Tổng quan luận án

Công trình khoa học được giới thiệu là luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số: 9229013) với đề tài: "Chính sách quốc phòng của nhà Nguyễn trên vùng biên giới Tây Nam Bộ giai đoạn 1802-1867". Luận án do nghiên cứu sinh Dương Thị Hiền thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Nam Tiến và TS. Lê Tùng Lâm, bảo vệ tại Trường Đại học Sài Gòn (Thành phố Hồ Chí Minh) năm 2024.

Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vị trí địa chiến lược của vùng đất Nam Bộ nói chung và khu vực biên giới Tây Nam Bộ nói riêng. Kể từ thời điểm cơ bản hoàn thành quá trình sáp nhập vào lãnh thổ Việt Nam năm 1757, vùng đất này trở thành một bộ phận thống nhất của quốc gia. Với tuyến biên giới kéo dài hàng trăm kilomet tiếp giáp cả về lãnh thổ trên bộ lẫn lãnh hải trên biển với Chân Lạp (Campuchia) và Xiêm La (Thái Lan), nơi đây giữ vai trò tiền tiêu phòng thủ trọng yếu, đồng thời là địa bàn thường xuyên diễn ra những biến động phức tạp về an ninh, chính trị và quân sự trong lịch sử. Dưới vương triều Nguyễn, chính sách quốc phòng được xác định là phạm trù rộng lớn mang tính sống còn đối với sự tồn vong của đất nước, đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa việc củng cố nội lực, điều hành bang giao và xây dựng tiềm lực quân sự.

Về khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng các công trình đi trước chủ yếu tiếp cận vấn đề ở từng góc độ riêng biệt, quy mô bộ phận hoặc từng mảng chuyên đề đơn lẻ (như công cuộc khẩn hoang, đào kênh, quan hệ đối ngoại cục bộ hoặc khảo sát một số đồn lũy cụ thể). Cho đến nay, vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống và chuyên sâu về bức tranh tổng thể của chính sách quốc phòng triều Nguyễn trên toàn tuyến biên giới Tây Nam Bộ xuyên suốt giai đoạn 1802-1867 nhằm đúc kết bài học kinh nghiệm lịch sử.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm sáng tỏ một cách hệ thống và toàn diện chính sách quốc phòng của nhà Nguyễn cùng quá trình triển khai chính sách này trên vùng biên giới Tây Nam Bộ trong giai đoạn 1802-1867; chỉ ra các đặc điểm, thành tựu và hạn chế; từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm lịch sử. Luận án xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được đánh số theo văn bản:

  1. Làm rõ cơ sở, điều kiện hình thành, bối cảnh, quá trình nhận thức, chủ trương và nội dung cốt lõi của chính sách quốc phòng của nhà Nguyễn trên vùng biên giới Tây Nam Bộ trong giai đoạn 1802-1867.
  2. Phục dựng quá trình thực thi, điều chỉnh chính sách quốc phòng của nhà Nguyễn hướng đến công cuộc xây dựng, củng cố và phát huy nguồn nội lực bên trong, nguồn lực bang giao bên ngoài và tiềm lực quân sự nhằm bảo vệ sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.
  3. Phân tích các đặc điểm, thành tựu và hạn chế trong quá trình thực thi chính sách; từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho công cuộc bảo vệ biên giới của Việt Nam nói chung và vùng Tây Nam Bộ nói riêng trong giai đoạn hiện nay.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là chính sách quốc phòng của nhà Nguyễn trên vùng biên giới Tây Nam Bộ trong giai đoạn 1802-1867 và quá trình triển khai chính sách trên thực tế.

Phạm vi nghiên cứu được xác định rõ về không gian và thời gian:

  • Không gian nghiên cứu: Địa bàn vùng biên giới Tây Nam Bộ tương ứng với các tỉnh Long An, Đồng Tháp, An Giang, Kiên Giang và phần phía Tây của tỉnh Cà Mau hiện nay. Trước cải cách hành chính năm 1832 của vua Minh Mạng, khu vực này thuộc 4 trấn: Định Tường, Vĩnh Thanh, Hà Tiên và một phần phía Nam của Phiên An. Sau cải cách năm 1832, vùng này thuộc 4 tỉnh: Định Tường, An Giang, Hà Tiên và một phần phía Nam tỉnh Gia Định. Luận án cũng mở rộng phạm vi nghiên cứu sang không gian bang giao giữa các quốc gia Đông Nam Á lục địa nửa đầu thế kỷ XIX.
  • Thời gian nghiên cứu: Giới hạn từ năm 1802 (khi triều Nguyễn được thiết lập) đến năm 1867 (khi thực dân Pháp đánh chiếm trọn ba tỉnh miền Tây, hoàn tất việc xâm chiếm Nam Kỳ).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tác giả luận án đã phân chia các công trình nghiên cứu đi trước có liên quan thành hai nhóm chính:

Nhóm thứ nhất gồm các công trình nghiên cứu liên quan đến tiềm lực quân sự của nhà Nguyễn ở các địa phương thuộc vùng biên giới Tây Nam Bộ. Tác giả Cao Thanh Tăng (2009) trong công trình Lịch sử khai phá và bảo vệ chủ quyền vùng đất Châu Đốc đã phân tích quá trình hình thành đường biên giới Châu Đốc - Chân Lạp (từ ngã ba sông Châu Đốc - Bình Di đến Vĩnh Điều, Giang Thành cách 28km) và hệ thống đồn, bảo, đạo, thủ. Luận điểm của Cao Thanh Tăng đồng thời phản bác quan điểm sai lệch của Sarin Chhak (1964) trong luận án tiến sĩ tại Paris về việc đào kênh Vĩnh Tế. Nghiên cứu của Vũ Đức Liêm (2016) trên tạp chí Cross-Currents: East Asian History and Culture Review làm rõ việc đào kênh Vĩnh Tế (1824) diễn ra hoàn toàn trong biên giới Việt Nam nhằm lập thế trận phòng ngự trước sức ép từ phía Xiêm. Học giả Sơn Nam (1973) trong Lịch sử khẩn hoang miền Nam xác định ranh giới vùng đất Mật Luật (Meat Chruk) từ thời Chân Lạp dâng đất Tầm Phong Long (1757). Vị trí tiền tiêu của Châu Đốc và Hà Tiên trong công cuộc phòng thủ tiếp tục được khẳng định qua các nghiên cứu của Ngô Thị Ngọc Linh (2019), Trần Thị Thu Hường (2018) và Nguyễn Thị Ánh Nguyệt (2015). Nguyễn Quang Ngọc (2017) trong Vùng đất Nam Bộ (tập IV) nhấn mạnh chính sách "tịnh vi nông, động vi binh", trong khi Võ Văn Sen (2017) trong tập X chỉ ra vai trò của mạng lưới sông rạch và đường sá đối với quốc phòng.

Vấn đề Trấn Tây thành (1835-1841) được Bùi Thị Bích Ngọc (2014) và Choi Byung Wook (2011) tiếp cận dưới góc độ quản trị hành chính và an ninh biên giới. Hệ thống đồn lũy phòng thủ vùng biên cương được ghi chép sớm trong thư tịch cổ của Trịnh Hoài Đức (2005 - Gia Định thành thông chí) và Lê Quang Định (2005 - Hoàng Việt nhất thống dư địa chí), đặc biệt là vị trí của "Tam đạo" (Chiến Sai, Hùng Ngự, Tân Châu). Vị trí cụ thể của Tam đạo tiếp tục được Đỗ Kim Trương (2014) và Võ Nguyên Phong (2021) phân tích, đối chiếu. Bùi Thị Bích Ngọc (2014, 2021) khảo sát 9 đạo biên giới Tây Nam (Tân Châu, Châu Đốc, Đông Khẩu, Chiến Sai, Hùng Ngự, Tuyên Oai, Quảng Hóa, Quảng Phong, Thuận Thành). Các công trình Địa chí An Giang (2013) và Địa chí Đồng Tháp cung cấp danh mục các đồn bảo như Vàm Nao, Cổ Hũ, Hồi Oa. Tuyến phòng thủ duyên hải và hải đảo Tây Nam (Hà Tiên, Phú Quốc, Thổ Châu) được làm rõ qua các nghiên cứu của Trần Thị Mai (2013, 2014), Nguyễn Thanh Lợi (2015), Nguyễn Xuân Hoài và Phạm Thị Huệ (2012). Nguyễn Đức Hòa (2020) chỉ ra vai trò trung tâm chính trị - quân sự chi phối hoạt động kinh tế tại các cảng thị Hà Tiên và Bãi Xàu. Về cơ cấu quân chế, Huỳnh Công Bá (2014), Trương Thị Yến (2017) và Bùi Gia Khánh (2018) phân tích 4 binh chủng (bộ binh, thủy binh, pháo binh, tượng binh) và tổ chức Vệ thủy Hà Tiên (328 người). Các biến động an ninh nội bộ như cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi, Lâm Sâm, Hà Âm - Hà Dương (1841-1843) được Nguyễn Phan Quang (1999) và Huỳnh Lứa (1987) ghi nhận.

