Chương I: Một số vấn đề lý luận về chứng minh trong vụ án hình sự và chứng minh trong vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Chương II: Quy định Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam năm 2015 và thực trạng chứng minh trong vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội. Chương III: Yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả chứng minh trong vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. 6 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỨNG MINH TRONG VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ CHỨNG MINH TRONG VỤ ÁN LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN 1.
Khái niệm, đặc điểm chứng minh trong vụ án hình sự 1. Khái niệm Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) Việt Nam đóng vai trò và ý nghĩa vô cùng quan trọng trong hệ thống pháp luật hình sự ở Việt Nam, có nhiệm vụ bảo đảm phát hiện chính xác và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Nội dung của BLTTHS quy định trình tự, thủ tục từ khi tiếp nhận tin báo, tố giác tội phạm, kiến nghị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và một số thủ tục thi hành án hình sự; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các CQTHTT; nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của những người THTT; quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng (TGTT), của các cơ quan, tổ chức và công dân; …. Với hệ thống các nguyên tắc trong BLTTHS là những phương châm, định hướng chi phối, điều chỉnh tất cả hoạt động TTHS.
Tính định hướng, điều chỉnh của nguyên tắc thể hiện ở tính bắt buộc phải tuân thủ của các chủ thể tố tụng mà đặc biệt là CQTHTT, người THTT. Các chủ thể đều có nghĩa vụ nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của pháp luật TTHS, thực hiện thẩm quyền, quyền hạn; tuân thủ các nguyên tắc đã được pháp luật quy định. Theo đó, về vấn đề xác định sự thật của vụ án thì trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền THTT. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội được quy định tại điều 15 trong BLTTHS.
Tuy nhiên, BLTTHS chỉ quy định về trách nhiệm chứng minh, còn 7 đối với khái niệm “chứng minh trong vụ án hình sự” thì chúng ta cần làm rõ từng thuật ngữ, nội hàm của từng nội dung. Theo Đại từ điển Tiếng Việt giải thích “chứng minh” có nghĩa là: “Làm cho thấy rõ là có thật, là đúng bằng lý lẽ, cứ liệu” hoặc “Dùng lý luận để khẳng định sự đúng hoặc không đúng của một mệnh đề dựa vào những định lý, định nghĩa, tiền đề đã biết” [24, tr. Thuật ngữ “chứng minh” còn được hiểu là xác định có căn cứ đúng hay sai có hay không dùng suy luận logic để vạch rõ vấn đề [6, tr239]. Như vậy hiểu theo nghĩa thông thường, chứng minh là một hoạt động nhận thức chân lý của con người, quá trình chứng minh tiến hành trong nhiều lĩnh vực, tuy nhiên đặc điểm chung là việc chủ thể sử dụng phương pháp lí luận, suy luận logic để làm sáng tỏ sự thật trên cơ sở thực tế khách quan, khẳng định có căn cứ là đúng hay sai, có hay không tính đúng đắn của một vấn đề nào đó.
Chứng minh trong VAHS là một dạng của chứng minh nói chung. Như chúng ta đã biết, tội phạm là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội vô cùng phức tạp, đã xảy ra trong quá khứ; người phạm tội luôn tìm cách che giấu hành vi đã thực hiện nhằm trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật. Khi đó, CQTHTT, người THTT lại không được chứng kiến toàn bộ diễn biến hành vi phạm tội, để giải quyết VAHS họ phải trải qua một quá trình nhận thức về sự việc phạm tội đã xảy ra. Việc nhận thức về VAHS là việc phản ánh một cách khách quan toàn bộ những diễn biến về vụ án hình sự.
Hay nói cách khác đó là một quá trình tái hiện lại chính xác, toàn cảnh “bức tranh” về vụ việc phạm tội đã xảy ra. Theo đó, những người THTT phải áp dụng các biện pháp khác nhau mà pháp luật cho phép theo một trình tự thủ tục nhất định để phát hiện, thu thập, bảo quản, kiểm tra, nhận định, đánh giá các thông tin mà sự việc phạm tội để lại trong thế giới khách quan dưới hai hình thức phản ánh trong môi trường vật chất và cả bên trong ý thức của con người. Chứng minh trong VAHS phải tuân thủ những quy luật chung của quá trình nhận thức mà chủ nghĩa Mác -Lênin đã chỉ ra, đó là “từ trực quan sinh 8 động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn” [21, Tr.266] đó là con đường nhận thức hiện thực khách quan. Trong thế giới khách quan, không có gì là con người không nhận thức được, mà chỉ có những cái con người chưa nhận thức được nhưng dần dần cũng sẽ nhận thức được.
