Tổng quan nghiên cứu

Thị trường dịch vụ logistics Việt Nam ghi nhận tốc độ tăng trưởng ấn tượng bình quân từ 14% đến 16% mỗi năm trong giai đoạn 2017 - 2022, khẳng định vai trò huyết mạch kết nối toàn bộ chuỗi sản xuất và lưu thông hàng hóa quốc gia. Theo bảng xếp hạng Chỉ số Logistics Thị trường Mới nổi năm 2023 của Agility, Việt Nam xuất sắc vươn lên vị trí thứ 10 trong tổng số 50 thị trường mới nổi toàn cầu. Tuy nhiên, trên bình diện năng lực cạnh tranh tổng thể, Việt Nam xếp thứ 43 trong Bảng xếp hạng Chỉ số Hiệu quả Logistics toàn cầu do Ngân hàng Thế giới công bố năm 2023. Thực tế này phản ánh rõ nét những nút thắt nội tại: chi phí logistics chiếm tỷ trọng cao trong giá thành sản phẩm, mức độ số hóa phân tán và áp lực cắt giảm phát thải khí nhà kính ngày càng đè nặng lên chuỗi cung ứng.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là phân tích toàn diện thực trạng triển khai chuyển đổi kép—sự kết hợp đồng thời giữa chuyển đổi số và chuyển đổi xanh—trong ngành dịch vụ logistics Việt Nam giai đoạn 2017 - 2022, từ đó xác định điểm nghẽn và xây dựng hệ thống giải pháp mang tính chiến lược cho giai đoạn 2023 - 2030. Phạm vi không gian của luận văn tập trung vào hệ thống doanh nghiệp logistics trên cả nước, gắn liền với các mắt xích cảng biển, kho bãi, vận tải và thủ tục thông quan. Ý nghĩa của nghiên cứu được đo lường qua việc hỗ trợ doanh nghiệp tối ưu hóa chi phí vận hành từ 15% đến 20%, nâng cao năng suất quản lý dữ liệu, giảm thiểu từ 10% đến 15% lượng phát thải carbon ròng và đóng góp trực tiếp vào mục tiêu nâng tầm chỉ số hiệu quả logistics quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết chuỗi giá trị và quản trị chuỗi cung ứng hiện đại của Hội đồng Chuyên gia Quản lý Chuỗi Cung ứng, kết hợp với mô hình chuyển đổi kép tích hợp. Luận văn kế thừa mô hình đo lường mức độ tiến triển số hóa logistics của Wollenburg Johannes và Eric Sucky năm 2018, cùng lý thuyết logistics xanh và logistics bền vững của Abdelkader Sbihi năm 2010 và Oksana Seroka-Stolka năm 2014. Hệ thống lý luận làm rõ năm khái niệm then chốt:

Thứ nhất, dịch vụ logistics theo Điều 233 Luật Thương mại năm 2019 và Nghị định số 163/2017/NĐ-CP được xác định là chuỗi hoạt động thương mại trọn gói từ giao nhận, vận chuyển, lưu kho bãi, làm thủ tục hải quan đến phân phối hàng hóa. Thứ hai, chuyển đổi số logistics là quá trình ứng dụng công nghệ đột phá như điện toán đám mây, dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và internet vạn vật vào tối ưu hóa vận hành. Thứ ba, chuyển đổi xanh logistics là việc áp dụng các giải pháp giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường thông qua sử dụng năng lượng tái tạo, giảm tiêu hao nhiên liệu hóa thạch và cắt giảm khí thải độc hại. Thứ tư, logistics ngược theo Rogers và Tibben-Lembke năm 1999 là chu trình quản lý dòng chảy thu hồi nguyên vật liệu, phế phẩm, bao bì từ điểm tiêu dùng về điểm xuất phát nhằm tái chế hoặc xử lý an toàn. Thứ năm, chuyển đổi kép là sự liên kết hữu cơ không tách rời giữa số hóa và xanh hóa, tạo lập đòn bẩy cộng hưởng nâng cao hiệu suất kinh tế gắn liền bảo vệ hệ sinh thái.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp đa tầng từ các cơ sở dữ liệu chính thống: Báo cáo Logistics Việt Nam các năm 2021 và 2022 của Bộ Công Thương, Báo cáo thường niên Chuyển đổi số Doanh nghiệp năm 2022 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, số liệu từ Tổng cục Hải quan, Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam và Vietnam Report. Quá trình phân tích áp dụng phối hợp phương pháp thống kê mô tả, phân tích tổng hợp, so sánh đối chiếu đa chiều và suy luận kinh tế lượng định tính.

