Giới thiệu dự án

Hoạt động thu thập chứng cứ giữ vai trò nền tảng trong toàn bộ tiến trình tố tụng hình sự (TTHS) tại Việt Nam. Theo tinh thần Nghị quyết số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, mục tiêu cốt lõi của nền tư pháp là "Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa". Trong thực tiễn xét xử, danh ngôn của triết gia Francis Bacon luôn là kim chỉ nam cảnh tỉnh: "Một lần phán quyết không công bằng, hậu quả của nó sẽ tương đương với mười lần phạm tội". Bất kỳ sai sót nào trong khâu thu thập chứng cứ ban đầu đều có thể dẫn tới hậu quả nặng nề: làm oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm, gây suy giảm nghiêm trọng niềm tin vào công lý.

       QUY TRÌNH CHỨNG MINH TỐ TỤNG HÌNH SỰ
[Phát hiện dấu vết] ➔ [Thu thập chứng cứ] ➔ [Kiểm tra & Đánh giá] ➔ [Truy tố & Xét xử]
                                ▲
                    (Giai đoạn trọng tâm mở đầu)

Thực trạng tư pháp giai đoạn áp dụng Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 cho thấy tỷ lệ các vụ án bị trả hồ sơ để điều tra bổ sung theo Điều 168 và Điều 179, cũng như các vụ án bị đình chỉ, tạm đình chỉ hoặc kháng cáo hủy án vẫn còn chiếm tỷ trọng đáng kể. Nguyên nhân trực tiếp xuất phát từ các vi phạm thủ tục tố tụng trong hoạt động thu thập chứng cứ, sự nhận thức chưa đầy đủ về các thuộc tính của chứng cứ và tính chủ quan, duy ý chí của một bộ phận người tiến hành tố tụng (THTT).

Đề tài khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật: "Thu thập chứng cứ trong tố tụng hình sự Việt Nam" do sinh viên Trần Thị Thúy thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Lê Nguyên Thanh (Khoa Luật Hình sự – Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh) đã giải quyết toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên.

Mục tiêu nghiên cứu cụ thể của đề tài:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận: Làm rõ bản chất nhận thức luận, khái niệm, đặc điểm, phương pháp luận biện chứng và các thuộc tính pháp lý cơ bản của chứng cứ trong TTHS.
  2. Phân tích khung pháp lý chuẩn hóa: Đánh giá toàn diện các quy định của BLTTHS năm 2003 và Pháp lệnh Tổ chức Điều tra hình sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) về thẩm quyền, trình tự, biện pháp thu thập chứng cứ của Cơ quan điều tra (CQĐT), Viện kiểm sát (VKS), Tòa án và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.
  3. Đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp: Chỉ rõ những sai lầm nghiệp vụ thường gặp của Điều tra viên, Kiểm sát viên; từ đó đưa ra hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật thực định và giải pháp nâng cao hiệu quả thu thập chứng cứ.

Phạm vi và giới hạn nghiên cứu:

  • Khách thể nghiên cứu: Hoạt động thu thập chứng cứ và các quan hệ pháp luật tố tụng hình sự phát sinh giữa các chủ thể tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng (TGTT).
  • Giới hạn thời gian - pháp lý: Tập trung vào các quy định của BLTTHS năm 2003, Pháp lệnh Tổ chức Điều tra hình sự năm 2004/2009 và thực tiễn xét xử giai đoạn 2010 – 2014.

Phân tích và thiết kế giải pháp

Phân tích hiện trạng

Hoạt động thu thập chứng cứ trong lịch sử lập pháp và tư pháp hình sự chịu sự chi phối của các mô hình tố tụng khác nhau:

