Luận văn: Ứng Dụng Chuyển Mạch Mềm Trong Mạng Viettel Mobile

Tìm hiểu về chuyển mạch mềm Viettel Mobile: ứng dụng thực tế, lợi ích và quy trình triển khai chi tiết. Khám phá công nghệ tiên tiến này ngay!

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2007

114
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

CÁC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MẠNG NGN

1.1. Mạng viễn thông hiện tại[4]

1.2. Các đặc điểm của mạng viễn thông

1.3. Những hạn chế của mạng Viễn thông hiện tại

1.4. Mạng Viễn thông thế hệ mới (Next Generation Network) [10]

1.5. Đặc điểm của mạng NGN

1.6. Những vấn đề cần quan tâm khi phát triển NGN

1.7. Xu hướng ra đời của công nghệ chuyển mạch mềm

1.8. Sự phát triển của nhu cầu dịch vụ dữ liệu

1.9. Những hạn chế của công nghệ tổng đài điện tử chuyển mạch kênh

1.10. Giá thành chuyển mạch của tổng đài nội hạt

1.11. Không có sự phân biệt dịch vụ

1.12. Những giới hạn trong phát triển mạng

1.13. Khó khăn trong triển khai dịch vụ

1.14. Môi trường cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông

1.15. Sự ra đời của công nghệ chuyển mạch mềm

2. CHƯƠNG 2: CÔNG NGHỆ CHUYỂN MẠCH MỀM

2.1. Giới thiệu chung

2.2. Công nghệ chuyển mạch mềm

2.3. Định nghĩa Softswitch[11]

2.4. Vị trí của chuyển mạch mềm trong NGN

2.5. Các thành phần chính của Softswitch

2.6. Signaling Gateway – SG

2.7. Media Gateway - MG

2.8. Media Server - MS

2.9. Media Gateway Controller

2.10. Hoạt động của chuyển mạch mềm

2.11. Ưu điểm của Softswitch

2.12. So sánh Chuyển mạch mềm và Chuyển mạch kênh

2.13. Đặc tính chuyển mạch

2.14. Cấu trúc chuyển mạch[1]

2.15. Quá trình chuyển mạch

3. CHƯƠNG 3: KIẾN TRÚC VÀ CÁC THÀNH PHẦN CHÍNH CỦA SOFTSWITCH

3.1. Mô hình kiến trúc mạng và các chức năng của Softswitch[4]

3.2. Các giao thức điều khiển và báo hiệu [6]

3.3. Giới thiệu chung

3.4. Các thành phần của H

3.5. Các giao thức thuộc H323

3.6. Hoạt động của H.323 trong trường hợp cụ thể

3.7. Giao thức thức khởi tạo phiên SIP (Session Initiation Protocol)

3.8. Các chức năng của SIP

3.9. Cấu trúc và các thành phần trong mạng sử dụng báo hiệu SIP

3.10. Hoạt động của SIP trong trường hợp cụ thể

3.11. So sánh giữa H

3.12. Giao tiếp dịch vụ qua H323 và SIP

3.13. SIP với vai trò kết nối dịch vụ

3.14. Sử dụng SIP cho giao tiếp dịch vụ trong chuyển mạch mềm

3.15. Giao thức MGCP

3.16. Tổng quan về MGCP

3.17. Ví trí của MGCP trong NGN

3.18. Giao tiếp báo hiệu giữa chuyển mạch mềm với mạng SS7

3.19. Báo hiệu SS7 trong mạng PSTN

3.20. Liên kết báo hiệu giữa mạng SS7 và chuyển mạch mềm

3.21. Giao thức SIGTRAN (SIGnalling TRANsport)

3.22. Các giao thức hỗ trợ truyền bản tin SS7 qua mạng IP trong SIGTRAN

4. CHƯƠNG 4: SẢN PHẨM VÀ GIẢI PHÁP SOFTSWITCH CỦA MỘT SỐ HÃNG

4.1. Giải pháp Softswitch của Siemens

4.2. Giải pháp và dòng sản phẩm hiQ của Siemens

4.3. hiQ 4000 Open Service Platform

4.4. hiQ 10 Radius Server

4.5. hiQ 20 Registration and Routing Server (H323 Gatekeeper)

4.6. hiQ 6200 SIP Server

4.7. Giải pháp chuyển mạch mềm của Alcatel[5]

4.8. Sản phẩm chuyển mạch mềm của CommWorks

4.9. Kiến trúc 3 lớp của Commworks

4.10. Back- end Servers

5. CHƯƠNG 5: ĐÁNH GIÁ PHƯƠNG ÁN TRIỂN KHAI CÔNG NGHỆ CHUYỂN MẠCH MỀM TRONG MẠNG VIETTEL MOBILE

5.1. Hiện trạng mạng Viettel Mobile

5.2. Nhận định, đánh giá sự phát triển của thị trường di động-Xu hướng phát triển về công nghệ mạng lõi dịch vụ di động trên thế giới[3]

