Chương 1: Khái quát chung về chuyển giá của các TNC 1.1 Cơ sở lý luận về chuyển giá của các TNC 1.1 Khái niệm Theo định nghĩa được đưa ra tại Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về thương mại và phát triển năm 2003, “Công ty xuyên quốc gia (TNC) là các công ty liên doanh hoặc độc lập bao gồm các công ty mẹ và các chi nhánh ở nước ngoài có quan hệ kinh tế chặt chẽ với nhau. Công ty mẹ là công ty thực hiện quyền kiểm soát toàn bộ tài sản của các thực thể kinh tế ở nước ngoài, thường thông qua hình thức sở hữu vốn tư bản cổ phần, có tỷ lệ góp vốn cổ phần là 10% so với cổ phần gốc hoặc cao hơn hay mức cổ phần khống chế đối với các công ty liên doanh, hoặc tương ứng đối với các công ty độc lập, đây được xem là giới hạn để giành quyền kiểm soát tài sản của các công ty khác.” Có thể liệt kê một số công ty xuyên quốc gia như: Toyota Motor Coparation Unilever, Ajinomoto, Cocacola, Adidas… 1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của các TNC TNC ra đời trong thời kỳ phát triển của chủ nghĩa tư bản. Mục đích lợi nhuận và sự phát triển sản xuất trong kỳ đầu cạnh tranh tự do của chủ nghĩa tư bản đã làm tăng yêu cầu về thị trường nguyên liệu, thị trường lao động, thị trường hàng hoá và thị trường tài chính. Do đó đã thúc đẩy việc tăng cường khai thác và mở rộng hoạt động kinh doanh sang nước khác.
Bên cạnh đó, sự cạnh tranh mạnh mẽ ở thị trường trong nước cũng khiến nhiều công ty trong nước tìm đến các thị trường bên ngoài. Cùng với sự phát triển của thương mại quốc tế đã hình thành qua nhiều thế kỷ trước và sự ủng hộ của các nhà nước tư bản chủ nghĩa, chủ nghĩa thực dân, quá trình này tiếp tục phát triển và mở 9 z rộng. Đồng thời, sự phức tạp hóa và sâu sắc trong các hợp tác của giới công thương tư bản đã làm tăng khả năng thực hiện sự mở rộng này. Trên cơ sở đó, các tổ chức kinh doanh quốc tế bắt đầu được hình thành và phát triển như các Công ty Đông Ấn của Anh, Hà Lan hay Công ty Hudson Bay (thế kỷ XVII).
Các TNC thực sự hình thành và phát triển mạnh trong thời kỳ chủ nghĩa đế quốc. Trong thời kỳ này, quá trình tích tụ tư bản, tập trung sản xuất, sự kết hợp giữa giới tài chính và giới công thương đã dẫn đến sự ra đời của hàng loạt các tập đoàn sản xuất-kinh doanh lớn theo xu hướng độc quyền. Quá trình thôn tính cá lớn nuốt cá bé cũng tạo thêm điều kiện cho sự hình thành các tổ chức kinh doanh độc quyền lớn từ Syndica qua Trust tới Conglomerate. Hơn nữa, sự cạnh tranh và xu hướng độc quyền diễn ra mạnh mẽ ở cả thị trường trong và ngoài nước nên càng làm gia tăng tính quốc tế của các TNC.
Sau Chiến tranh Thế giới II, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới cũng như sự gia tăng trong nhu cầu hợp tác chính trị và tăng cường hợp tác quốc tế giữa các nước tư bản chủ nghĩa đã tạo điều kiện cho sự phát triển tiếp tục của các TNC. Nhiều TNC ra đời và phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ này. Sự phát triển của TNC không chỉ dừng lại ở sự nắm giữ các lĩnh vực kinh tế trọng yếu, năng lực tài chính và khoa học kỹ thuật,…mà còn ở sự mở rộng hoạt động kinh doanh ra khắp thế giới tư bản. Từ những năm 1980, Xu thế hoà dịu sau Chiến tranh Lạnh, sự phát triển của kinh tế thị trường, xu thế hợp tác cùng phát triển, trào lưu thúc đẩy thương mại tự do và hội nhập kinh tế.
