PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tên đề tài: Xây dựng chính sách thúc đẩy ứng dụng Công nghệ thông tin tại các xã vùng sâu, vùng xa 2. Lý do chọn đề tài: Nhằm hỗ trợ sự phát triển kinh tế, nâng cao tri thức, văn hóa cũng như chất lượng cuộc sống cho người dân tại các xã vùng sâu, vùng xa, Nhà nước đã có nhiều văn bản chính sách, các chương trình, kế hoạch nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội tại các xã vùng sâu, vùng xa [1]. Gần đây, Nhà nước cũng đã ban hành Chương trình 135 nhằm thúc đẩy đầu tư cơ sở hạ tầng, hỗ trợ phát triển sản xuất cho các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, các thôn, bản đặc biệt khó khăn[2].
Tuy nhiên, khi phân tích các bộ phận nội dung của Chương trình 135, ta thấy một phương tiện rất hữu ích để phục vụ mục tiêu của Chương trình đó là Công nghệ Thông tin, thì vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Về lĩnh vực Công nghệ thông tin, đến nay, trong các văn bản của Đảng[3], vai trò của Công nghệ thông tin trong xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ quốc gia cũng đã được xác định rõ ràng. Chỉ thị 58-CT/TW đã nêu: “Công nghệ thông tin (CNTT) là một trong những hạ tầng quan trọng của quốc gia, vừa là ngành kinh tế - kỹ thuật, vừa là ngành hạ tầng mềm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng và chủ quyền số”. Như vậy, việc đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã được thể chế hóa, nhằm góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hoá các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc 3 (LUAN.xa TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.xa sống của nhân dân, đảm bảo an ninh, quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Năm 2006 đã đánh dấu một bước phát triển mới trong quá trình tạo hành lang pháp lý thúc đẩy ứng dụng Công nghệ thông tin ở nước ta, đó là sự ra đời của Luật Công nghệ thông tin[4]. Tiếp theo, những năm gần đây, việc triển khai ứng dụng CNTT được Đảng, Nhà nước và Chính phủ đặc biệt quan tâm, nhiều chương trình, đề án quan trọng về thông tin và truyền thông cũng được triển khai, nhằm mục tiêu sớm đưa Việt Nam trở thành nước mạnh về CNTT&TT, đồng thời đưa thông tin về cơ sở, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo giai đoạn 2011- 2015[5]. Trong các Đề án và chương trình này, việc phát triển CNTT trên phạm vi cả nước và đẩy mạnh phát triển các ứng dụng CNTT là những mục tiêu đặc biệt quan trọng. Các xã vùng sâu vùng xa trong luận văn này được xác định dựa trên văn bản của Uỷ ban Dân tộc và Miền núi[6], gồm 05 tiêu chí sau: (i) Điều kiện tự nhiên, địa bàn cư trú (vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới); (ii) Cơ sở hạ tầng (giao thông, điện,.
Theo Chương trình 135 của Chính phủ, hiện nay có 1.715 xã thuộc diện khó khăn, Chương trình lựa chọn khoảng 1.000 xã thuộc các huyện đặc biệt khó khăn để tập trung đầu tư, đó là những xã đặc biệt khó khăn nằm ở những vùng có địa hình hiểm trở, bị chia cắt bởi núi cao, sông, suối sâu, giao thông chưa phát triển, mức sống đại đa số nhân dân còn thấp. Tuy nhiên, các chính sách và chương trình mục tiêu hiện nay mới chỉ chú trọng đến phát triển cơ sở hạ tầng, mạng lưới thông tin và truyền thông trên diện rộng tại tất cả các địa phương trong cả nước. mà chưa có các chính sách đặc thù, chưa có các 4 (LUAN.xa TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.xa chương trình cụ thể đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin nhằm đáp ứng nhu cầu hiện đại hóa công tác quản lý, điều hành của các cơ quan nhà nước tại các xã vùng sâu, vùng xa; việc quản lý, khai thác sử dụng trang thiết bị công nghệ thông tin phục vụ nhiệm vụ quản lý giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội chưa thực sự khai thác hết tiềm năng của CNTT. Trong bối cảnh đó, đối với xã vùng sâu, vùng xa việc thúc đẩy phát triển CNTT và các ứng dụng CNTT sẽ góp phần quan trọng làm cho công tác và quản lý điều hành từ trung ương đến địa phương được nhanh chóng, chính xác, tiết kiệm và hiệu quả, góp phần vào việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương, tạo điều kiện cho người dân có đời sống vật chất và tinh thần tốt hơn để họ yên tâm giữ vững trật tự an toàn xã hội, đẩy mạnh sản xuất và rút ngắn khoảng cách phát triển giữa vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa và thành thị.