Quy mô mẫu nghiên cứu bao quát dữ liệu khảo sát từ hơn 30.000 doanh nghiệp logistics đăng ký hoạt động trên toàn quốc, trong đó tập trung sâu vào nhóm 5.000 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics bên thứ ba. Phương pháp chọn mẫu điển hình có chủ đích được áp dụng nhằm phản ánh chính xác cơ cấu thực tế của ngành: 89% doanh nghiệp nội địa, 10% doanh nghiệp liên doanh và 1% doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Lý do lựa chọn phương pháp này xuất phát từ tính đa dạng và phân mảnh cao của thị trường kho vận Việt Nam, đòi hỏi việc xử lý dữ liệu phải bóc tách rõ rệt giữa các phân khúc phần mềm nghiệp vụ chuyên dụng và các trụ cột sẵn sàng số hóa. Tiến trình nghiên cứu được triển khai xuyên suốt từ năm 2021 đến tháng 10 năm 2023, đảm bảo tính cập nhật và sát thực tiễn.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực trạng chuyển đổi kép ngành dịch vụ logistics Việt Nam mang lại ba phát hiện trọng tâm:

Thứ nhất, tồn tại sự bất cân xứng sâu sắc giữa quy mô số lượng và thị phần kiểm soát. Mặc dù doanh nghiệp nội địa chiếm tới 89% tổng số lượng doanh nghiệp toàn ngành, nhưng khối này chỉ nắm giữ khoảng 30% thị phần thị trường. Ngược lại, 70% thị phần béo bở nhất thuộc về các tập đoàn logistics đa quốc gia chỉ chiếm 1% số lượng doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và 10% doanh nghiệp liên doanh.

Thứ hai, làn sóng chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ sau đại dịch nhưng còn mang tính phân mảnh, đơn lẻ. Khoảng 68% doanh nghiệp logistics đã bước đầu ứng dụng các thành tựu công nghệ, trong đó internet vạn vật đạt tỷ lệ 19,4%, trí tuệ nhân tạo đạt 18,4%, điện toán đám mây đạt 18,4%, dữ liệu lớn và chuỗi khối đạt 14,3%. Tỷ lệ sử dụng phần mềm nghiệp vụ chuyên ngành tập trung cao ở hệ thống quản lý giao nhận với 75%, hệ thống quản lý kho hàng và quản lý đơn hàng đạt 63,89%, hệ thống quản lý vận tải đạt 61,11%. Dẫu vậy, theo khung đánh giá 7 trụ cột tại Báo cáo Thường niên Chuyển đổi số 2022, mức độ sẵn sàng chuyển đổi số trung bình của toàn ngành chỉ đạt 2,6 trên thang điểm 5, nằm lơ lửng giữa mức đang phát triển và phát triển.

Thứ ba, công tác chuyển đổi xanh còn ở giai đoạn manh nha và chịu nhiều rào cản hạ tầng. Cơ cấu vận chuyển hàng hóa nội địa vẫn phụ thuộc hơn 70% vào đường bộ—phương thức phát thải carbon cao nhất. Tỷ lệ phương tiện vận tải chạy rỗng chiều về tại các doanh nghiệp còn ở mức cao từ 30% đến 45%, gây lãng phí nhiên liệu và gia tăng khí thải.

Các phát hiện trên được hệ thống hóa trực quan thông qua biểu đồ cơ cấu thị phần doanh nghiệp logistics, biểu đồ phân bổ tỷ lệ ứng dụng phần mềm quản lý kho vận và ma trận radar 7 trụ cột đo lường độ trưởng thành số của ngành.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi khiến mức độ sẵn sàng số hóa dừng ở điểm số 2,6/5 xuất phát từ việc phần lớn doanh nghiệp logistics Việt Nam là doanh nghiệp vừa và nhỏ, vốn mỏng, thiếu hụt nguồn nhân lực thông thạo cả kỹ thuật công nghệ thông tin lẫn nghiệp vụ chuỗi cung ứng. Doanh nghiệp chủ yếu mới thực hiện số hóa văn bản hành chính ở tầng cơ bản, chưa xây dựng được kiến trúc dữ liệu liên thông xuyên suốt toàn bộ chuỗi cung ứng từ cảng biển, kho bãi tới vận tải chặng cuối.

Khi đối chiếu với chuẩn mực quốc tế, Singapore đã dẫn đầu bảng xếp hạng Chỉ số Hiệu quả Logistics thế giới năm 2023 nhờ tích hợp đồng bộ công nghệ thông quan một cửa, tự động hóa kho hàng bằng robot và hệ thống lưu trữ truy xuất tự động. Tại Trung Quốc, giá trị kinh tế số đạt 7,1 nghìn tỷ USD, đóng góp tới 39,8% GDP năm 2021, đồng thời các chính sách logistics xanh quyết liệt đã giúp quốc gia này giảm 42% mức độ ô nhiễm không khí trong giai đoạn 2013 - 2021. Kết quả nghiên cứu của McKinsey chỉ ra rằng các doanh nghiệp số hóa chuỗi cung ứng thành công có thể gia tăng tới 3,2% doanh thu trước thuế mỗi năm. Điều này minh chứng rằng chuyển đổi kép không phải là gánh nặng tài chính mà chính là chìa khóa mở rộng biên lợi nhuận và duy trì tính bền vững lâu dài.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm tối ưu hóa tiến trình chuyển đổi kép ngành dịch vụ logistics Việt Nam đến năm 2030, luận văn đề xuất bốn nhóm giải pháp hành động đồng bộ:

Thứ nhất, hoàn thiện khung thể chế pháp lý và cơ chế tín dụng xanh hỗ trợ số hóa. Cơ quan chủ trì gồm Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp Ngân hàng Nhà nước. Mục tiêu đến năm 2026 ban hành chính sách ưu đãi giảm từ 2% đến 5% thuế thu nhập doanh nghiệp cho các dự án đầu tư kho bãi sinh thái sử dụng năng lượng mặt trời, đồng thời thiết lập quỹ bảo lãnh tín dụng chuyển đổi số dành riêng cho doanh nghiệp logistics vừa và nhỏ.

Thứ hai, tăng tốc số hóa thủ tục hành chính và hạ tầng dịch vụ công liên ngành. Chủ thể thực hiện là Bộ Giao thông Vận tải, Tổng cục Hải quan và Cục Hàng hải. Mục tiêu đến năm 2025 đạt 100% triển khai giải pháp vận đơn điện tử và lệnh giao hàng điện tử chung cho tất cả hãng tàu và cảng biển, nâng tỷ lệ xử lý hồ sơ thông quan hoàn toàn tự động lên mức 99,9%, giảm thời gian chờ đợi tại cửa khẩu biên giới tối thiểu 30%.

Thứ ba, chuẩn hóa mô hình trung tâm logistics thông minh và kho bãi sinh thái. Chủ thể thực hiện là các doanh nghiệp đầu ngành như Viettel Post, Vietnam Post kết hợp cùng các hội viên Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam. Mục tiêu từ năm 2024 đến 2028 nâng điểm đánh giá mức độ sẵn sàng chuyển đổi số của khối doanh nghiệp nội địa từ 2,6 lên tối thiểu 4,0 điểm. Doanh nghiệp cần chủ động đầu tư hệ thống xe tự vận hành, hệ thống lưu trữ truy xuất tự động và tích hợp trí tuệ nhân tạo để tối ưu hóa vị trí xếp dỡ hàng hóa.

Thứ tư, tái cấu trúc mạng lưới giao thông vận tải và triển khai logistics ngược. Chủ thể thực hiện là các doanh nghiệp vận tải phối hợp cùng các nhà sản xuất bán lẻ. Mục tiêu đến năm 2030 cắt giảm tỷ lệ xe tải chạy rỗng chiều về xuống dưới 15% thông qua ứng dụng phần mềm điều phối định tuyến thông minh, chuyển dịch 20% sản lượng vận chuyển nội địa từ đường bộ sang đường sắt và đường thủy, đồng thời chuẩn hóa quy trình thu gom, tái sử dụng 100% bao bì tự phân hủy sinh học.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu chuyên sâu mang giá trị thực tiễn cao, đặc biệt hữu ích cho bốn nhóm đối tượng:

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách thuộc Bộ Công Thương, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Thông tin và Truyền thông. Công trình cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng và luận cứ khoa học để xây dựng chiến lược phát triển hạ tầng logistics quốc gia, ban hành bộ tiêu chí cảng xanh và quy hoạch các trung tâm kho vận thông minh kết nối liên vùng.

Thứ tư, hội đồng quản trị và ban điều hành các doanh nghiệp dịch vụ logistics, doanh nghiệp xuất nhập khẩu và bán lẻ. Luận văn cung cấp khung tham chiếu 7 trụ cột để tự đánh giá mức độ trưởng thành số, định hướng tối ưu hóa chi phí đầu tư phần mềm chuyên dụng và xây dựng lộ trình xanh hóa chuỗi vận hành phù hợp nguồn vốn.

Thứ ba, cộng đồng giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế quốc tế, Logistics và Quản trị chuỗi cung ứng. Tài liệu đóng vai trò là tài liệu tham khảo chuẩn mực với hệ thống lý thuyết cập nhật, dữ liệu thứ cấp xác thực cùng phương pháp tiếp cận chuyển đổi kép tiên tiến.

Thứ tư, các tổ chức quốc tế, định chế tài chính và quỹ đầu tư phát triển bền vững. Công trình phác thảo bức tranh toàn cảnh về nhu cầu vốn, tiềm năng phát triển thị trường và các điểm nghẽn chuyển đổi sinh thái tại Việt Nam, mở ra cơ hội hợp tác cung cấp các gói tài chính xanh và chuyển giao công nghệ cao.