đã tạo điều kiện cho các TNC mở rộng địa bàn, phát triển hoạt động ra khắp thếgiới. Vai trò chính trịvà thực lực kinh tế to lớn cũng như sự chi phối nền kinh tế thế giới của các nước phát triển - nơi xuất phát của hầu hết các TNC lớn - đã tiếp thêm điều kiện cho sự phát triển và vai trò của các TNC. Đáng chú ý, sự thay đổi trong cách nhìn nhận về 10 z TNC (chuyển từ nghi ngờ, công kích sang ủng hộ, đặc biệt ở các nước đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi) đã góp phần đáng kể cho sự mở rộng hoạt động kinh doanh quốc tế của các TNC. TNC dần được coi là công cụ phát triển, tạo công ăn việc làm, là nguồn thuế thu, là sự khắc phục về vốn, kỹthuật, công nghệ và kinh nghiệm kinh doanh quốc tế.
TNC đã có sự phát triển chóng mặt với số lượng các TNC tăng gần gấp đôi, từ khoảng 37.000 đầu thập kỷ 1990 lên gần 70. Số lượng chi nhánh nước ngoài tăng gần bốn lần, từ 170.000 đầu thập kỷ 1990 lên gần 690. Các TNC cũng là người nắm giữ hầu hết vốn đầu tư nước ngoài. Các TNC thực hiện hơn 80% các giao dịch thương mại thế giới.
Các TNC chi phối hầu hết các ngành công nghiệp và dịch vụ quan trọng của thế giới. Các TNC cũng nắm giữ phần lớn công nghệ tiên tiến và quá trình chuyển giao công nghệ. Các TNC vẫn tiếp tục nằm trong trung tâm của sự phát triển với xu hướng sáp nhập và mua lại (M&A) để hình thành các tập đoàn lớn, nhất là trong những lĩnh vực kinh tế quan trọng như truyền thông, ngân hàng-tài chính, giao thông vận tải.3 Cơ cấu tổ chức của các TNC Các công ty xuyên quốc gia hoạt động theo một hệ thống và chính sách chiến lược nhất định từ công ty mẹ. Cơ cấu tổ chức của các công ty xuyên quốc gia không chỉ là hình thức pháp lý mà còn là phương thức hoạt động, cụ thể: Đứng đầu là Công ty mẹ, đây là doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp, có quyền điều hành tất cả các hoạt động của TNC.
Công ty con là một doanh nghiệp liên kết ở nước ngoài, được công ty mẹ góp vốn và chuyển giao công nghệ. Hoạt động dựa trên sự thống nhất và kiểm soát của công ty mẹ. 11 z Các giao dịch diễn ra trong nội bộ TNC được thực hiện dựa trên cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động đặc thù kể trên. Tuy nhiên tương ứng với mỗi quốc gia, các giao dịch nội bộ được lựa chọn cũng như điều chỉnh cho phù hợp với môi trường pháp lý cũng như đặc điểm kinh doanh của từng quốc gia hay vùng lãnh thổ.
Dựa vào tính chất và các đặc điểm của các nghiệp vụ mua bán nội bộ phổ biến trên thị trường, chúng ta có thể phân chia các nghiệp vụ mua bán nội bộ ra thành các nhóm như sau: - Các nghiệp vụ mua bán nội bộ liên quan tới những nguyên vật liệu có tính đặc thù cao, hay các nguyên vật liệu mà một công ty con đặt tại một quốc gia có các lợi thế so sánh riêng giúp giảm giá các nguyên vật liệu đó. - Các nghiệp vụ mua bán nội bộ liên quan đến các thành phẩm, các công ty con tại các quốc gia khác nhau có thể mua thành phẩm được sản xuất tại một quốc gia (Sourcing Country) và sau đó bán lại mà không cần phải đầu tư máy móc hay nhân công cho sản xuất. - Các giao dịch liên quan đến việc dịch chuyển các máy móc, thiết bị cần thiết cho quá trình sản xuất giữa công ty mẹ với công ty con, hay giữa chính các công ty con với nhau. - Các giao dịch liên quan đến các tài sản vô hình như nhượng quyền, bản quyền, thương hiệu, nhãn hàng, các chi phí liên quan đến nghiên cứu và phát triển sản phẩm.