5.3. Dự kiến về vấn đề phát triển mạng Viettel Mobile

5.4. Đề xuất kiến trúc mạng ViettelMobile

5.5. Kiến trúc mạng phân lớp

5.6. Lý do của việc lựa chọn kiến trúc mạng phân lớp

5.7. Các yếu tố thúc đẩy việc triển khai kiến trúc mạng phân lớp

5.8. Yêu cầu đối với việc chuyển đổi kiến trúc mạng Viettel Mobile và đề xuất các bước tiến đến mạng phân lớp

5.9. Yêu cầu của việc chuyển đổi:

5.10. Các yêu cầu với MGW và MSC Server

5.11. Đánh giá phương án triển khai Softswitch trong mạng Viettel Mobile giai đoạn 2008- 2010

TÀI LIỆU THAM KHẢO

MỞ ĐẦU

Tóm tắt

I. Tổng Quan Chuyển Mạch Mềm Viettel Mobile Khái Niệm Lợi Ích

Trong kỷ nguyên công nghệ thông tin, xu thế hội tụ viễn thông - tin học đang diễn ra mạnh mẽ. Mạng viễn thông thế hệ mới (NGN) với cấu trúc đơn giản, linh hoạt, cung cấp đa dịch vụ trên hạ tầng thống nhất là tất yếu. Chuyển mạch là cốt lõi của mọi mạng viễn thông, cho phép kết nối các thuê bao. Chuyển mạch mềm (Softswitch) là xu hướng tất yếu cho chuyển mạch tương lai. Softswitch thực hiện chuyển mạch bằng phần mềm, mang lại nhiều lợi ích đã được chứng minh. Luận văn này tập trung vào nghiên cứu và trình bày về Softswitch, đặc biệt trong bối cảnh Viettel Mobile, gồm các chương: Tổng quan về mạng NGN, Công nghệ chuyển mạch mềm, Kiến trúc và các thành phần chính, Sản phẩm và giải pháp của một số hãng, và Đánh giá phương án triển khai tại Viettel Mobile. Theo định nghĩa của Nortel, Softswitch là thành phần quan trọng nhất của mạng tương lai (NGN - Next Generation Network). Softswitch là một phần mềm theo mô hình mở có thể thực hiện được những chức năng thông tin phân tán trên một môi trường máy tính mở và có những tính năng của mạng chuyển mạch thoại TDM truyền thống. Chuyển mạch mềm cho phép khả năng tích hợp thoại, số liệu và Video, nó cũng có thể phiên dịch giao thức giữa các mạng khác nhau ví dụ như mạng vô tuyến và mạng cáp. Theo Mobile IN, Softswitch là ý tưởng tách phần cứng mạng ra khỏi phần mềm mạng. Trong mạng chuyển mạch kênh truyền thống, phần cứng và phần mềm không độc lập với nhau. Mạng chuyển mạch kênh dựa trên những thiết bị chuyên dụng cho việc kết nối và được thiết kế với mục đích phục vụ thông tin thoại. Những mạng chuyển mạch gói hiệu quả hơn thì sử dụng giao thức Internet (IP) để định tuyến thông tin thoại và số liệu qua các con đường khác nhau và qua các thiết bị được chia sẻ. Theo Copper Com, Softswitch là tên gọi dùng cho một phương pháp tiếp cận mới trong chuyển mạch thoại có thể giúp giải quyết được các thiếu sót của các chuyển mạch trong tổng đài nội hạt truyền thống. Công nghệ Softswitch có thể làm giảm giá thành của các chuyển mạch nội hạt, và cho ta một công cụ hữu hiệu để tạo ra sự khác biệt về dịch vụ giữa các nhà cung cấp dịch vụ và đơn giản hoá quá trình dịch chuyển từ mạng truyền thống sang mạng hỗ trợ thoại gói từ đầu cuối đến đầu cuối (end - to - end) trong tương lai.

