Chương 1: Những nhân tố tác động đến sự chuyển biến trong đời sống văn hoá của cộng đồng người Ca Dong ở huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi (1994 - 2020). NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ CHUYỂN BIẾN TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HOÁ CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI CA DONG Ở HUYỆN SƠN TÂY, TỈNH QUẢNG NGÃI (1994 - 2020) 1. Điều kiện tự nhiên Sơn Tây là huyện miền núi nằm ở cực tây tỉnh Quảng Ngãi. Phía Đông và Đông nam giáp huyện Sơn Hà; phía Tây nam giáp các huyện Đắk Tô, Đắk Hà, Kon Plông (tỉnh Kon Tum); phía Bắc giáp huyện Trà My (tỉnh Quảng Nam) và huyện Tây Trà.
Diện tích 380,74 km2, chiếm 7,42% diện tích tự nhiên toàn tỉnh Quảng Ngãi [65, tr. Về địa hình, huyện Sơn Tây có địa hình phức tạp, chủ yếu là đồi núi cao hiểm trở, núi cao chiếm khoảng 4/5 diện tích toàn huyện, nối liền với núi rừng bắc Kon Tum, thuộc dạng khối đá biến chất rất cổ, có nhiều mạch granit cắt ngang. Các khối đá granit tạo nên những đỉnh núi cao như: Hoăn Plây cao 1.900m ở Sơn Màu, núi Rét cao 1.794m ở Sơn Tinh, núi Gò Tăng cao 1.680m, Azin đều cao từ 1. Ngoài ra, xen kẽ giữa những dãy núi cao là các dải thung lũng hẹp có độ dốc lớn và bị chia cắt với nhiều sông suối.
Bên cạnh đó, Sơn Tây có mạng lưới sông suối khá nhiều. Các sông suối trong toàn huyện có hướng chảy từ Tây sang Đông và theo hướng Bắc Nam tạo nên độ chia cắt mạnh. Hai con sông chính là sông Đăk Rinh và sông Đăk Xà Lò, và phân bố với mật độ cao, các sông suối có đặc điểm chung là ngắn, dốc, chảy trên vùng đồi núi cao nên lưu lượng dòng chảy lớn, bình quân trên 100m3/giây vào mùa mưa. Sông Rinh có nguồn nước từ cao nguyên Kon Tum đổ về, ở địa hạt Sơn Tây có các phụ lưu như Nước Lao, Nước Bua (Sơn Mùa), Ra Manh, Ra Pân, Huy Măng (Sơn Dung), Nước Màu (Sơn Tân)… có vị trí vô cùng quan trọng trong việc cung cấp nước.
Tuy nhiên, mùa mưa nước lũ dồn về nhanh dễ gây ra các hiện tượng lũ quét, sạt lở bờ sông, bờ suối, lở núi; mùa 10 khô dòng chảy nhỏ, đây cũng chính là những yếu tố bất lợi ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt và sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp của người dân. Về khí hậu, huyện Sơn Tây do nằm sâu trong lục địa và nhiều núi cao, kết hợp với vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu vùng Tây Nguyên, vùng duyên hải Nam Trung Bộ và bị chi phối bởi điều kiện địa hình phía Đông dãy Trường Sơn với những đặc trưng chủ yếu là nóng ẩm, nhiệt độ cao, ánh sáng nhiều, lượng mưa khá lớn nên cũng gây ra lở núi thường xuyên. Sơn Tây có hai mùa mưa và mùa khô rõ rệt. Lượng mưa trung bình hàng năm là 2.
Nhiệt độ thường thấp hơn 1 - 2 độ c so với đồng bằng; trung bình hàng năm là 23,5 độ c, cao nhất là 36 - 37 độ c (thường diễn ra vào các tháng 11, tháng chạp). Độ ẩm trung bình hàng năm từ 88 - 90%. Chính vì thế, khí hậu Sơn Tây rất thích hợp cho sức khoẻ con người nơi đây, thích hợp cho các loại cây trồng, vật nuôi phát triển,. Về đất đai, phần lớn đất đai là địa hình đồi núi, độ dốc cao, thấp đột biến nên quá trình xói mòn, rửa trôi tương đối lớn.
Đất của huyện Sơn Tây được chia làm 02 nhóm chính.500 ha chiếm 66,7% diện tích đất toàn huyện, loại đất này được phân bổ khắp nơi trên địa bàn huyện. Nhóm đất này phù hợp cho người dân canh tác các loại cây công nghiệp dài ngày, cây lâm nghiệp và một số loại cây lương thực lấy củ và lấy hạt (sắn, ngô.); Nhóm đất phù sa Fluvisols: Đất phù sa được tạo thành chủ yếu do quá trình lắng đọng phù sa của các dòng sông như Đăk Rinh, sông Nước Bua, sông Ra Manh, Sông Ra Pân và các suối Nước Lác, Xà Ruông, Nước Min, Tà Mực. Loại đất này phù hợp cho người dân Ca Dong canh tác các loại cây lương thực lấy hạt (lúa, ngô.) và chăn nuôi gia súc, gia cầm. Tuy nhiên, do đặc điểm hình thành trên các sản phẩm sườn tích, lũ tích nên có thành phần cơ giới thô, bề mặt nghiên, dễ bị rửa trôi, xói mòn.
Về tài nguyên rừng và động thực vật rừng, theo số liệu thống kê năm 2016. Diện tích đất lâm nghiệp của huyện là 28.476,03 ha (Đất rừng sản xuất: 11 10.124,01 ha; đất rừng phòng hộ: 18. Mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, có độ ẩm cao, bức xạ nhiệt đầy đủ là điều kiện thuận lợi để các cây nhiệt đới phát triển thành nhiều kiểu rừng có ưu thế rõ rệt. Thực vật rừng của huyện có các loại cây có giá trị kinh tế như: Gỗ Sưa, Gỗ Bông Lau, Sơn Huyết, Chò Chỉ, Chò Nâu, Giổi, Giẻ Cau, Giẻ Đỏ, Cánh kiến, Lim, Gõ, Mun.