Tiêu chí so sánh Mô hình tố tụng thẩm vấn (Inquisitorial System) Mô hình tố tụng tranh tụng (Adversarial System) Mô hình TTHS Việt Nam (BLTTHS 2003)
Chủ thể có nghĩa vụ chứng minh Cơ quan công quyền đóng vai trò chủ đạo tuyệt đối. Các bên đương sự (Bên buộc tội và Bên bào chữa) bình đẳng thu thập. Cơ quan THTT (CQĐT, VKS, Tòa án) theo Điều 10 BLTTHS 2003.
Quyền của bên bào chữa Bị hạn chế, chủ yếu tham gia ở giai đoạn xét xử. Toàn quyền thu thập và xuất trình chứng cứ độc lập trước Tòa. Có quyền thu thập tài liệu, đồ vật nhưng phải qua cơ quan THTT hợp pháp hóa.
Tính hợp pháp & hình thức Chú trọng bản chất sự thật khách quan của vụ án. Coi trọng tuyệt đối quy tắc loại trừ chứng cứ vi phạm thủ tục. Kết hợp chặt chẽ 3 thuộc tính: Khách quan, Liên quan và Hợp pháp (Điều 64).
Ưu điểm Tận dụng tối đa sức mạnh điều tra chuyên nghiệp của Nhà nước. Đảm bảo tính dân chủ, bình đẳng tối đa cho người bị buộc tội. Bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất, tránh bỏ lọt tội phạm và bảo vệ quyền công dân.
Nhược điểm Dễ rơi vào xu hướng buộc tội một chiều, lạm quyền, bức cung. Chi phí tố tụng cao, kết quả phụ thuộc nhiều vào năng lực luật sư. Tiềm ẩn nguy cơ vi phạm thủ tục nếu Kiểm sát viên không giám sát chặt chẽ.

Ma trận định vị yêu cầu chuẩn hóa quy trình (Phân loại MoSCoW):

  • Must have (Bắt buộc phải có): Tuân thủ tuyệt đối quy định về thẩm quyền và trình tự luật định; tôn trọng nguyên tắc suy đoán vô tội (Điều 9); bảo đảm 3 thuộc tính của chứng cứ (Điều 64, 66); ghi nhận đầy đủ chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội.
  • Should have (Nên có): Kịp thời đề ra yêu cầu điều tra bằng văn bản ngay từ giai đoạn thụ lý tin báo tội phạm (Điều 103, 112); tăng cường sự tham gia sớm của người bào chữa ngay từ khi khởi tố bị can.
  • Could have (Có thể có): Mở rộng quyền thu thập chứng cứ trực tiếp và độc lập cho luật sư bào chữa; áp dụng trang thiết bị kỹ thuật số chuyên dụng trong ghi nhận hiện trường.
  • Won't have (Tuyệt đối không áp dụng): Nghiêm cấm mọi hành vi bức cung, dùng nhục hình, mớm cung hoặc làm sai lệch hồ sơ vụ án.

Thiết kế hệ thống quy trình tố tụng

Quy trình thu thập chứng cứ được thiết kế như một hệ thống liên hoàn, bảo đảm dữ liệu đầu vào (nguồn chứng cứ) được chuyển đổi thành phương tiện chứng minh có giá trị pháp lý:

flowchart TD
    A["Nguồn tin báo / Tố giác tội phạm"] --> B["Giai đoạn Khởi tố: Xác minh & Khám nghiệm ban đầu (Đ.104)"]
    B --> C["Quyết định Khởi tố vụ án hình sự"]
    C --> D["Giai đoạn Điều tra (CQĐT chủ trì)"]
    D --> E1["Hỏi cung bị can / Lấy lời khai (Đ.35, Đ.65)"]
    D --> E2["Khám xét / Khám nghiệm hiện trường / Thực nghiệm (Đ.75)"]
    D --> E3["Trưng cầu giám định chuyên môn"]
    E1 & E2 & E3 --> F["Kiểm tra 3 thuộc tính: Khách quan - Liên quan - Hợp pháp"]
    F --> G["VKS thực hành quyền công tố & Kiểm sát điều tra (Đ.37, Đ.112)"]
    G -- "Hồ sơ chưa đủ căn cứ" --> H["Trả hồ sơ điều tra bổ sung (Đ.168)"]
    H --> D
    G -- "Đủ chứng cứ chứng minh" --> I["Ban hành Cáo trạng truy tố"]
    I --> K["Tòa án xét xử & Đánh giá chứng cứ công khai tại phiên tòa"]