1.1. Vai trò của Softswitch trong mạng Viễn thông thế hệ mới NGN

Softswitch đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển đổi sang mạng NGN. Nó cho phép tích hợp các dịch vụ khác nhau, giảm chi phí và tăng tính linh hoạt của mạng. Vị trí tương ứng của Softswitch trong mô hình phân lớp chức năng của NGN là lớp điều khiển cuộc gọi (Call Control) và báo hiệu (Signaling Layer). Mạng thông tin thế hệ mới là sự tích hợp mạng thoại PSTN, chủ yếu dựa trên kỹ thuật TDM, với mạng chuyển mạch gói, dựa trên kỹ thuật IP/ATM. Nó có thể truyền tải tất cả các dịch vụ vốn có của PSTN đồng thời cũng có thể nhập một lượng dữ liệu rất lớn vào mạng IP, nhờ đó có thể giảm nhẹ gánh nặng của PSTN. Tuy nhiên, NGN không chỉ đơn thuần là sự hội tụ giữa thoại và dữ liệu mà còn là sự hội tụ giữa truyền dẫn quang và công nghệ gói, giữa mạng cố định và di động. Vấn đề chủ đạo ở đây là làm sao có thể tận dụng hết lợi thế đem đến từ quá trình hội tụ này.

1.2. Ưu điểm vượt trội của Chuyển Mạch Mềm so với Chuyển mạch kênh

So với chuyển mạch kênh truyền thống, Softswitch mang lại nhiều ưu điểm vượt trội như khả năng tạo doanh thu mới, thời gian tiếp cận thị trường ngắn, khả năng thu hút khách hàng, giảm chi phí xây dựng và điều hành mạng, sử dụng băng thông hiệu quả, quản lý mạng hiệu quả, cải thiện dịch vụ, tiết kiệm không gian đặt thiết bị và cung cấp môi trường tạo lập dịch vụ mềm dẻo. Về kiến trúc, chuyển mạch mềm cho phép các thành phần cơ bản của hệ thống chuyển mạch là các module riêng biệt nhau, phần mềm xử lý điều khiển cuộc gọi không phụ thuộc vào phần cứng chuyển mạch vật lý cũng như môi trường lõi truyền thông tin.

II. Phân Tích Chi Tiết Kiến Trúc Chuyển Mạch Mềm Trong Viettel Mobile

Kiến trúc chuyển mạch mềm bao gồm các thành phần chính: Media Gateway Controller (MGC), Signaling Gateway (SG), Media Gateway (MG), Media Server (MS), và Application Server (AS). MGC là đơn vị chức năng chính, đưa ra quy luật xử lý cuộc gọi, trong đó MG và SG sẽ thực hiện. SG tạo cầu nối giữa mạng báo hiệu SS7 và mạng IP. MG chuyển đổi dạng thức dữ liệu giữa mạng lõi chuyển mạch gói và mạng chuyển mạch truyền thống. MS cung cấp các ứng dụng đa phương tiện. AS cung cấp các tính năng và dịch vụ tạo doanh thu. MGC có nhiệm vụ điều khiển cuộc gọi, duy trì trạng thái cuộc gọi, điều khiển MG và SG, trao đổi thông tin giữa các MGC, xử lý bản tin SS7, xử lý QoS, phát/nhận bản tin báo hiệu, tương tác với AS để cung cấp dịch vụ, và quản lý tài nguyên mạng. Signaling Gateway (SG) tạo ra một chiếc cầu giữa mạng báo hiệu số 7 với mạng IP dưới sự điều khiển của MGC. SG làm cho một Softswitch giống như một nút SS7 trong mạng báo hiệu số 7. Nhiệm vụ của SG là xử lý thông tin báo hiệu. Các chức năng chính của SG: Cung cấp một kết nối vật lý đến mạng báo hiệu, truyền thông tin báo hiệu giữa các MGC và SG thông qua mạng IP, Cung cấp đường truyền dẫn cho thoại, dữ liệu và video, Cung cấp các hoạt động SS7 có sự sẵn sàng cao cho các dịch vụ viễn thông.

2.1. Thành Phần Quan Trọng Media Gateway Controller MGC

MGC là bộ não của hệ thống Softswitch. Nó điều khiển toàn bộ quá trình xử lý cuộc gọi và tương tác với các thành phần khác. MGC đưa ra các quy luật xử lý cuộc gọi, còn MG và SG sẽ thực hiện các quy luật đó. Nó điều khiển SG thiết lập và kết thúc cuộc gọi. MGC chính là chiếc cầu nối giữa các mạng có đặc tính khác nhau, như PSTN, SS7, mạng IP. Nó chịu trách nhiệm quản lý lưu lượng thoại và dữ liệu qua các mạng khác nhau. Nó còn được gọi là Call Agent.

2.2. Kết Nối Mạng Báo Hiệu Vai trò của Signaling Gateway SG

SG đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối với mạng báo hiệu SS7. Nó cho phép Softswitch tương tác với các hệ thống chuyển mạch truyền thống. Singnaling Gateway (SG) tạo ra một chiếc cầu giữa mạng báo hiệu số 7 với mạng IP dưới sự điều khiển của MGC. SG làm cho một Softswitch giống như một nút SS7 trong mạng báo hiệu số 7.

