Chương 1: Những vấn đề chung về chữ ký. Một số vấn đề liên quan đến chữ ký và hướng hoàn thiện hoạt động áp dụng chữ ký trong giao dịch dân sự. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHỮ KÝ TRONG GIAO DỊCH DÂN SỰ 1. Cơ sở hình thành chữ ký Trong tiến trình lịch sử hình thành và phát triển của loài người, chưa có một tài liệu nghiên cứu nào khẳng định chính xác khởi nguồn của hình thái chữ ký đầu tiên.
Dựa theo những ghi chép của người cổ đại, khoảng 3.000 năm trước Công nguyên, người Sumer và người Ai cập đã sử dụng hình ảnh hoặc chữ tượng hình khắc lên tảng đá đất sét để truyền đạt ý nghĩ của họ.100 năm trước Công nguyên, con người đã bắt đầu sử dụng chữ và ký hiệu nhằm mục đích biểu thị danh tính 2. Sau này, đến thời Trung Cổ (hay còn gọi là Trung Đại), con người bắt đầu thêm nét và các ký tự để hình thành nên những chữ cái đơn giản, những chữ tượng hình đơn thuần, điều này đặt nền móng cho sự phát triển ngôn ngữ và là cơ sở hình thành hệ chữ cái Latin. Sự xuất hiện và phát triển của ngôn ngữ là điều kiện và là khởi nguồn tất yếu cho sự ra đời của chữ ký. Mãi đến nửa sau thế kỷ XI, khi một nhà lãnh đạo quân sự người Tây Ban Nha ký chữ ký của mình trên cuốn sách lịch sử do ông viết, thì những nhận thức đầu tiên của con người về chữ ký mới được hình thành.
Đến năm 1677, một Đạo luật về Chống gian lận và Khai man “Prevention of Frauds and Perjuryes” đã được Quốc hội Anh thông qua; theo đó, đạo luật quy định hợp đồng có giá trị lớn phải được lập thành văn bản và có chữ ký kèm theo 3. Nghĩa là, để hạn chế rủi ro, pháp luật nước Anh xem chữ ký như một cách thức thể hiện sự cam kết giữa các bên khi tham gia hợp đồng. Có thể nói, pháp luật Anh đã quy định một giá trị pháp lý nhất định cho chữ ký, điều này được ví như một cuộc cách mạng giúp cho việc sử dụng chữ ký được phát triển trong những năm tiếp theo. Giờ đây, thế giới đang chứng kiến một cuộc cách mạng 4.0 diễn ra mạnh mẽ; điều này là cơ sở tất yếu của việc phát triển công nghệ, kỹ thuật.
Từ đây, CKĐT cũng được hình thành để đáp ứng xu hướng tăng trưởng của các GDĐT. Thực chất CKĐT đã xuất hiện từ những năm 1800, vào thời điểm các tin nhắn điện tín đã bắt đầu phát triển và dần dần thay đổi thói quen của người dùng chữ ký truyền thống ở một mức độ nhất định.0 – một dạng quản lý thông tin dưới dạng lưu trữ dữ liệu được đưa vào thị trường. Đây được xem là một trong những lý do giúp Quốc hội Hoa Kỳ chấp thuận việc sử dụng CKĐT trong hoạt động thương mại và Tổng thống Bill Clinton của Mỹ đã thông qua 2 Legalesign, “The history of the Signature”, https://legalesign.com/blog/history-of- signatures/#:~:text=Some%20of%20the%20earliest%20known,%E2%80%93%20pictographs%20%E2%80%93%20 to%20convey%20meaning (truy cập vào ngày 01/02/2023). 3 The Grizzly Labs, “The Signature: A Brief History”, https://blog.com/2020/11/history-of- signatures.
