CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VE QUAN TRI RỦI RO TIN DUNG CUA NGAN HANG THUONG MAI 1. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mai 1. Khai niệm hoạt động tín dụng của NHTM Tín dụng theo nghĩa phổ biến là quan hệ vay mượn có hoàn tra giữa hai chủ thể, bao gồm hai mặt cơ bản: Một là quan hệ vay mượn, hai là quan hệ hoàn trả. Hoạt động tín dụng của NHTM là việc thỏa thuận giữa Ngân hàng với các tô chức, cá nhân về việc chuyên nhượng tạm thời, có hoan trả một khoản tiền trong một khoảng thời gian nhất định.
Theo quy định tại khoản 14, Điều 4, Luật số 47/2010/QH12 của Quốc hội: Luật các tô chức tin dụng Việt Nam, “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận dé tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Trong các nghiệp vụ tín dụng, nghiệp vụ cho vay thường cho vay thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong hoạt động tín dụng của NHTM. Theo quy định tại khoản 1, điều 3, Quyết định số 1627/2001/QD-NHNN ngày 31/12/2001, “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, hoạt động tín dụng của NHTM được phân tích căn cứ trên số liệu cho vay của ngân hàng TMCP phát triển TP.HCM chỉ nhánh Hoàn Kiếm.
Nguyên tắc tín dụng của NHTM Tín dụng ngân hàng được thực hiện trên 2 nguyên tắc sau: + Khách hàng phải có khả năng hoàn trả nợ gốc và lãi đây đủ, đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đông tín dụng. Đây là nguyên tắc quan trọng hàng đầu của ngân hàng khi thực hiện cấp tín dụng cho khách hàng. Nguyên tắc này phản ánh đúng bản chất quan hệ tín dụng — nguyên tắc có hoàn trả. Nếu trong quá trình hoạt động kinh doanh, các khoản cấp tín dụng không được hoàn trả nợ gốc và lãi đầy đủ, đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng sẽ gây ra tình trang mat cân đối nguồn vốn của ngân hàng, ảnh hưởng đến tính thanh khoản của ngân hàng.
Do đó, khi thực hiện cấp tín dụng cho khách hàng, ngân hàng cần thầm định khoản cấp tín dụng dé đưa tra thời hạn trả nợ phù hợp và khách hàng vay vốn phải cam kết trả nợ gốc và lãi theo đúng thỏa thuận với ngân hàng. Điều này đòi hỏi các cán bộ nghiệp vụ của ngân hàng phải có năng lực thấm định, đánh giá khả năng tài chính, khả năng hoàn trả nợ gốc và lãi của khách hàng. Điều này sẽ đảm bảo cho khoản vay được thu hồi theo đúng thời han đã thỏa thuận trong hop đồng tín dụng. + Khách hàng phải đảm bảo sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hop dong tin dụng.
Việc khách hang sử dung vốn vay đúng mục dich sé đảm bảo được nguồn trả nợ cho ngân hàng. Khi ngân hàng thực hiện cấp tín dụng cho một khách hàng, ngân hàng thực hiện thâm định mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng thông qua phương án vay vốn khách hàng cung cấp. Ngân hàng chỉ giải ngân cho khách hàng khi khách hàng sử dụng vốn vay vào đúng mục đích đã cung cấp cho ngân hàng. Trong trường hợp khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, sẽ tạo ra rủi ro không có nguồn tiền trả nợ theo đúng cam kết đã ký với ngân hàng bởi mỗi phương án kinh doanh sẽ tạo ra dòng tiền khác nhau.
Việc sử dụng vốn sai mục đích sẽ làm tăng nguy cơ xảy ra việc khách hàng không hoàn trả được vốn vay cho ngân hàng. Đề đảm bảo việc khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích, ngân hàng cần thực hiện giám sát thường xuyên, giám sát sau vay đối với khoản tín dụng. Việc giám sát sẽ được thực hiện đột xuất và định kỳ theo quy định của ngân hàng. Qua việc giám sát khoản vay, ngân hàng sẽ năm bắt được tình hình hoạt động kinh doanh của khách hàng, từ đó đánh giá được vốn vay có được sử dụng đúng mục đích và hiệu quả hay không và khách hàng có khả năng hoàn trả cho ngân hàng theo đúng cam kết hay không.
Phân loại tín dụng + Căn cứ theo thời gian của khoản cap tin dung phân chia thành: - Cho vay ngắn hạn: là các khoản cho vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng - Cho vay trung hạn: là các khoản cho vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng - Cho vay dài hạn: là các khoản cho vay có thời hạn trên 60 tháng. Khi thực hiện cấp tín dụng cho khách hàng, các khoản vay trung và dai hạn thường tiềm an khả năng khách hàng không hoàn trả được nợ gốc lãi do thời gian càng dài, rủi ro càng tăng cao. Để bù đắp cho khoản rủi ro này, ngân hàng thường có các chính sách tín dụng khác nhau áp dụng đối với khoản vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. + Căn cứ theo loại tiền cấp tín dụng (cho vay) - Cho vay bằng VND: Tô chức tin dụng thực hiện cấp tín dụng cho khách hàng vay vốn bằng đồng Việt Nam.