2.3. Truyền Thông Đa Phương Tiện Chức năng của Media Gateway MG

Media Gateway đảm nhiệm việc chuyển đổi giữa các định dạng truyền thông khác nhau, đảm bảo khả năng tương thích giữa các mạng. Media Gateway là thiết bị phối hợp nằm giữa mạng lõi chuyển mạch gói của mạng NGN và mạng chuyển mạch truyền thống bằng cách chuyển đổi dạng thức của dữ liệu này sang dạng dữ liệu của mạng kia, nói cách khác Media Gateway cung cấp khuôn dạng từ môi trường mạng truy nhập đến khuôn dạng môi trường mạng gói của NGN và ngược lại.

III. Hướng Dẫn Triển Khai Chuyển Mạch Mềm VoLTE Viettel Mobile Hiện Nay

Quy trình triển khai chuyển mạch mềm VoLTE (Voice over LTE) bao gồm các bước: Đánh giá hạ tầng mạng hiện tại, lựa chọn giải pháp Softswitch phù hợp, tích hợp với hệ thống hiện có, cấu hình và kiểm tra, và triển khai thử nghiệm. VoLTE tận dụng công nghệ chuyển mạch mềm để cung cấp dịch vụ thoại chất lượng cao trên mạng 4G LTE. Giải pháp cốt lõi trong mạng NGN chính là công nghệ Softswitch - công nghệ chuyển mạch mềm. NGN phải tương thích tốt với môi trường mạng sẵn có và phải kết nối hiệu quả với mạng PSTN. Những vấn đề mà mạng thế hệ mới cần giải quyết gồm : Vấn đề báo hiệu và điều khiển trên nhiều loại giao thức khác nhau cho hội tụ thông tin thoại, fax, số liệu, đa phương tiện. Vấn đề kết nối với mạng chuyển mạch kênh hiện hữu, đặc biệt là kết nối phần báo hiệu (mạng SS7).

3.1. Các Bước Chi Tiết Triển Khai VoLTE trên nền Chuyển Mạch Mềm

Triển khai VoLTE đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ lưỡng về hạ tầng và cấu hình. Việc tích hợp Softswitch vào mạng hiện có cần được thực hiện một cách cẩn thận để đảm bảo tính ổn định và hiệu suất. Các bước chi tiết cần tuân thủ bao gồm kiểm tra bảo mật và các vấn đề tuân thủ quy định.

3.2. Tối Ưu Hiệu Suất Mạng 4G Viettel sau khi Triển Khai VoLTE

Sau khi triển khai VoLTE, cần thực hiện các biện pháp tối ưu hóa để đảm bảo hiệu suất mạng. Điều này bao gồm điều chỉnh cấu hình, giám sát lưu lượng và giải quyết các vấn đề phát sinh. Để đảm bảo QoS cần thiết, các nhà khai thác sẽ phải có khả năng cam kết cung cấp các thỏa thuận về mức dịch vụ (SLA), các yêu cầu về băng tần và các tham số chất lượng.

3.3. Đảm Bảo Chất Lượng Dịch Vụ QoS cho VoLTE Viettel Mobile

Chất lượng dịch vụ là yếu tố quan trọng đối với VoLTE. Cần đảm bảo QoS thông qua các cơ chế như ưu tiên lưu lượng, quản lý băng thông và giảm thiểu độ trễ. Một khía cạnh khác bảo đảm chất lượng là quy mô mạng phải đủ lớn để cung cấp cho khách hàng nhằm chống lại hiện tượng nghẽn cổ chai trong lưu lượng của mạng lõi.

IV. Ứng Dụng Chuyển Mạch Mềm Tổng Đài Ảo Viettel và Dịch Vụ Viễn Thông

Chuyển mạch mềm được ứng dụng rộng rãi trong các dịch vụ viễn thông, bao gồm tổng đài ảo Viettel, VoIP, VoWiFi, và các dịch vụ giá trị gia tăng khác. Tổng đài ảo Viettel sử dụng Softswitch để cung cấp các tính năng tổng đài cho doanh nghiệp mà không cần đầu tư phần cứng. Công nghệ chuyển mạch mềm giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong các giải pháp tiến tới mạng NGN. Các thông tin kỹ thuật liên quan đến sản phẩn Softswitch của các hãng được cung cấp cũng rất hạn chế. Trong đó hướng phát triển của các hãng cũng rất khác nhau, do đó trong chương chú ý nhiều đến đặc điểm kiến trúc và hướng phát triển sản phẩn của từng hãng.