Câu hỏi thường gặp

Chuyển đổi kép trong ngành dịch vụ logistics được hiểu cụ thể là gì? Chuyển đổi kép là chiến lược tích hợp song hành giữa chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Chiến lược này ứng dụng các công nghệ hiện đại như dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo để tối ưu hóa quy trình vận tải, qua đó cắt giảm tiêu hao tài nguyên, giảm thiểu phát thải khí carbon và thúc đẩy mô hình chuỗi cung ứng bền vững.

Vì sao doanh nghiệp logistics Việt Nam chiếm 89% số lượng nhưng chỉ giữ 30% thị phần? Nguyên nhân chủ yếu do doanh nghiệp nội địa đa phần có quy mô vốn nhỏ, thiếu hụt hệ thống công nghệ thông tin tích hợp và mạng lưới toàn cầu. Các tập đoàn logistics xuyên quốc gia nắm giữ 70% thị phần nhờ sở hữu năng lực tài chính hùng hậu, hạ tầng công nghệ vượt trội và cung ứng dịch vụ chuỗi logistics tích hợp đa quốc gia.

Những công nghệ số nào đang mang lại hiệu quả tức thì cho doanh nghiệp logistics? Các phần mềm quản lý giao nhận đang được 75% doanh nghiệp sử dụng, cùng hệ thống quản lý kho bãi và đơn hàng đạt 63,89% tỷ lệ triển khai. Những công cụ này cho phép doanh nghiệp tự động hóa xử lý chứng từ, kiểm soát luân chuyển hàng tồn kho chính xác theo thời gian thực và cắt giảm đáng kể các sai sót thủ công.

Rào cản lớn nhất khiến mức độ sẵn sàng chuyển đổi số của ngành logistics chỉ đạt 2,6/5 là gì? Điểm nghẽn then chốt nằm ở hạn chế nguồn vốn đầu tư công nghệ, sự thiếu hụt nhân lực chất lượng cao am hiểu chuyển đổi số và mức độ ứng dụng rời rạc. Hầu hết doanh nghiệp mới chỉ triển khai phần mềm quản lý đơn lẻ mà chưa tạo được sự liên thông dữ liệu đồng bộ trong toàn bộ mạng lưới chuỗi cung ứng.

Chuyển đổi xanh có làm gia tăng gánh nặng chi phí vận hành cho doanh nghiệp kho vận không? Trong ngắn hạn, doanh nghiệp phát sinh chi phí đầu tư phương tiện và kho bãi sinh thái. Tuy nhiên, về trung và dài hạn, nghiên cứu quốc tế chỉ ra số hóa chuỗi cung ứng giúp tăng 3,2% doanh thu trước thuế, đồng thời việc tối ưu định tuyến và giảm tỷ lệ xe chạy rỗng giúp tiết kiệm từ 15% đến 20% chi phí nhiên liệu.

Kết luận

Luận văn đã hoàn thành toàn diện các mục tiêu nghiên cứu thông qua năm đóng góp cốt lõi:

  • Hệ thống hóa cơ sở lý luận chuyên sâu về chuyển đổi kép, khẳng định mối quan hệ tương hỗ mật thiết giữa chuyển đổi số và chuyển đổi xanh trong ngành dịch vụ logistics.
  • Phác thảo bức tranh thực trạng phân kỳ 2017 - 2022 với hệ thống số liệu định lượng xác thực, chỉ rõ mức độ sẵn sàng chuyển đổi số toàn ngành đạt 2,6/5 điểm.
  • Nhận diện chính xác điểm nghẽn cơ cấu thị trường khi doanh nghiệp nội chiếm 89% số lượng nhưng chỉ giữ 30% thị phần do hạn chế về công nghệ và vốn.
  • Đúc kết bài học kinh nghiệm quốc tế thực tiễn từ mô hình cảng số tự động của Singapore và chiến lược cắt giảm 42% ô nhiễm thông qua logistics xanh của Trung Quốc.
  • Đề xuất hệ thống bốn nhóm giải pháp hành động đột phá, gắn kết trách nhiệm giữa cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp vận hành.

Lộ trình tiếp theo đòi hỏi giai đoạn 2023 - 2025 tập trung hoàn thiện hạ tầng số dùng chung, chuẩn hóa vận đơn điện tử và lệnh giao hàng điện tử; giai đoạn 2026 - 2030 hướng tới đồng bộ hóa hạ tầng đa phương thức và mở rộng chuỗi cung ứng trung hòa carbon. Các cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp cần nhanh chóng hành động, nắm bắt thời cơ chuyển đổi kép để bứt phá năng lực cạnh tranh và đưa ngành logistics Việt Nam hội nhập sâu rộng vào chuỗi giá trị toàn cầu.