- Các giao dịch liên quan tới dịch vụ quản lý, dịch vụ tài chính hay chi phí cho các chuyên gia tới làm việc tại công ty con tại những nước nước nhận đầu tư và chuyển giao công nghệ. - Các giao dịch liên quan tới việc tài trợ và nhận tài trợ các nguồn lực như tài lực và nhân lực. - Các giao dịch đi vay và cho vay trong nội bộ các TNC.4 Tác động của TNC tới nền kinh tế thế giới TNC đóng vai trò là chủ thể quan hệ quốc tế, có tác động trực tiếp tới nền kinh tế thế giới. Như đã phân tích ở trên, TNC vươn ra các thị trường quốc tế từ nửa cuối thế kỷ XIX, phát triển mạnh vào thế kỷ XX và đặc biệt là trong những năm đầu thế kỷ XXI, các TNC đã mở rộng phạm vi ra toàn cầu, với mạng lưới chi nhánh khổng lồ, tại hầu hết tất cả các quốc gia.
TNC nắm giữ phần lớn nguồn vốn FDI, thực hiện hầu hết các giao dịch thương mại quốc tế, góp phần quan trọng trong thúc đẩy tự do hóa và gia tăng khối lượng giao dịch thương mại cũng như đầu tư quốc tế. Theo đó, là sự gia tăng trong phân công lao động quốc tế, nghiên cứu phát triển và chuyển giao công nghệ. Hoạt động của TNC không chỉ diễn ra ở các ngành kinh tế lớn mà còn đi sâu vào các ngành chuyên môn hẹp. Bên cạnh đó, sự tham gia cũng như mức độ ảnh hưởng của các TNC trong chính trị cũng ngày càng gia tăng.
Nguyên nhân lớn nhất là do mức độ ngày càng lớn mạnh của các TNC. Các TNC có nguồn tài lực và nhân lực dồi dào từ chủ sở hữu và những người tham gia khác, thậm chí có những TNC có số tài sản vượt xa GDP của nhiều nước phát triển. Bên cạnh đó xu hướng M&A đang diễn ra mạnh mẽ còn góp phần hình thành nên nhiều hơn nữa các TNC khổng lồ trong nền kinh tế thế giới, với sự hẫu thuẫn từ các thế lực chính trị tại quốc gia nơi xuất phát TNC – thường là các trung tâm kinh tế chính trị lớn như Bắc Hoa Kỳ, Nhật, Tây Âu. Đặc biệt xét riêng tác động của TNC tới các nước nhận đầu tư, có thể thấy TNC mang lại đồng thời cả thuận lợi và nguy cơ tiềm tàng cho các quốc gia này.
Cụ thể, về những thuận lợi do TNC mang lại cho nước chủ nhà: Thứ nhất, TNC làm tăng nguồn lực tài chính và đầu tư. Với nhiều ưu điểm vượt trội so với dòng vốn đầu tư gián tiếp hay vốn vay tín dụng, nguồn đầu tư FDI ổn định hơn, lợi nhuận chỉ được chuyển ra nước ngoài khi dự án 13 z sinh lời. Qua đó, làm tăng tích lũy vốn cho nước nhận đầu tư, kích thích sản xuất và phát triển kinh tế. Thứ hai, TNC tác động tới đầu tư nội địa của nước nhận đầu tư.