Ngoài gỗ, còn có nhiều loại tre, nứa, song, mây và nhiều loại thảo dược quý như sa nhân, sâm, trầm hương và nhiều loại rau quả như nấm, măng. Bên cạnh đó, xen lẫn giữa những núi đồi, sông suối là những đồng cỏ, là môi trường lý tưởng cho chăn nuôi gia súc. Núi rừng Sơn Tây cũng là nơi sinh sống của hàng trăm loài chim thú như lợn rừng, khỉ, gà lôi, công, trĩ. một vài nơi còn có nhiều loại động vật quý hiếm như gấu, bò tót, hổ, mang lớn, nhím… Về tài nguyên khoáng sản, trên địa bàn huyện cũng có một trữ lượng lớn mỏ cao lanh, graphít, đá cao tuổi, đá vôi, đất làm gạch ngói, quặng sắt, quặng vàng, nhiều nguồn suối nước nóng và một số loại khoáng sản, vật liệu xây dựng là tiền đề rất quan trọng để phát triển kinh tế như đất sét, đá Granit, sỏi, cát.
Khoáng sản quý hiếm: có vàng sa khoáng nằm rải rác ở các sông suối và một số khe cạn. Có thể thấy rằng, đời sống cộng đồng người Ca Dong bị tác động rất lớn từ những thuận lợi và khó khăn của điều kiện tự nhiên. Địa hình phức tạp, nhiều núi cao vực sâu cản trở giao thông; đất đồi núi, đất dốc tụ dễ bị bạc màu, trôi rửa, bị chia cắt mạnh bởi nhiều sông suối nên gây trở ngại cho sản xuất nông - lâm nghiệp, đời sống của người Ca Dong vì thế còn bấp bênh. Do năng suất trồng lúa thấp, nên họ còn phải đốt phá rừng để làm thêm nương rẫy, phải săn bắn, đánh cá, hái lượm hằng ngày để bù đắp vào chỗ thiếu hụt.
Đường sá đi lại khó khăn, lưu thông hàng hóa kém phát triển, nên mức sống nơi đây nhìn chung còn thấp. Vì phần lớn phụ thuộc vào tự nhiên nên trước đây cũng chưa có một sự chuyển biến nào lớn trong đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của người Ca Dong. Chính sách của Đảng, Nhà nước đối với vùng dân tộc thiểu số và miền núi Quan tâm đến phát triển đời sống kinh tế - văn hoá cho đồng bào dân tộc thiểu số đã được Đảng, Nhà nước thể chế bằng nhiều nghị quyết, chỉ thị. Đặc biệt, sau những năm đất nước đổi mới, Đảng và Chính phủ đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng để phát triển kinh tế - văn hoá miền núi.
Ngày 13/3/1990 Hội đồng Bộ trưởng (HĐBT) nay là Chính phủ đã ra quyết định số 73/HĐBT về một số chủ trương, chính sách cụ thể phát triển kinh tế - xã hội miền núi. Sau đó là Nghị quyết số 04 NQ/TƯ (khoá VII) của Đảng về một số nhiệm vụ văn hoá và văn nghệ những năm trước mắt ban hành ngày 14/01/1993 và Quyết định số 25/TTg ngày 01/01/1993 của Thủ tướng Chính phủ, xác định “Đầu tư 100% cho việc sưu tầm, chỉnh lý, biên soạn, quản lý lâu dài các sản phẩm văn hoá tinh thần như: văn học dân gian, các điệu múa, các làn điệu âm nhạc của các dân tộc, giữ gìn các nghề thủ công truyền thống, các loại nhạc cụ dân tộc…”. Sau khi tiếp nhận Nghị định của Chính phủ lập lại huyện Sơn Tây như trước. Ngày 20/8/1994 với sự chỉ đạo sâu sát của Tỉnh ủy, UBND Tỉnh, Huyện ủy và UBND huyện Sơn Tây đã nhanh chóng tập trung thực hiện những mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm trước mắt, chỉ tiêu, kế hoạch biện pháp hành động năm 1995, lên kế hoạch xin vốn đầu tư của cấp trên và quyết tâm khắc phục những khó khăn, nhằm tạo bước phát triển mới về kinh tế, văn hóa - xã hội và nâng cao đời sống cho cộng đồng người Ca Dong.
Bước vào những năm đầu của thế kỷ XXI, cùng với sự phát triển đi lên của đất nước, trên cơ sở tiền đề tư tưởng và kết quả to lớn trong công cuộc thực hiện đường lối đổi mới của Đảng 15 năm qua (1986 - 2000), Đảng bộ huyện Sơn Tây tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới. Trên cơ sở những kết quả đạt được trong nhiệm kỳ 2005 - 2010, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XVII (2015), nhấn mạnh: 13 “Tiếp tục phát triển kinh tế - xã hội nhằm thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo gắn với giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, cơ bản là phát triển nông, lâm nghiệp, tăng cường sử dụng giống cho năng suất cao. Đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng, phát triển tiểu thủ công nghiệp và thương mại, dịch vụ… Trên cơ sở đó, cơ cấu kinh tế của huyện được xác định là phát triển nông - lâm - công nghiệp, thương mại và dịch vụ” [2, tr. Ưu tiên bố trí ngân sách địa phương các cấp và huy động, lồng ghép các nguồn lực thực hiện chương trình, trong đó ưu tiên các xã điểm, xã yếu và xã phấn đấu về đích sớm.