Vụ án hình sự là sự kiện, vật chất tồn tại khách quan, tồn tại biện chứng với sự vật khác trong thế giới khách quan, tuân theo quy luật của thế giới khách quan. Chứng minh trong VAHS là quá trình nhận thức về sự kiện phạm tội đã xảy ra trong quá khứ của CQTHTT thông qua việc phát hiện, thu thập, bảo quản, kiểm tra, nhận định đánh giá các thông tin mà sự việc phạm tội để lại trong thế giới vật chất và cả trong ý thức của người biết về sự việc phạm tội. Quá trình này diễn ra theo một trình tự được BLTTHS quy định giúp CQTHTT “xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội, cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án”[23]. Như vậy, chứng minh trong VAHS là quá trình khôi phục lại sự thật khách quan của vụ án, là quá trình nhận thức sự thật khách quan và xác định sự đồng nhất giữa sự vật hiện tượng này, có mối quan hệ giữa sự vật hiện tượng trong VAHS đã xảy ra với các đối tượng nhất định, ngoài ra còn phải xác định về sự vật, hiện tượng sẽ xảy ra hoặc có thể sẽ xảy ra.TS Nguyễn Ngọc Chí – Khoa Luật Đại học Quốc Gia Hà Nội định nghĩa chứng minh trong TTHS là: “quá trình các chủ thể của TTHS trên cơ sở quy định của pháp luật TTHS tiến hành phát hiện, thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ và sử dụng các chứng cứ thu thập được làm phương tiện, căn cứ để xác định, làm rõ về tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội cũng như tất cả những vấn đề liên quan đến vụ án”[15].
Chứng minh là quá trình đi tìm sự thật khách quan của vụ án, chứng minh trong TTHS phải giải quyết hàng loạt các vấn đề đặt ra của VAHS như: Đối tượng, phạm vi chứng minh, các bước tiến hành trong quá trình chứng minh.tất cả đều được điều chỉnh bằng quy phạm pháp luật tố tụng. Vì vậy, chứng minh trong VAHS của các chủ thể là phải tuân thủ pháp luật để giải quyết các yêu cầu đặt 9 ra trong quá trình chứng minh VAHS. Một số tác giả cho rằng: Chứng minh trong TTHS là quá trình các CQTHTT, người THTT trên cơ sở tuân thủ các quy định của pháp luật TTHS tiến hành phát hiện, thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ và sử dụng các chứng cứ này làm phương tiện, căn cứ để xác định, làm rõ tất cả những vấn đề liên quan đến VAHS mà những vấn đề này luật quy định các CQTHTT cần phải biết khi giải quyết VAHS[8,tr. Chúng ta đã biết mục đích của thu thập chứng cứ là để chứng minh VAHS, chủ thể thu thập chứng cứ không giới hạn chỉ là CQTHTT và người THTT mà còn có các chủ thể khác nữa.
Do vậy, ở khái niệm này đã thiếu về mặt chủ thể. Để giải quyết đúng đắn VAHS, các CQTHTT và người THTT có trách nhiệm áp dụng mọi biện pháp luật định để chứng minh sự thật của vụ án. Những vụ án xảy ra luôn để lại những dấu vết trong thế giới khách quan, được con người và môi trường vật chất phản ánh lại[7,tr8-9]. Chứng minh trong VAHS theo quy định BLTTHS là một quá trình được bắt đầu từ khi có tin báo, tố giác tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố cho đến khi khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử.
Mỗi giai đoạn chứng minh lại mang ý nghĩa, nội dung đặc thù từng giai đoạn nên trách nhiệm của các CQTHTT và người THTT sẽ có sự khác nhau tương đối mà vẫn đòi hỏi phải tuân theo quy định của BLTTHS. Từ những nhận định như trên, theo quan điểm của chúng tôi: “Chứng minh trong VAHS là hoạt động các chủ thể TTHS trên cơ sở quy định của pháp luật TTHS tiến hành phát hiện, thu thập, bảo quản, kiểm tra, nhận định, đánh giá chứng cứ và từ đó làm cơ sở để xác định tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội và toàn bộ các vấn đề trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến vụ án nhằm làm rõ sự phù hợp giữa thực tế khách quan với các dấu hiệu cấu thành tội phạm theo quy định của BLHS”. Khái niệm này đã chỉ ra những thuộc tính cơ bản của chứng minh trong VAHS của các chủ thể trên cơ sở pháp luật TTHS để làm sáng tỏ sự thật khách quan, đảm bảo tính công bằng, chính xác. Chủ thể chứng minh và nghĩa vụ chứng minh Chủ thể chứng minh: Hệ thống tố tụng của nước ta có sự kết hợp giữa hệ thống tố tụng tranh tụng và hệ thống tố tụng thẩm vấn, nhưng chủ yếu về mô hình tố tụng thẩm vấn[12], căn cứ vào vai trò của các chủ thể đối với hoạt động tố tụng để phân các chủ thể thanh hai nhóm: - Chủ thể THTT: Cơ quan điều tra (CQĐT), Viện kiểm sát (VKS), TA.