CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TRUNG TÂM LƯU KÝ VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ MÔ HÌNH SỞ HỮU CỦA TRUNG TÂM LƯU KÝ CHỨNG KHOÁN 1. Những vấn đề cơ bản về Trung tâm lưu ký chứng khoán 1. Lịch sử hình thành 1. Nguồn gốc của ngành công nghiệp lưu ký Ngành công nghiệp lưu ký bắt nguồn từ nhu cầu của các nhà đầu tư, các nhà đầu tư muốn an toàn và thuận tiện trong việc giao dịch mua bán chứng khoán.
Vì vậy các nhà đầu tư cần phải gửi chứng chỉ chứng khoán ở một nơi thường là những ngân hàng. Do đó, ngành công nghiệp lưu ký đã phát triển cùng với sự tăng trưởng phức tạp của thị trường tài chính, thành một ngành công nghiệp phức tạp không còn đặc trưng lưu giữ dưới dạng vật chất (Chan, D. Lưu ký chứng khoán - về bản chất là một dịch vụ lưu giữ (và thường là quản lý) chứng khoán thay mặt cho bên thứ ba - có nguồn gốc từ việc giữ an toàn dưới dạng vật chất. Trong thời buổi mà chứng khoán chỉ tồn tại ở dạng giấy, các nhà đầu tư cần một nơi an toàn để giữ các chứng chỉ giá trị này.
Lựa chọn tự nhiên vào thời điểm đó thường là các ngân hàng lớn có uy tín (ngân hàng lưu ký) có kho để chứa tiền mặt hoặc những giấy tờ có giá khác. Dịch vụ lưu ký chứng khoán chủ yếu được cung cấp bởi các ngân hàng thương mại (NHTM), ngân hàng đầu tư. Ngoài ra, các ngân hàng này còn cung cấp thêm các dịch vụ bổ sung liên quan đến thanh toán và các dịch vụ phục vụ tài sản. Khi chứng khoán được mua hoặc bán, ngân hàng lưu ký sẽ chịu trách nhiệm chuyển giao và nhận chứng khoán so với lượng tiền mặt đã thỏa thuận.
Quá trình này được gọi là thanh toán. Các dịch vụ đảm bảo nhà đầu tư nhận được từ tài sản (chứng khoán) thường được gọi là dịch vụ tài sản. Các dịch vụ này thường rơi vào các nhóm chính: thu cổ tức và lãi; quyền mua cổ phiếu, 8 tính lại mệnh giá phát hành hoặc tổ chức lại công ty; thanh toán và / hoặc đòi lại thuế; bỏ phiếu tại các cuộc họp cổ đông khi được ủy quyền. Do đó, quá trình cung cấp dịch vụ liên quan đến tài sản, các ngân hàng lưu ký đóng vai trò trung gian thông tin, liên lạc giữa các tổ chức phát hành (TCPH) và người sở hữu chứng khoán.
Do tận dụng được lợi thế về quy mô nên các ngân hàng lưu ký cung cấp dịch vụ cho khách hàng với mức giá thấp hơn, nhanh hơn và hiệu quả hơn so với việc khách hàng tự thực hiện. Ở mỗi thị trường, thường có một số ngân hàng lưu ký trong nước cung cấp dịch vụ lưu ký. Khi các ngân hàng cung cấp dịch vụ lưu ký tại nhiều thị trường thông qua một thỏa thuận dịch vụ với khách hàng thì được gọi là các ngân hàng giám sát toàn cầu (Chan et al. Điều kiện tất yếu thành lập các Trung tâm lưu ký chứng khoán Cùng với sự phát triển của thị tường tài chính, ngành công nghiệp lưu ký không chỉ dừng lại ở các dịch vụ lưu giữ vật chất truyền thống mà còn cung cấp hàng loạt các dịch vụ gia tăng liên quan với sự tham gia của rất nhiều chủ thể mà không chỉ giới hạn ở các ngân hàng.
