làm cho tổ chức vận hành. Khách thể quản lý bao gồm những người thừa hành nhiệm vụ trong tổ chức, chịu sự tác động, chỉ đạo của chủ thể quản lý nhằm đạt mục tiêu chung. Quản lý gồm bốn chức năng chủ yếu là : kế hoạch hoá; tổ chức; chỉ đạo và kiểm tra.
Quản lý giáo dục là một loại hình đặc biệt của hoạt động quản lý, là hoạt động quản lý trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Quản lý giáo dục là hoạt động kết hợp các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo như đối tượng đào tạo, mục tiêu đào tạo, nội dung đào tạo, nguồn lực đào tạo (nhân lực, vật lực, tài lực) nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong giáo dục và đào tạo. Quản lý giáo dục có hai cấp độ là : cấp vĩ mô và cấp vi mô. Quản lý giáo dục cấp vĩ mô: Quản lý nhà nước về giáo dục.
Các tác giả Mai Hữu Khuê và Bùi Văn Nhơn đã định nghĩa quản lý nhà nước: “Quản lý là một chức năng quan trọng nhất của nhà nước”. Tác giả Lê Du Phong cho rằng : “Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là sự tổ chức và quản lý sự vụ hữu quan của mọi tổ chức và toàn thể xã hội, theo nghĩa hẹp là quản lý hành chính do chính phủ đại diện cho nhà nước thực thi và đảm bảo bằng sức cưỡng chế của nhà nước”. Như vậy, có thể hiểu quản lý nhà nước về giáo dục là việc quản lý theo ngành dọc đối với các hoạt động GD - ĐT do cơ quan đại diện cho nhà nước 10 z thực hiện. Đó là việc xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế và chính sách phát triển GD - ĐT nhằm không ngừng nâng cao trình độ dân trí, đào tạo đội ngũ nhân lực có trình độ cao, phù hợp với sự phát triển kinh tế – xã hội trong phạm vi cả nước, ở từng vùng lãnh thổ hay từng địa phương.
Cấp trung ương là Bộ GD và ĐT, cấp tỉnh là các Sở, và cấp quận/huyện là các Phòng GD - ĐT quận (huyện). Quản lý nhà nước về GD gồm: + Chủ thể quản lý: Bộ máy quản lý GD các cấp. + Khách thể quản lý: Hệ thống GD quốc dân (các trường học, trung tâm GD - ĐT, các cơ sở đào tạo và phục vụ đào tạo…) Quản lý giáo dục cấp vi mô: cấp cơ sở giáo dục, cấp trường, cấp khoa. Quản lý giáo dục cấp vi mô là việc quản lý các hoạt động trong các cơ sở GD như: trường học, trung tâm GD, các đơn vị phục vụ ĐT… , trong đó: + Chủ thể quản lý: Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa + Khách thể quản lý: đội ngũ cán bộ, giáo viên; học sinh, sinh viên; tài chính, cơ sở vật chất… Mục tiêu của quản lý giáo dục : Mục tiêu của quản lý GD chủ yếu là tạo ra môi trường pháp lý và văn hoá, đồng thời duy trì các quy chế nghiêm ngặt nhằm phát huy năng lực sáng tạo của tất cả các thành viên trong hệ thống giáo dục vĩ mô cấp nhà nước hay vi mô cấp trường, cấp khoa.
Mục tiêu của quản lý giáo dục là bảo đảm cho hệ thống giáo dục phát triển đúng quy luật và thúc đẩy phát triển giáo dục về quy mô, chất lượng và hiệu quả nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân. Các thành tố của quản lý giáo dục: Đối tượng quản lý giáo dục: Giáo viên, học sinh, cơ sở vật chất, tài chính. Chủ thể quản lý giáo dục: Cấp vĩ mô là nhà nước, cấp vi mô là nhà trường. 11 z Mục tiêu quản lý giáo dục: Tuỳ thuộc vào mục tiêu của giáo dục nhằm đào tạo ra những người phục tùng hay sáng tạo, khi đó quản lý giáo dục sẽ xây dựng mục tiêu phù hợp với mục tiêu của hệ thống giáo dục.
Nội dung quản lý giáo dục: Quản lý nhân lực, quản lý tài lực, quản lý đào tạo, quản lý nghiên cứu khoa học giáo dục, quản lý dịch vụ xã hội và sinh viên, quản lý các rủi ro trong giáo dục, quản lý đánh giá và thi cử, quản lý chất lượng. Công cụ quản lý giáo dục: Chính sách, kế hoạch, quy chế, hệ thống thông tin, môi trường pháp lý. Phương pháp quản lý giáo dục: Có các phương pháp quản lý cơ bản như: Phương pháp chỉ huy như mô hình của Việt Nam và các nước Xã hội Chủ nghĩa trước đây, phương pháp quản lý theo kết quả như mô hình của Mỹ, tự chủ cho các cơ sở giáo dục tự chịu trách nhiệm với xã hội thông qua thị trường giáo dục. Môi trường quản lý giáo dục: Môi trường văn hoá giáo dục, môi trường văn hoá tư tưởng trong giáo dục.
Môi trường này hình thành thông qua các quan hệ thầy trò, nhà trường xã hội. Chức năng của quản lý giáo dục Về chức năng của quản lý nói chung, H. Fayol đưa ra năm chức năng của hành vi quản lý như sau : Lập kế hoạch, nghĩa là xem xét tương lai và sắp xếp trước các thao tác. Tổ chức, nghĩa là xây dựng các cấu trúc cả vật chất và con người cho công việc.
Chỉ huy, nghĩa là làm cho nhân viên thực hiện công việc của họ. Phối hợp, nghĩa là thống nhất và xác lập mối tương quan giữa tất cả các hoạt động.