4.1. Lợi Ích Của Tổng Đài Ảo Viettel Dựa Trên Nền Tảng Chuyển Mạch Mềm

Tổng đài ảo mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp, bao gồm giảm chi phí, tăng tính linh hoạt và khả năng mở rộng. Dịch vụ giá trị gia tăng có thể triển khai nhanh chóng hơn. Thị trường thiết bị chuyển mạch nội hạt do một số nhà sản xuất lớn kiểm soát và họ thu lợi nhuận lớn từ thị trường này. Các tổng đài nội hạt của các nhà sản xuất này được thiết kế để phục vụ hàng chục ngàn, thậm chí hàng trăm ngàn thuê bao.

4.2. Triển Khai VoIP và VoWiFi với Chuyển Mạch Mềm Viettel Mobile

VoIP và VoWiFi sử dụng Softswitch để cung cấp dịch vụ thoại qua mạng IP. Điều này giúp giảm chi phí và tăng tính di động cho người dùng. Mạng di động GSM (Global System for Mobile Telecom) là mạng cung cấp dịch vụ thoại tương tự như PSTN nhưng qua đường truy nhập vô tuyến. Mạng này chuyển mạch dựa trên công nghệ ghép kênh phân thời gian và công nghệ ghép kênh phân tần số.

4.3. Các Dịch Vụ Giá Trị Gia Tăng Mới Nhờ Chuyển Mạch Mềm Viettel

Chuyển mạch mềm cho phép phát triển các dịch vụ giá trị gia tăng mới, như hội nghị truyền hình, cuộc gọi video, và các ứng dụng tùy biến. Những dịch vụ này tạo ra doanh thu mới cho Viettel. Các dịch vụ giá trị gia tăng này có thể là một phần của Call Agent, hoặc cũng có thể được triển khai riêng biệt. Các ứng dụng liên lạc với Call Agent thông qua các giao thức như SIP, H.323 và một số giao thức khác.

V. Đánh Giá Phương Án Triển Khai Chuyển Mạch Mềm Tại Viettel Mobile

Việc triển khai Softswitch trong mạng Viettel Mobile giai đoạn 2008-2010 đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Mạng lưới trở nên linh hoạt hơn, hiệu quả hơn và có khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng. Kiến trúc mạng phân lớp giúp Viettel Mobile dễ dàng quản lý và mở rộng mạng lưới. Trong chương này đưa ra các đánh giá và các phương án của Viettel Mobile trong việc đưa công nghệ chuyển mạch mềm ứng dụng vào mạng di động của mình. Họ cần phải xem xét đến việc lưu lượng trên mạng Internet sẽ bùng nổ nay mai trong khi vẫn còn có các “cổ chai” trên phần mạng PSTN truyền thống.

5.1. Phân Tích Hiệu Quả Kinh Tế của Việc Ứng Dụng Softswitch Viettel

Việc đầu tư vào Softswitch đã mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt cho Viettel Mobile, bao gồm giảm chi phí vận hành và bảo trì, tăng doanh thu từ các dịch vụ mới, và nâng cao khả năng cạnh tranh. Các nhà khai thác mới ra đời có lợi thế là đi thẳng vào công nghệ mới nhất. Ngược lại, đối với những nhà khai thác mạng truyền thống, họ cần phải cân nhắc kỹ lưỡng trong việc đầu tư nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng trên nền công nghệ TDM để đáp ứng các nhu cầu trong tương lai.

5.2. Đề Xuất Giải Pháp Tối Ưu Hóa Mạng Lưới Viettel Mobile với Softswitch

Để tối ưu hóa mạng lưới Viettel Mobile, cần tiếp tục đầu tư vào Softswitch, mở rộng vùng phủ sóng, nâng cao chất lượng dịch vụ, và phát triển các ứng dụng mới. Để duy trì cạnh tranh các nhà khai thác này cần tìm ra phương pháp cung cấp các dịch vụ mới cho các khách hàng của họ trong thời kỳ quá độ trước khi các mạng của họ tiến triển sang NGN một cách đầy đủ.

VI. Xu Hướng Phát Triển Chuyển Mạch Mềm và Tương Lai Viễn Thông Viettel

Xu hướng phát triển của Softswitch là tích hợp sâu hơn với mạng 5G, trí tuệ nhân tạo (AI), và Internet of Things (IoT). Viettel Mobile cần nắm bắt các xu hướng này để duy trì vị thế dẫn đầu trên thị trường viễn thông. Tuy nhiên nên nhìn mạng NGN trong mạng thông tin toàn cầu ngày nay, trong đó các mạng chuyển mạch kênh truyền thống và chuyển mạch gói song song tồn tại, các mạng di động và cố định không đơn giản trong việc cùng khai thác, và thậm chí các thành phần mạng khác nhau trên mạng cũng yêu cầu phần quản lý riêng biệt. Trên quan điểm đó, NGN hướng về một cái gì đó hết sức phức tạp, nhưng sẽ cho phép tiết kiệm chi phí khai thác một cách thích đáng.