10 Luật GDĐT “Uniform Electronic Transactions Act” năm 1900. Ở Anh, CKĐT cũng được công nhận từ những năm 1900 và trở nên phổ biến cũng như hợp pháp vào năm 2000 4.Về mặt công nghệ, CKĐT có khả năng đảm bảo tính xác thực và toàn vẹn của thông điệp, tài liệu số; nghĩa là, nó có thể cung cấp nguồn gốc về danh tính và trạng thái của dữ liệu điện tử hoặc giao dịch kỹ thuật số. Có thể nói, CKĐT giúp giải quyết các vấn đề giả mạo, mạo danh trong truyền thông số mà không làm mất đi bản chất của chữ ký. Ngày này, giá trị pháp lý của CKĐT đã được khẳng định là tương tự như chữ ký truyền thống.
Tóm lại, song song với việc hình thành và phát triển của ngôn ngữ là sự xuất hiện của chữ ký truyền thống. Về phần mình, CKĐT được ra đời từ sự thay đổi về kinh tế - xã hội và sự hiện đại của công nghệ - kỹ thuật. Thế nhưng, cần hiểu rằng, cơ sở hình thành của chữ ký chính là từ nhu cầu muốn thể hiện sự đồng tình, chấp thuận hoặc sự cam kết thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo nội dung đã ký. Thực tế cho thấy, chữ ký không những mang ý nghĩa là dấu ấn riêng, một dấu hiệu riêng biệt của mỗi người mà còn đóng vai trò quan trọng về mặt pháp lý, nhất là trong lĩnh vực thương mại.
Khái niệm của chữ ký Theo từ điển tiếng Việt, chữ ký là những nét chữ viết nhanh do mỗi người tự tạo ra để làm ký hiệu cho tên của chính mình, và có dạng thức đặc biệt không thay đổi. Từ chữ ký gồm 2 từ là chữ và ký, chữ là ký hiệu bằng đường nét được đặt ra để ghi tiếng nói 5; nói cách khác, chữ là thuộc cái ngôn ngữ thể hiện dưới dạng ký hiệu; còn ký là hành động một người điền tên của mình dưới dạng ký hiệu vào vật thể xác định như văn bản, giấy tờ,… Theo từ điển Oxford Dictionary, chữ ký “signature” được hiểu là một chữ hoặc một ký tự riêng biệt biểu hiện tên của một người, được ghi trên giấy bằng mực 6. Như vậy, hiểu đơn giản chữ ký là tên riêng của mỗi người dưới dạng ký tự đặc biệt được điền trên giấy. Cách hiểu này được cho là tương đối phù hợp với bối cảnh và nhận thức của con người về chữ ký từ nhiều thập kỷ trước.
Xét đến cùng, chữ ký thực chất là ký hiệu riêng biệt của mỗi cá nhân; mà mỗi cá nhân có thể sử dụng nhiều cách thức khác nhau để tạo ra dấu ấn riêng biệt của mình. Vậy nên, hiểu theo nghĩa rộng, chữ ký là các hình thái của ký hiệu mà ở đó, nó thể hiện được danh 4 Foxit, “Electronic Signature: A Brief History”, https://www.com/blog/the-history-of-electronic-signatures/, (truy cập vào ngày 02/02/2023). 5 Phạm Văn Tình, “Từ và chữ”, Báo Lao động, https://laodong.vn/archived/tu-va-chu-674188.com/definition/english/signature (truy cập vào ngày 02/02/2023). 11 tính người ký.
Nếu hiểu chữ ký theo cách này, thì khi nhìn lại lịch sử hình thành chữ ký, thấy rằng đã có các hình thái khác của chữ ký xuất hiện. Cụ thể, vào khoảng thế kỷ thứ XIII, một hình thái mới của chữ ký xuất hiện ở Nhật dưới dạng con dấu, được gọi là “con dấu Hanko”. Thời điểm đó, con dấu Hanko chỉ có Thiên Hoàng được sử dụng với ý nghĩa dùng để xác nhận Chỉ dụ do Thiên hoàng ban ra. Đến thời vua Minh Trị (sau năm 1867), con dấu Hanko được phổ biến rộng rãi ra toàn dân và trở thành con dấu riêng của mỗi cá nhân 7.