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Legal Framework Stack):

  • Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003: Nền tảng pháp lý cơ bản quy định chế định chứng cứ (Chương V), thẩm quyền của cơ quan THTT (Chương IV) và các biện pháp điều tra (Chương XI, XII, XIII, XIV).
  • Pháp lệnh Tổ chức Điều tra hình sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung 2009): Quy định chi tiết thẩm quyền điều tra của Bộ đội Biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Cảnh sát biển (Điều 19 đến 25).
  • Hệ thống Thông tư liên tịch (TTLT): Hướng dẫn công tác phối hợp liên ngành Công an – Viện kiểm sát – Tòa án trong tiếp nhận, xử lý tin báo và kiểm sát hoạt động điều tra.

Phương pháp luận nghiên cứu (Methodology)

Nghiên cứu được triển khai dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứngChủ nghĩa duy vật lịch sử:

  • Nguyên tắc nhận thức khách quan: Thừa nhận khả năng nhận thức chân lý vụ án thông qua các dấu vết vật chất và phi vật chất còn lưu lại trong thế giới khách quan.
  • Nguyên tắc vận động và phát triển: Nhận định chứng cứ luôn có sự thay đổi theo thời gian; do đó thu thập chứng cứ đòi hỏi tính khẩn trương, kịp thời nhằm ngăn ngừa việc biến dạng hoặc tiêu hủy dấu vết.
  • Nguyên tắc lịch sử - cụ thể: Xem xét hành vi phạm tội trong điều kiện không gian, thời gian và hoàn cảnh thực tế phát sinh hành vi.
  • Phương pháp nghiên cứu kết hợp:
    • Phương pháp phân tích - tổng hợp quy phạm: Mổ xẻ các điều luật trong BLTTHS 2003.
    • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu thẩm quyền giữa các cơ quan THTT và người TGTT.
    • Phương pháp thống kê thực tiễn: Đánh giá số liệu các vụ án bị hủy, sửa hoặc trả hồ sơ điều tra bổ sung.

Implementation và kết quả

Quy trình nghiệp vụ và các giai đoạn thu thập chứng cứ

Hoạt động thu thập chứng cứ được thực hiện qua 4 khâu kỹ thuật bắt buộc: Phát hiện $\rightarrow$ Ghi nhận $\rightarrow$ Thu giữ $\rightarrow$ Bảo quản.

+-----------------------------------------------------------------------------------+
|                        THUẬT TOÁN ĐÁNH GIÁ CHỨNG CỨ PHÁP LÝ                       |
+-----------------------------------------------------------------------------------+
INPUT: Tài liệu, đồ vật, lời khai (Nguồn chứng cứ thô)
OUTPUT: Chứng cứ hợp pháp đưa vào Hồ sơ vụ án (Case Dossier)

BƯỚC 1: KIỂM TRA TÍNH KHÁCH QUAN (Objectivity Check)
  IF (Nguồn thông tin phản ánh đúng hiện thực, không bị làm giả, không suy đoán) THEN
      Chuyển sang Bước 2
  ELSE
      LOẠI BỎ (Không có giá trị chứng minh)

BƯỚC 2: KIỂM TRA TÍNH LIÊN QUAN (Relevance Filter)
  IF (Thông tin/vật chứng có mối liên hệ nhân quả với hành vi phạm tội/đối tượng chứng minh Điều 63) THEN
      Chuyển sang Bước 3
  ELSE
      LOẠI BỎ (Không phục vụ giải quyết vụ án)

BƯỚC 3: KIỂM TRA TÍNH HỢP PHÁP (Legality Validation)
  IF (Chủ thể thu thập đúng thẩm quyền Điều 35, 37, 111) AND
     (Biện pháp thu thập đúng trình tự Điều 65: Khám nghiệm, Biên bản, Giám định) AND
     (Không vi phạm điều cấm: Không bức cung, không nhục hình, có chữ ký người TGTT) THEN
      CÔNG NHẬN LÀ CHỨNG CỨ HỢP PHÁP THEO ĐIỀU 64 BLTTHS 2003
  ELSE
      LOẠI BỎ (Vi phạm thủ tục tố tụng, không được dùng làm căn cứ buộc tội)
class EvidenceValidator:
    """Mô hình hóa quy trình xác thực chứng cứ theo chuẩn BLTTHS 2003."""
    