Do thị trường chứng khoán (TTCK) phát triển, khối lượng giao dịch tăng lên, việc chuyển giao số lượng lớn các chứng khoán vật chất được lưu giữ phân tán tại các địa điểm khác nhau sẽ gây ra sự chậm trễ và sai sót đối với việc chuyển quyền sở hữu chứng khoán do các thủ tục bàn giao, xác minh, hạch toán giữa các chủ thể tham gia vào quá trình thanh toán giao dịch hết sức phức tạp, tốn kém và có thể hay phát sinh lỗi và không hiệu quả. Đồng thời, làm tăng các vấn đề thanh khoản của thị trường tài chính. Do đó, các chính quyền quốc gia và Ngân hàng Trung ương (NHTW) đã thiết lập Trung tâm lưu ký chứng khoán Quốc gia (central securities depositories - CSDs) để lưu giữ tập trung chứng khoán cho toàn thị trường tại một địa điểm hỗ trợ cho việc thanh toán, quyết toán giao dịch của nhà đầu tư. Tổ chức này là hình thức tổ chức sơ khai của các Trung tâm lưu ký chứng khoán (CSD) hiện đại ngày nay.
Hoạt động với mục đích phi vật chất hóa, chứng khoán được chuyển từ người này sang người khác bằng cách “chuyển khoản ghi sổ”. Các tổ chức CSD hoạt động như 9 một trung tâm cung cấp dịch vụ cho toàn bộ thị trường. Việc thành lập các CSD là điều kiện phát triển tất yếu của TTCK và điều này đều đã được Tổ chức Ủy ban Chứng khoán Quốc tế (International Organization of Securities Commissions – IOSCO) khuyến nghị trong các báo cáo đánh giá về hệ thống lưu ký thanh toán của mình (Chan et al. Kể từ cuối những năm 1960, các CSD đã được thành lập ở tất cả các trung tâm hành chính lớn và hướng tới giao dịch số điện tử, chuyển quyền sở hữu chứng khoán và phát triển các thỏa thuận tiêu chuẩn hiện nay đối với việc nắm giữ chứng khoán dựa trên tài khoản.
Chuyển quyển sở hữu chứng khoán được nghi nhận bằng cách nắm giữ giữa các tài khoản chứng khoán và có thể tra cứu nhà đầu tư đang nắm giữ loại chứng khoán nào và số lượng bao nhiêu. Mô hình sở hữu Trung tâm lưu ký chứng khoán Có nhiều CSD đã thay đổi mô hình sở hữu, tùy thuộc vào đặc điểm quy mô kinh tế và đặc thù phát triển của từng thị trường, từng giai đoạn mà có thể áp dụng những mô hình sở hữu khác nhau. Mỗi hình thức đều có những ưu và nhược điểm riêng, nhưng có đặc điểm chung là hầu các thị trường đều chịu sự quản lý và giám sát của các cơ quan có thẩm quyền. Có thể phân chia các hình thức sở hữu của CSD như sau: - Sở hữu nhà nước: các tổ chức SCD thuộc sở hữu nhà nước thường được giao quyền quản lý cho các cơ quan thuộc Chính phủ như Ủy ban chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) hoặc NHTW Quốc gia.
Các tổ chức của chính phủ thường quan tâm đến kiểm soát và giảm rủi ro, đồng thời thực hiện các yêu cầu lợi ích công cộng, thúc đẩy mục tiêu của nhà nước. Thành phần tư nhân thì sẽ tập trung vào mục tiêu lợi nhuận. Mô hình sở hữu nhà nước chỉ phù với giai đoạn đầu của các thị trường mới nổi. Do sự phát triển và hoạt động của hệ thống lưu ký chứng khoán cần phải có sự giám sát chặt chẽ của Nhà nước và đòi hỏi đủ nguồn lực để vận hành.
Thành phần tư nhân trong một số trường hợp không thể tập trung đủ nguồn lực cho những rủi ro lớn có thể xảy ra. 10 Tuy nhiên, mô hình sở hữu nhà nước cũng có những hạn chế nhất định. Trong điều kiện các thị tường phát triển cao hơn cả về quy mô và phạm vi hoạt động, đẩy mạnh thanh toán bù trừ xuyên quốc gia và phát triển nhiều dịch vụ khác. Các chính phủ lúc này có thể không có đủ tất cả các kiến thức chuyên môn cần thiết để phát triển các hệ thống thanh toán bù trừ hiệu quả.