6.1. Tích Hợp Chuyển Mạch Mềm vào Mạng 5G Viettel Mobile

Việc tích hợp Softswitch vào mạng 5G sẽ mang lại nhiều lợi ích, bao gồm tăng tốc độ, giảm độ trễ, và hỗ trợ các ứng dụng mới như thực tế ảo (VR) và thực tế tăng cường (AR). Vấn đề quan trọng ở đây là mạng cáp quang phải tối ưu cho điều khiển lưu lượng IP. Một giải pháp có tính thuyết phục hiện nay là hội tụ các lớp dữ liệu và các lớp quang trong mạng lõi.

6.2. Ứng Dụng Trí Tuệ Nhân Tạo AI trong Quản Lý và Vận Hành Softswitch

AI có thể được sử dụng để tự động hóa các tác vụ quản lý và vận hành Softswitch, giúp giảm chi phí và tăng hiệu quả. AI cũng có thể được sử dụng để phân tích dữ liệu và dự đoán các vấn đề phát sinh, giúp cải thiện chất lượng dịch vụ. Riêng thực thể chức năng Inter-operator Manager có nhiệm vụ liên lạc, trao đổi thông tin giữa các MGC với nhau. Còn R-F/A-F có nhiệm vụ cung cấp các thông tin định tuyến và thông tin cho việc tính cước.

24/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MẠNG NGN 1. Mạng viễn thông hiện tại[4] Mạng viễn thông là phương tiện truyền đưa thông tin từ đầu phát tới đầu thu. Mạng có nhiệm vụ cung cấp các dịch vụ cho khách hàng. Mạng viễn thông bao gồm các thành phần chính: thiết bị chuyển mạch, thiết bị truyền dẫn, môi trường truyền và thiết bị đầu cuối.

Thiết bị chuyển mạch: gồm có tổng đài nội hạt và tổng đài quá giang. Các thuê bao được nối vào tổng đài nội hạt và tổng đài nội hạt được nối vào tổng đài quá giang. Nhờ các thiết bị chuyển mạch mà đường truyền dẫn được dùng chung và mạng có thể được sử dụng một cách kinh tế. Thiết bị truyền dẫn: dùng để nối thiết bị đầu cuối với tổng đài, hay giữa các tổng đài để thực hiện việc truyền đưa các tín hiệu điện.

Thiết bị truyền dẫn chia làm hai loại: thiết bị truyền dẫn phía thuê bao và thiết bị truyền dẫn cáp quang. Thiết bị truyền dẫn phía thuê bao dùng môi trường thường là cáp kim loại, tuy nhiên có một số trường hợp môi trường truyền là cáp quang hoặc vô tuyến. Môi trường truyền: bao gồm truyền hữu tuyến và vô tuyến. Truyền hữu tuyến bao gồm cáp kim loại, cáp quang.

Truyền vô tuyến bao gồm vi ba, vệ tinh. Thiết bị đầu cuối cho mạng thoại truyền thống gồm máy điện thoại, máy Fax, máy tính, tổng đài PABX. Các đặc điểm của mạng viễn thông. Các mạng viễn thông hiện tại có đặc điểm chung là tồn tại một cách riêng lẻ, ứng với mỗi loại dịch vụ thông tin lại có ít nhất một loại mạng viễn thông riêng biệt để phục vụ dịch vụ đó.

Xét về góc độ dịch vụ thì gồm các mạng sau: mạng điện thoại cố định, mạng điện thoại di động và mạng truyền số liệu. Xét về góc độ kỹ thuật bao gồm các mạng chuyển mạch, mạng truyền dẫn, mạng truy nhập, mạng báo hiệu và mạng đồng bộ. PSTN (Public Switching Telephone Network) là mạng chuyển mạch thoại công cộng. PSTN phục vụ thoại và bao gồm hai loại tổng đài: tổng đài nội TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.

Tổng đài tandem được nối vào các tổng đài Toll để giảm mức phân cấp. Phương pháp nâng cấp các tandem là bổ sung cho mỗi nút một ATM core. Các ATM core sẽ cung cấp dịch vụ băng rộng cho thuê bao, đồng thời hợp nhất các mạng số liệu hiện nay vào mạng chung ISDN. Các tổng đài cấp 4 và cấp 5 là các tổng đài loại lớn.