    def __init__(self, raw_evidence):
        self.evidence = raw_evidence

    def validate_admissibility(self) -> dict:
        is_objective = self.evidence.get("is_factual_and_authentic", False)
        is_relevant = self.evidence.get("relates_to_offense_or_culprit", False)
        is_legal = (
            self.evidence.get("authorized_officer", False) and
            self.evidence.get("statutory_procedure_followed", False) and
            not self.evidence.get("coercion_or_torture_used", True)
        )
        
        admissible = is_objective and is_relevant and is_legal
        return {
            "admissible_as_evidence": admissible,
            "attributes": {
                "objective": is_objective,
                "relevant": is_relevant,
                "legal": is_legal
            },
            "status": "ACCEPTED" if admissible else "REJECTED"
        }

Các biện pháp nghiệp vụ thu thập chứng cứ chi tiết:

  1. Thu thập nguồn chứng cứ là Lời khai:
    • Hỏi cung bị can (Điều 35 BLTTHS): Lập kế hoạch hỏi cung chi tiết, chuẩn bị tài liệu đấu tranh tâm lý, tuân thủ nguyên tắc khách quan, ghi biên bản trung thực, tuyệt đối không bức cung, mớm cung.
    • Lấy lời khai người làm chứng, người bị hại: Phải làm rõ nguồn gốc thông tin và lý do vì sao họ biết được tình tiết đó; nếu không giải thích được lý do thì lời khai không thể dùng làm chứng cứ (Điều 68, 69).
  2. Thu thập nguồn chứng cứ là Vật chứng (Điều 75 BLTTHS):
    • Tiến hành khám nghiệm hiện trường khẩn trương, khám xét đúng căn cứ lệnh; mô tả tỉ mỉ đặc điểm vật chứng (màu sắc, kích thước, khối lượng, vị trí phát hiện).
    • Niêm phong, đóng gói, chụp ảnh và lập biên bản có người chứng kiến để đảm bảo tính nguyên vẹn của vật chứng trong suốt quá trình bảo quản.

Đánh giá kết quả và các chỉ số cải thiện

Nghiên cứu đã chỉ ra các điểm bất cập cốt lõi dẫn đến sai sót của Điều tra viên và Kiểm sát viên:

  • Sai sót trong khám nghiệm hiện trường: Không ghi nhận hết các dấu vết vi vết; biên bản mô tả sơ sài làm mất giá trị chứng minh của vật chứng (chiếm ~30% nguyên nhân trả hồ sơ).
  • Vi phạm về thủ tục lấy lời khai: Thiếu chữ ký xác nhận, không giải thích quyền và nghĩa vụ tố tụng cho người tham gia tố tụng (~25%).
  • Lạm dụng biện pháp ngăn chặn: Tạm giam khi chưa đủ chứng cứ xác thực căn cứ phạm tội quả tang hoặc khẩn cấp.

Đổi mới và đóng góp

  1. Chuẩn hóa hệ thống lý luận về 3 thuộc tính của chứng cứ: Khóa luận phân tích sâu sắc mối quan hệ hữu cơ không thể tách rời giữa Tính khách quan, Tính liên quanTính hợp pháp. Một tài liệu dù có thật 100% nhưng thu thập sai thẩm quyền hoặc vi phạm thủ tục tố tụng thì hoàn toàn vô giá trị chứng minh.
  2. Làm rõ ranh giới thẩm quyền giữa Cơ quan THTT và Cơ quan được giao nhiệm vụ điều tra: Phân tích các giới hạn pháp lý của Hải quan, Kiểm lâm, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển theo Điều 111 BLTTHS 2003 và Pháp lệnh Điều tra hình sự 2004; giải quyết xung đột thẩm quyền khi xử lý các vụ án phức tạp.
  3. Phân biệt quyền thu thập tài liệu và quyền thu thập chứng cứ: Luận giải rành mạch rằng theo quy định của BLTTHS 2003, người bào chữa chỉ có quyền thu thập đồ vật, tài liệu; các tài liệu này chỉ trở thành chứng cứ khi được các cơ quan THTT tiếp nhận, kiểm tra và hợp pháp hóa vào hồ sơ vụ án.
  4. Đề xuất hoàn thiện cơ chế kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát: Khẳng định Kiểm sát viên phải chủ động đề ra yêu cầu điều tra bằng văn bản ngay từ khâu thụ lý nguồn tin báo tội phạm (Điều 103), không phó mặc hoàn toàn cho Cơ quan điều tra, giảm thiểu tỷ lệ trả hồ sơ bổ sung từ 15 - 20% xuống mức tối thiểu.