Trên thực tế, có một cách thức ký tên khác ngoài việc để lại ký tự, chữ viết hoặc để lại hình ảnh con dấu, đó là “ký tên” bằng cách dùng ngón tay của mình đã có mực và lăn trên văn bản, giấy tờ cần ký. Bằng cách này, người “ký” vẫn để lại một dấu hiệu riêng biệt mang ý nghĩa xác định danh tính của họ. Như vậy, dấu vân tay mang bản chất của một chữ ký. Do đó, theo nhóm tác giả, dấu vân tay cũng được xem là một hình thái của chữ ký.
Trong khoa học pháp lý, việc để lại dấu vân tay được gọi là điểm chỉ. Điểm chỉ thường được áp dụng trong trường hợp người ký là người có khiếm khuyết về thể chất (như bệnh lý làm tay run,…) hoặc người mù chữ. Điều này cũng đồng nghĩa với việc, không phải chỉ người biết chữ mới là chủ thể ký kết, người ký có thể là người đầy đủ năng lực hoặc người khuyết tật; có thể là người biết chữ hoặc người không biết chữ. Theo nhóm tác giả, các hình thái chữ ký nói trên: chữ hoặc một ký tự riêng biệt biểu hiện tên một cá nhân, dấu vân tay, con dấu, được xem là những hình thái của chữ ký truyền thống.
Chữ ký truyền thống ở đây được hiểu là chữ ký vật lý, nghĩa là chính người ký là người tác động trực tiếp lên văn bản, giấy tờ hoặc vật thể xác định để khẳng định sự hiện diện của người này và thể hiện sự đồng thuận của họ với văn bản đã ký. Cho đến gần đây, khi trình độ công nghệ và kỹ thuật phát triển, thì một hình thái chữ ký hiện đại hơn đã xuất hiện, đó là chữ ký điện tử. CKĐT, là chữ ký được tạo lập dưới dạng từ, chữ, số, ký hiệu, âm thanh hoặc các hình thức khác bằng phương tiện điện tử, gắn liền hoặc kết hợp một cách lô gíc với thông điệp dữ liệu, có khả năng xác nhận người ký thông điệp dữ liệu và xác nhận sự chấp thuận của người đó đối với nội dung thông điệp dữ liệu được ký (Điều 21 Luật GDĐT năm 2005). Một định nghĩa khác về CKĐT được quy định trong Luật CKĐT của Trung Quốc như sau “Chữ ký điện tử là dữ liệu điện tử chứa đựng trong thông điệp dữ liệu hoặc đính kèm với thông điệp dữ liệu và được sử dụng để nhận biết người ký và biểu thị sự tán thành của người ký với nội dung của thông điệp dữ liệu 8.
7 Nguyễn Hùng, “Con dấu Hanko trong văn hóa Nhật Bản”, https://tournhatban.net/con-dau-hanko-trong-van-hoa- nhat-ban/ (truy cập ngày 16/02/2023). 8 Điều 2 Luật Chữ ký điện tử Trung Quốc. 12 Ngoài ra, CKĐT cũng được định nghĩa trong pháp luật Singapore, chữ ký điện tử là bất kỳ một chữ, ký tự, con số hoặc biểu tượng nào dưới dạng số được gắn hoặc liên kết một cách logic với một hồ sơ điện tử với mục đích xác thực hoặc chấp nhận nội dung của hồ sơ điện tử. Tóm lại, CKĐT là một dạng thông tin gắn liền với thông tin dữ liệu đóng vai trò xác minh người ký và xác nhận sự đồng thuận của họ đối với nội dung trong GDĐT.
Như vậy xét về bản chất, CKĐT vẫn mang những nét cơ bản giống với chữ ký truyền thống ở chỗ CKĐT giúp định danh và thể hiện sự chấp thuận của người ký văn bản điện tử. Điểm khác biệt lớn nhất giữa CKĐT và chữ ký truyền thống là cách thức ký, nghĩa là thay vì tác động vật lý vào văn bản như ký truyền thống thì CKĐT thực hiện việc ký kết thông qua việc liên kết các thông điệp dữ liệu trên nền tảng mạng, kỹ thuật số. Từ cách tiếp cận về CKĐT như trên, cho phép hiểu rằng CKĐT có thể tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau như: chữ ký số, chữ ký scan, chữ ký bằng hình ảnh,.