Chính vì lẽ đó luận văn này mong muốn góp phần xây dựng chính sách, cơ chế nhằm thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin tại các xã vùng sâu, vùng xa của nước ta, tập trung vào khía cạnh tin học hóa công tác hành chính công và sử dụng mạng Internet tại xã. Bối cảnh và lịch sử nghiên cứu: Chủ đề thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin tại các vùng sâu vùng xa đã được đề cập trong một số công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế. Trong bài báo về “Mô hình cung cấp thông tin KH&CN phục vụ phát triển kinh tế-xã hội nông thôn và miền núi”[7], tác giả đã xây dựng một mô hình cung cấp thông tin với mục tiêu tổng thể là góp phần nâng cao dân trí, xoá đói, giảm nghèo, cải thiện chất lượng đời sống tinh thần và vật chất của cư dân nông thôn, miền núi trên cơ sở cung cấp kịp thời và sử dụng rộng rãi thông tin và tri thức khoa học và công nghệ. Việc ứng dụng và triển khai mô 5 (LUAN.xa TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.xa hình cung cấp thông tin nhằm 3 mục tiêu cụ thể như sau: (i) Đáp ứng nhu cầu thông tin bằng việc sử dụng tích hợp công nghệ thông tin hiện đại phù hợp với nhu cầu và điều kiện cụ thể ở nông thôn, miền núi nước ta; (ii) Thiết lập cơ chế trao đổi và cập nhật thông tin hai chiều giữa cơ sở, địa phương và Trung ương; (iii) Lồng ghép các dự án được triển khai trên cùng một địa bàn bằng cơ chế chia sẻ các nguồn tin phát triển.
Một số nhiệm vụ nghiên cứu trong Chương trình “Xây dựng mô hình ứng dụng và chuyển giao khoa học và công nghệ phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn và miền núi giai đoạn 2004-2010” do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì[8] đã ghi nhận việc hỗ trợ ứng dụng chuyển giao khoảng 900 công nghệ và tiến bộ mới cho nông thôn, miền núi nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao năng lực cán bộ và chất lượng các sản phẩm hàng hóa tiềm năng vùng miền. Trong giai đoạn 2011-2015 Chương trình sẽ chuyển giao, ứng dụng công nghệ và tiến bộ kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất, bảo quản, chế biến nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của một số hàng hoá nông sản trên thị trường trong nước và nước ngoài, phát triển thị trường khoa học và công nghệ ở nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho cộng đồng dân cư ở nông thôn bằng các giải pháp khoa học và công nghệ. Các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học thuộc “Chương trình khoa học và công nghệ phục vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 – 2015” do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì[9] đã xác định các nhiệm vụ khoa học và công nghệ nhằm giải quyết các vấn đề cấp bách trong thực tiễn xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam; thực thi một số nhiệm vụ ưu tiên, bước đầu kịp thời phục vụ Chương trình Mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới. Các giải pháp khoa học - công nghệ phát triển sản xuất nông nghiệp gồm: Ứng dụng đồng bộ các giải pháp khoa học - công nghệ chuyển đổi cơ 6 (LUAN.xa TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.xa cấu cây trồng đạt hiệu quả kinh tế cao vùng đồng bằng sông Hồng; nâng cao hiệu quả sản xuất lúa, chủ yếu tập trung vào chuyển đổi sang các giống lúa chất lượng có hiệu quả cao, liên kết sản xuất trên cánh đồng mẫu lớn và liên kết doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm; quy trình công nghệ canh tác lúa cải tiến nhằm tiết kiệm nước, tăng thu nhập cho nông dân và giảm phát thải khí nhà kính; xác định được các hệ thống cây trồng xen canh có hiệu quả và một số biện pháp kỹ thuật trồng trọt thích hợp phục vụ xây dựng nông thôn mới ở vùng miền núi phía Bắc.
Tuy nhiên, ở trong nước, hiện nhiều bài báo thường tập trung vào khía cạnh đưa thông tin hoặc chuyển giao công nghệ thích hợp về vùng nông thôn, miền núi, mà còn ít quan tâm đến việcthúc đẩy ứng dụng máy tính và Internet cho các xã vùng sâu vùng xa. Tổng quan một số công trình nghiên cứu ngoài nước liên quan thấy có một vài bài báo đề cập đến vấn đề này[10], trong đó tác giả đã phân tích những thách thức mà các nước đang phát triển phải đối mặt khi đưa Internet đến các vùng núi và đề xuất một số giải pháp về Internet không dây (Wifi) cho các vùng núi, trường hợp nghiên cứu là vùng núi ở Nepal. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu Mục tiêu: Đề xuất các giải pháp chính sách thúc đẩy ứng dụng Công nghệ thông tin tại các xã vùng sâu, vùng xa, thông qua các khía cạnh về tài chính; đào tạo; trang thiết bị và hỗ trợ doanh nghiệp, tập trung vào các nội dung tin học hóa công tác hành chính công và sử dụng mạng Internet tại xã. Nhiệm vụ nghiên cứu: - Phân tích thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin tại các xã vùng sâu, vùng xa, tập trung vào hai hoạt động chính: (i) ứng dụng tin học trong cải cách hành chính công tại xã; (ii) truy cập Internet tại nhà văn hóa xã.xa TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.xa - Phân tích hệ thống chính sách và đề xuất chính sách thúc đẩy công nghệ tin tại các xã vùng sâu, vùng xa, thể hiện trong các lĩnh vực chủ yếu: tài chính; đào tạo; trang thiết bị và hỗ trợ doanh nghiệp.