Ứng dụng thực tế và triển khai

Tình huống ứng dụng thực tiễn (Real-World Use Cases):

  • Hiện trường vụ án mạng/tai nạn giao thông: Hướng dẫn Điều tra viên quy trình bảo vệ hiện trường, chụp ảnh tỷ lệ, thu giữ dấu vết sinh học và lập biên bản khám nghiệm hiện trường theo chuẩn biểu mẫu tố tụng.
  • Vụ án kinh tế - tham nhũng: Quy trình thu giữ, niêm phong tài liệu kế toán, chứng từ điện tử nhằm ngăn ngừa việc tẩy xóa, làm sai lệch dữ liệu số.
  • Hoạt động của Viện kiểm sát: Mẫu hóa quy trình ban hành văn bản "Yêu cầu điều tra", xác định rõ những mâu thuẫn cần đối chất và các chứng cứ gỡ tội cần làm rõ trước khi phê chuẩn quyết định khởi tố bị can.

Lộ trình áp dụng và nâng cao hiệu quả tư pháp:

[Khâu 1: Chuẩn hóa nghiệp vụ] ➔ [Khâu 2: Tăng cường Kiểm sát] ➔ [Khâu 3: Tranh tụng tại Tòa]
- Tập huấn Điều tra viên        - KSV tham gia hỏi cung sớm    - Đánh giá chứng cứ công khai
- Số hóa hồ sơ vật chứng        - Kiểm sát hiện trường 100%    - Phán quyết dựa trên chứng cứ

Hạn chế và hướng phát triển

Hạn chế trong khuôn khổ pháp lý BLTTHS 2003:

  • Quyền của người bào chữa trong việc thu thập chứng cứ còn hạn chế, bị động, phụ thuộc hoàn toàn vào sự chấp thuận của cơ quan điều tra.
  • Chưa có quy định chi tiết về các biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt và chứng cứ kỹ thuật số (dữ liệu điện tử).
  • Cơ chế giám sát hoạt động hỏi cung bị can còn thiếu phương tiện kỹ thuật ghi âm, ghi hình có âm thanh bắt buộc.

Định hướng phát triển khoa học pháp lý:

  • Nghiên cứu đề xuất đưa chế định "Dữ liệu điện tử" thành một nguồn chứng cứ độc lập trong các lần sửa đổi Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp theo.
  • Hoàn thiện quy định bảo đảm tranh tụng bình đẳng: cho phép Luật sư độc lập xác minh, thu thập chứng cứ và lập hồ sơ bào chữa xuất trình trực tiếp tại phiên tòa.
  • Thể chế hóa nguyên tắc loại trừ chứng cứ bất hợp pháp (Fruit of the poisonous tree doctrine) một cách triệt để trong thực tiễn tư pháp Việt Nam.