Và mô hình này cũng không phát huy được vai trò chủ động trong việc tổ chức và điều hành các hoạt động, dẫn đến thực thi bị chậm trễ do phải trải qua quá nhiều cấp. - Sở hữu đa thành phần: Mục tiêu vượt trội của mô hình sở hữu đa thành phần là tối đa hóa giá trị chủ sở hữu. Họ có kiến thức chuyên môn sâu và chủ động trong quản lý vận hành các hoạt động của CSD, đồng thời chủ động đưa ra các sản phẩm dịch vụ, hệ thống nghiệp vụ mới, phù hợp với yêu cầu phát triển của thị tường. Hạn chế của mô hình này là cân bằng lợi ích xung đột giữa tất cả các bên liên quan trong công ty.
- Sở hữu trực thuộc: CSD được sở hữu bởi các thực thể khác liên quan đến thực hiện giao dịch, thanh toán bù trừ, thanh toán hoặc bảo lãnh các giao dịch chứng khoán với tư cách là một công ty con (công ty con trực thuộc Sở giao dịch hoặc các tổ chức khác như ngân hàng) (Russo, D. Quản trị tập đoàn chứng khoán Quản trị tập đoàn chứng khoán là một hệ thống mà theo đó các công ty được định hướng và kiểm soát, không chỉ điều hòa lợi ích chung của tất cả các bên liên quan khác nhau trong hệ thống, mà còn cả lợi ích quốc gia, xuyên quốc gia, cộng đồng trong hoạt động của hệ thống và lợi ích công cộng trong việc giảm thiểu rủi ro hệ thống. Quản trị cung cấp một phương tiện theo đó các mục tiêu của hệ thống có thể được chỉ định trước, hiệu suất hoạt động của tập đoàn chứng khoán được giám sát chặt chẽ nhằm giảm thiểu tác động xung đột lợi ích tiềm năng giữa các bên liên quan. Do hoạt động của các CSD chịu chi phối đáng kể của lợi thế kinh tế theo quy mô nên trong nhiều trường hợp các tổ chức này là những nhà cung cấp dịch vụ duy nhất 11 cho thị trường của mình.
Do vậy, các cơ chế quản trị doanh nghiệp đối với hệ thống thanh toán chứng khoán phải được bổ sung bằng sự minh bạch đầy đủ, dễ hiểu. Yêu cầu quản trị hiệu quả bất kể đó là tổ chức tương hỗ hay hoạt động vì lợi nhuận thì cũng phải có cơ chế giám sát và quy định thích hợp để đạt được mục tiêu. Ban quản lý phải có sáng kiến và kỹ năng cần thiết để đạt được các mục tiêu và phải hoàn toàn chịu trách nhiệm cho các hoạt động của mình. Phương thức báo cáo giữa ban quản lý và hội đồng quản trị (HĐQT) phải rõ ràng và trực tiếp, và HĐQT cần có trình độ chuyên môn phù hợp và xem xét đến tất cả các lợi ích liên quan.
Sự lựa chọn mô hình doanh nghiệp có tác động rất rõ đối với hoạt động tổ chức quản trị doanh nghiệp và quản lý của CSD (Russo et al. Tổ chức hệ thống lưu ký Ngành công nghiệp kinh doanh chứng khoán được đặc trưng bởi nguyên tắc trung gian, và lưu ký cũng không là ngoại lệ với cơ cấu tổ chức theo mô hình phân cấp hệ thống: chứng khoán của nhà đầu tư được lưu giữ cuối cùng và tập trung tại các CSD quốc gia (hoặc các Trung tâm lưu ký chứng khoán quốc tế - ICSD), nhưng tham gia vào quá trình này, thông thường có các tổ chức trung gian đứng ở giữa tổ chức lưu ký và nhà đầu tư.