Các tổng đài này có kiến trúc tập trung, cấu trúc phần mềm và phần cứng độc quyền. ISDN (Integrated Service Digital Network) là mạng số tích hợp dịch vụ. ISDN cung cấp nhiều loại ứng dụng thoại và phi thoại trong cùng một mạng và xây dựng giao tiếp người sử dụng - mạng đa dịch vụ bằng một số giới hạn các kết nối ISDN cung cấp nhiều ứng dụng khác nhau bao gồm các kết nối chuyển mạch và không chuyển mạch. Các kết nối chuyển mạch của ISDN bao gồm nhiều chuyển mạch thực, chuyển mạch gói và sự kết hợp của chúng.

Các dịch vụ mới phải tương hợp với các kết nối chuyển mạch số 64 kbit/s. ISDN phải chứa sự thông minh để cung cấp cho các dịch vụ, bảo dưỡng và các chức năng quản lý mạng, tuy nhiên tính thông minh này có thể không đủ để cho một vài dịch vụ mới và cần được tăng cường từ mạng hoặc từ sự thông minh thích ứng trong các thiết bị đầu cuối của người sử dụng. Sử dụng kiến trúc phân lớp làm đặc trưng của truy xuất ISDN. Truy xuất của người sử dụng đến nguồn ISDN có thể khác nhau tùy thuộc vào dịch vụ yêu cầu và tình trạng ISDN của từng quốc gia.

PSDN (Public Switching Data Network) là mạng chuyển mạch số liệu công cộng. PSDN chủ yếu cung cấp các dịch vụ số liệu. Mạng PSDN bao gồm các PoP (Point of Presence) và các thiết bị truy nhập từ xa. Hiện nay PSDN đang phát triển với tốc độ rất nhanh do sự bùng nổ của dịch vụ Internet và các mạng riêng ảo (Virtual Private Network).

Mạng di động GSM (Global System for Mobile Telecom) là mạng cung cấp dịch vụ thoại tương tự như PSTN nhưng qua đường truy nhập vô tuyến. Mạng này chuyển mạch dựa trên công nghệ ghép kênh phân thời gian và công nghệ ghép kênh phân tần số. Các thành phần cơ bản của mạng này là: BSC (Base Station Controller), BTS (Base Transfer Station), HLR (Home Location Register), VLR ( Visitor Location Register) và MS ( Mobile Subscriber). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.

Những hạn chế của mạng Viễn thông hiện tại. Như ở trên có rất nhiều loại mạng khác nhau, mỗi mạng lại yêu cầu phương pháp thiết kế, sản xuất, vận hành, bảo dưỡng khác nhau. Như vậy hệ thống mạng viễn thông hiện tại có rất nhiều nhược điểm mà quan trọng nhất là: o Chỉ truyền được các dịch vụ độc lập tương ứng với từng mạng. o Thiếu mềm dẻo: Sự ra đời của các công nghệ mới ảnh hưởng mạnh mẽ tới tốc độ truyền tín hiệu.

Ngoài ra, sẽ xuất hiện nhiều dịch vụ truyền thông trong tương lai mà hiện nay chưa dự đoán được, mỗi loại dịch vụ sẽ có tốc độ truyền khác nhau. Ta dễ dàng nhận thấy mạng hiện tại sẽ rất khó thích nghi với những đòi hỏi này. o Kém hiệu quả trong việc bảo dưỡng, vận hành cũng như sử dụng tài nguyên. Tài nguyên sẵn có trong một mạng không thể chia sẻ cho các mạng khác cùng sử dụng.

Đứng trước tình hình phát triển của mạng viễn thông hiện nay, các nhà khai thác viễn thông nhận thấy rằng "sự hội tụ giữa mạng PSTN và mạng PSDN" là chắc chắn xảy ra. Họ cần có một cơ sở hạ tầng duy nhất cung cấp cho mọi dịch vụ (tương tự - số, băng hẹp - băng rộng, cơ bản -đa phương tiện,…) để việc quản lý tập trung, giảm chi phí bảo dưỡng và vận hành, đồng thời hỗ trợ các dịch vụ của mạng hiện nay. Mạng Viễn thông thế hệ mới (Next Generation Network) [10] 1. Cho tới hiện nay, mặc dù các tổ chức viễn thông quốc tế và cung các nhà cung cấp thiết bị viễn thông trên thế giới đều rất quan tâm và nghiên cứu về chiến lược phát triển NGN nhưng vẫn chưa có một định nghĩa cụ thể và chính xác nào cho mạng NGN.