Đối tượng hưởng lợi

  • Sinh viên & Học viên Luật học: Nguồn tài liệu chuyên khảo tham khảo sâu sắc về lý luận chứng cứ, phương pháp phân tích quy phạm và kỹ năng làm khóa luận tốt nghiệp ngành Luật Hình sự.
  • Điều tra viên & Cán bộ điều tra: Cẩm nang nghiệp vụ chuẩn hóa trình tự khám nghiệm, khám xét, lập biên bản và hỏi cung theo đúng quy chuẩn tố tụng, loại bỏ rủi ro sai sót nghiệp vụ.
  • Kiểm sát viên & Thẩm phán: Bộ công cụ tư duy pháp lý phục vụ kiểm sát hoạt động điều tra, đề ra yêu cầu điều tra chuẩn xác và đánh giá chứng cứ khách quan trước khi định tội danh.
  • Luật sư & Chuyên gia tư vấn pháp lý: Cơ sở lý luận vững chắc để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ, phát hiện các vi phạm tố tụng trong hồ sơ vụ án để yêu cầu điều tra bổ sung hoặc tuyên vô tội.

Câu hỏi thường gặp

1. Một tài liệu, đồ vật thu thập được ngoài thực tế có mặc nhiên trở thành chứng cứ trong vụ án hình sự không?

Không. Theo Điều 64 BLTTHS năm 2003, một thông tin, đồ vật chỉ trở thành chứng cứ khi hội đủ cả 3 thuộc tính: Tính khách quan (có thật), Tính liên quan (làm sáng tỏ tình tiết vụ án) và Tính hợp pháp (do chủ thể có thẩm quyền thu thập theo đúng trình tự, thủ tục luật định).

2. Người bào chữa (Luật sư) có quyền tự mình thu thập chứng cứ độc lập hay không?

Theo BLTTHS năm 2003, người bào chữa chỉ có quyền thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ thân chủ hoặc người biết việc. Các tài liệu này chỉ trở thành chứng cứ sau khi được cơ quan tiến hành tố tụng tiếp nhận, kiểm tra tính hợp pháp và đưa vào hồ sơ vụ án.

3. Hậu quả pháp lý của việc thu thập chứng cứ có hành vi bức cung hoặc dùng nhục hình là gì?

Mọi lời khai thu được do bức cung, dùng nhục hình đều bị coi là chứng cứ bất hợp pháp và bị loại trừ hoàn toàn khỏi giá trị chứng minh. Người thực hiện hành vi bức cung, nhục hình tùy theo tính chất, mức độ sẽ bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự.

4. Cơ quan Hải quan, Kiểm lâm, Bộ đội Biên phòng có thẩm quyền thu thập chứng cứ trong mọi vụ án không?

Không. Theo Điều 111 BLTTHS 2003 và Pháp lệnh Tổ chức Điều tra hình sự 2004, các cơ quan này chỉ có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra trong phạm vi quản lý chuyên ngành đối với tội phạm quả tang, ít nghiêm trọng; đối với tội phạm nghiêm trọng hoặc phức tạp, họ chỉ tiến hành các hoạt động ban đầu rồi phải chuyển hồ sơ cho Cơ quan điều tra chuyên trách trong thời hạn 07 ngày.

5. Viện kiểm sát có quyền tự mình tiến hành các biện pháp điều tra để thu thập chứng cứ không?

Có. Theo khoản 2 Điều 112 BLTTHS 2003, trong giai đoạn điều tra và truy tố, khi xét thấy cần thiết để kiểm tra, bổ sung chứng cứ phục vụ cho việc quyết định truy tố, Viện kiểm sát có quyền trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra như triệu tập, hỏi cung bị can, lấy lời khai người làm chứng, người bị hại hoặc yêu cầu thực nghiệm điều tra.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp "Thu thập chứng cứ trong tố tụng hình sự Việt Nam" của tác giả Trần Thị Thúy là một công trình nghiên cứu khoa học pháp lý nghiêm túc, có tính ứng dụng thực tiễn cao. Bằng việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa phương pháp luận triết học Mác - Lênin và khoa học luật tố tụng hình sự, công trình đã làm sáng tỏ bản chất của hoạt động thu thập chứng cứ, phân định rõ thẩm quyền tố tụng và chỉ ra các giải pháp khắc phục triệt để tình trạng án oan, sai.

Việc quán triệt và áp dụng đúng đắn các quy chuẩn thu thập chứng cứ không chỉ bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật mà còn là bước tiến quan trọng hiện thực hóa mục tiêu cải cách tư pháp, bảo vệ công lý và quyền con người trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.