Hình thức cho vay bằng VND thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ của tô chức tin dụng. - Cho vay bằng ngoại tệ: Tổ chức tin dụng thực hiện cấp tin dụng cho khách hàng vay vốn bằng các loại ngoại tệ như USD, EUR. Đối tượng khách hàng vay vốn theo hình thức này thường là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, phát sinh các nhu cầu vốn thanh toán ra nước ngoài và/hoặc có nguồn thu bằng ngoại tệ từ hoạt động sản xuất kinh doanh. Việc cho vay bằng ngoại tệ thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hồi và của NHNN trong từng thời ky.
Trong 02 loại hình cấp tín dụng theo tiêu chí loại tiền cho vay, hình thức cho vay bằng ngoại tệ thường có mức độ rủi ro cao hơn. Nếu như việc cho vay bang VND chỉ tiềm ấn rủi ro do các yếu tổ chính sách, từ phía khách hang, từ phía ngân hàng. thì việc cho vay bằng ngoại tệ chịu tác động nhiều của yếu tổ tỷ giá. Điều này khiến cho việc cho vay bằng ngoại tệ có mức độ rủi ro cao hơn và ngân hàng thường kiểm soát chặt chẽ đối với khoản vay bằng ngoại tệ.
+ Căn cứ theo đối twong được cấp tín dụng: -Cho vay khách hàng cá nhân/hộ kinh doanh: Tổ chức tín dụng thực hiện cấp tín dụng cho nhóm đối tượng khách hàng là cá nhân/hộ kinh doanh. Nhóm đối tượng khách hàng này thường vay vốn với mục đích tiêu dùng hoặc kinh doanh với số tiền vay thấp, thời gian vay dài. Khi cho vay đối với khách hàng cá nhân/hộ kinh doanh, ngân hàng thường gặp khó khăn trong việc kiêm soát tình hình tài chính của khách hàng do đây là nhóm đối tượng khách hàng sử dụng nhiều giao dịch tiền mặt, không thông qua tài khoản tại ngân hàng cho vay. Bên cạnh đó, thời gian cho vay dai cũng tiềm an rủi ro khi khách hàng gặp khó khăn về tài chính mà ngân hang không kiểm soát được chặt chẽ.
-Cho vay khách hàng doanh nghiệp: Tổ chức tin dụng thực hiện cấp tín dụng cho nhóm đối tượng khách hàng là doanh nghiệp với mục dich chủ yếu là vay bé sung vốn lưu động, đầu tư tài sản cố định. Với nhóm đối tượng khách hàng này, sỐ tiên vay lớn hơn và thời gian vay ngăn hạn với mục đích bô sung von lưu động va 10 trung dài hạn với mục đích đầu tu tài sản cố định. Thường việc cho vay đối với các doanh nghiệp được ngân hàng kiêm soát thông qua việc yêu cầu khách hàng chuyền doanh thu, thực hiện giao dich qua tai khoản thanh toán mở tại TCTD cho vay, dam bảo cho việc thu hồi khoản vay đúng hạn. -Cho vay các định chế tài chính: Tổ chức tín dụng thực hiện cấp tín dụng cho đối tượng khách hàng là các định chế tài chính khác trên thị trường liên ngân hàng.
Hoạt động cho vay tuân thủ chặt chẽ theo các quy định của Ngân hàng Nhà nước và Pháp luật, khả năng hoàn trả khoản vay ở mức cao đồng nghĩa với mức độ rủi ro của khoản vay thấp. Rúi ro tín dung của ngân hàng thương mại 1. Khai niệm rủi ro tín dung Có nhiều định nghĩa về rủi ro tin dung, có thé kế đến một số khái niệm cụ thé như: Theo Thomas P.Fitch: “Rui ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ. Cùng với rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay của ngân hàng.” Anthony Sauders (2007) định nghĩa: “Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm năng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản vay của ngân hàng không thể được thực hiện cả về số lượng và thời hạn”.
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 3, Thông tu số 02/2013/TT-NHNN của Ngân hang Nhà nước ngày 21/01/2013, “Rui ro tín dụng trong hoạt động ngân hang là ton thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tô chức tin dụng, chi nhánh ngân hang nước ngoải do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện mộtphần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Thông qua những định nghĩa trên về rủi ro tín dụng, có thé khái quát rủi ro tin dụng trong hoạt động ngân hàng là khả năng tốn thất xảy ra trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng do khách hàng không thực hiện hoặt không có khả năng thực hiện được nghĩa vụ (bao gồm trả nợ lãi, nợ gốc) của mình theo thỏa thuận đã ký với ngân hàng, dẫn đến những tốn thất về tài chính cho ngân hàng. Phan loại rủi ro tín dụng Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được chia thành các loại sau: (Trần Huy Hoàng, 2010. Quản trị ngân hàng, TP.
Hồ Chi Minh: Nhà 11 xuất bản Lao động xã hội) “(1) Rủi ro giao dịch: phát sinh do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay đánh giá khách hàng.