Do đó định nghĩa mạng NGN nêu ra ở đây không thể bao hàm hết mọi chi tiết về mạng thế hệ mới, nhưng nó có thể tương đối là khái niệm chung nhất khi đề cập đến NGN. Bắt nguồn từ sự phát triển của công nghệ thông tin, công nghệ chuyển mạch gói và công nghệ truyền dẫn băng rộng, mạng thông tin thế hệ mới (NGN) ra đời là mạng có cơ sở hạ tầng thông tin duy nhất dựa trên công nghệ chuyển mạch gói, triển khai các dịch vụ một cách đa dạng và nhanh chóng, đáp ứng sự hội tụ giữa thoại và số liệu, giữa cố định và di động. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 Như vậy, có thể xem mạng thông tin thế hệ mới là sự tích hợp mạng thoại PSTN, chủ yếu dựa trên kỹ thuật TDM, với mạng chuyển mạch gói, dựa trên kỹ thuật IP/ATM. Nó có thể truyền tải tất cả các dịch vụ vốn có của PSTN đồng thời cũng có thể nhập một lượng dữ liệu rất lớn vào mạng IP, nhờ đó có thể giảm nhẹ gánh nặng của PSTN.

Tuy nhiên, NGN không chỉ đơn thuần là sự hội tụ giữa thoại và dữ liệu mà còn là sự hội tụ giữa truyền dẫn quang và công nghệ gói, giữa mạng cố định và di động. Vấn đề chủ đạo ở đây là làm sao có thể tận dụng hết lợi thế đem đến từ quá trình hội tụ này. Một vấn đề quan trọng khác là sự bùng nổ nhu cầu của người sử dụng cho một khối lượng lớn dịch vụ và ứng dụng phức tạp bao gồm cả đa phương tiện, phần lớn trong đó là không được trù liệu khi xây dựng các hệ thống mạng hiện nay. Đặc điểm của mạng NGN.

Mạng NGN có bốn đặc điểm chính: 1. Nền tảng là hệ thống mạng mở. Mạng NGN là do mạng dịch vụ thúc đẩy, nhưng dịch vụ phải thực hiện độc lập với mạng lưới. Mạng NGN là mạng chuyển mạch gói, dựa trên một giao thức thống nhất.

Là mạng có dung lượng ngày càng tăng, có tính thích ứng cũng ngày càng tăng, có đủ dung lượng để đáp ứng nhu cầu. Trước hết, do áp dụng cơ cấu mở mà : o Các khối chức năng của tổng đài truyền thống chia thành các phần tử mạng độc lập, các phần tử được phân theo chức năng tương ứng, và phát triển một cách độc lập. o Giao diện và giao thức giữa các bộ phận phải dựa trên các tiêu chuẩn tương ứng. o Việc phân tách làm cho mạng viễn thông vốn có dần dần đi theo hướng mới, nhà kinh doanh có thể căn cứ vào nhu cầu dịch vụ để tự tổ hợp các phần tử khi tổ chức mạng lưới.

Việc tiêu chuẩn hóa giao thức giữa các TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 phần tử có thể thực hiện nối thông giữa các mạng có cấu hình khác nhau. Tiếp đến, mạng NGN là mạng dịch vụ thúc đẩy, với đặc điểm của: o Chia tách dịch vụ với điều khiển cuộc gọi o Chia tách cuộc gọi với truyền tải Mục tiêu chính của chia tách là làm cho dịch vụ thực sự độc lập với mạng, thực hiện một cách linh hoạt và có hiệu quả việc cung cấp dịch vụ. Thuê bao có thể tự bố trí và xác định đặc trưng dịch vụ của mình, không quan tâm đến mạng truyền tải dịch vụ và loại hình đầu cuối. Điều đó làm cho việc cung cấp dịch vụ và ứng dụng có tính linh hoạt cao.

Thứ ba, NGN là mạng chuyển mạch gói, giao thức thống nhất. Mạng thông tin hiện nay, dù là mạng viễn thông, mạng máy tính hay mạng truyền hình cáp, đều không thể lấy một trong các mạng đó làm nền tảng để xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin. Nhưng mấy năm gần đây, cùng với sự phát triển của công nghệ IP, người ta mới nhận thấy rõ ràng là mạng viễn thông, mạng máy tính và mạng truyền hình cáp cuối cùng rồi cũng tích hợp trong một mạng IP thống nhất, đó là xu thế lớn mà người ta thường gọi là "dung hợp ba mạng". Giao thức IP làm cho các dịch vụ lấy IP làm cơ sở đều có thể thực hiện nối thông các mạng khác nhau; con người lần đầu tiên có được giao thức thống nhất mà ba mạng lớn đều có thể chấp nhận được; đặt cơ sở vững chắc về mặt kỹ thuật cho hạ tầng cơ sở thông tin quốc gia (NII).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