Nhóm thứ hai gồm các công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực nội trị và ngoại giao của nhà Nguyễn tại vùng biên giới Tây Nam Bộ. Về kinh tế và xã hội, Nguyễn Đình Đầu (1992) phân tích chế độ công điền công thổ qua 3 giai đoạn (1800-1836, 1836-1850, 1850-1860) và mô hình "đồn điền nuôi quân". Nguyễn Văn Hầu (1972) làm rõ đóng góp của Thoại Ngọc Hầu trong việc đào kênh Thoại Hà (1818), kênh Vĩnh Tế (1819-1824) và quản lý biên vụ. Trương Thị Kim Chuyên (2017) phân tích tác động của điều kiện tự nhiên ngập lũ đến hệ thống kênh rạch. Bùi Thị Bích Ngọc (2023) làm rõ thiết chế tự quản của các cộng đồng Kinh, Khmer, Hoa, Chăm. Trần Việt Nhân (2009) và Lâm Trần Thử (2014) chỉ ra hạn chế của chính sách bế quan tỏa cảng đối với Hà Tiên. Về bang giao, các nghiên cứu của Nguyễn Thế Anh (1972), Đặng Văn Chương (2001, 2003, 2005), Nguyễn Lương Bích (1996), Vũ Dương Ninh (1994), Nguyễn Văn Luận (2017), Đinh Thị Dung (2001), Lê Thị Mỹ Trinh (2009) và Dương Duy Bằng (2008) làm rõ mối quan hệ tam giác Việt Nam - Chân Lạp - Xiêm La, thế cân bằng quyền lực và các cuộc chiến tranh năm 1833-1834, 1841-1845. Nguồn tư liệu nước ngoài từ Xiêm La thực lục của Chaophraya Thiphakorawong, nghiên cứu của Morragotwong Phumpab và David Chandler (2007) cung cấp góc nhìn từ phía Xiêm và Chân Lạp.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết là: Tập hợp, hệ thống hóa và phục dựng một cách toàn diện, nhiều chiều bức tranh chính sách quốc phòng của triều Nguyễn trên tuyến biên giới Tây Nam Bộ từ năm 1802 đến năm 1867. Thay vì xem xét biệt lập các yếu tố quân sự hay kinh tế, luận án tập trung làm rõ sự gắn kết hữu cơ giữa ba trụ cột: củng cố nội lực, điều hành ngoại giao và phát triển lực lượng vũ trang thường trực cùng hệ thống công trình phòng thủ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lý luận, luận án tiếp cận các khái niệm then chốt:

  • Khái niệm "chính sách" và "chính sách công": Tác giả viện dẫn quan niệm của Hoàng Phê (2009), Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995), mô hình quy trình ra quyết định của Harold D. Lasswell (thảo luận, giải pháp, lựa chọn, thực thi, kết thúc) và định nghĩa chính sách công của Thomas Dye (2016), B. Guy Peters để xác định chính sách của triều Nguyễn là những quyết sách công của nhà nước phong kiến do hoàng đế ban hành nhằm đạt được mục tiêu quản lý và bảo vệ lãnh thổ.
  • Khái niệm "quốc phòng": Tác giả chiết tự thuật ngữ Hán - Việt từ chữ "Quốc" (gồm bộ vi, chữ khẩu, chữ nhất, chữ qua biểu thị lãnh thổ, cư dân, sự thống nhất và vũ khí bảo vệ) và chữ "Phong" (trong phòng thủ, phòng vệ). Luận án đối chiếu với định nghĩa tại Khoản 1 Điều 2 Luật Quốc phòng năm 2018 của Việt Nam về sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, kết hợp với tư tưởng truyền thống Đại Việt từ lời căn dặn của vua Lê Thánh Tông năm 1473 (chép trong Đại Việt sử ký toàn thư) và triết lý trị quốc của vua Gia Long ("Lúc yên đừng quên lúc nguy, đó thực là đạo giữ nước yên dân").
  • Khái niệm "biên giới" và "chính sách quốc phòng của nhà Nguyễn": Biên giới thời Nguyễn được hiểu qua các khái niệm biên cương, biên khốn, biên viễn, phên dậu; việc phân định dựa vào địa hình tự nhiên (sông, núi) thay vì cắm mốc tọa độ hiện đại. Chính sách quốc phòng triều Nguyễn được định nghĩa là hệ thống các chủ trương, biện pháp thể hiện qua chỉ dụ, mệnh lệnh nhằm huy động sức mạnh tổng hợp từ điều kiện tự nhiên, con người, kinh tế, giao thông, quân sự và ngoại giao để bảo vệ nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ.

Về phương pháp nghiên cứu, luận án dựa trên hệ thống phương pháp luận Sử học Marxist và kết hợp các phương pháp chuyên ngành:

  • Phương pháp lịch sử: Khảo sát tuần tự tiến trình hình thành, triển khai, điều chỉnh và kết thúc của các chính sách quốc phòng trên các mặt chính trị, hành chính, nông nghiệp, giao thông, quân sự và ngoại giao qua các triều vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức (1802-1867).
  • Phương pháp logic: Làm sáng tỏ mối liên hệ nội tại và tác động qua lại giữa các yếu tố nội lực, ngoại giao và quân sự trong tổng thể chính sách; nhận diện đặc điểm, quy luật, mức độ thành công và hạn chế.
  • Phương pháp thống kê: Thu thập, phân loại và lượng hóa số liệu lịch sử về quan số, các đời Tổng trấn Gia Định thành, danh sách quan võ đứng đầu bốn trấn và thuộc đồn trước 1832; hệ thống chức danh Tổng đốc (An - Hà, Long - Tường, Định - Biên) và đơn vị hành chính sau 1832; số lượng quan võ chuyên trách; mật độ đồn, bảo, lũy, pháo đài.
  • Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp: Đánh giá sự điều chỉnh chính sách qua các thời kỳ, so sánh mật độ lực lượng quân đội tại các địa phương và giữa các triều vua nhằm chỉ ra tính kế thừa và biến đổi.

Nguồn tư liệu được khai thác bao gồm:

  • Thư tịch cổ và châu bản triều Nguyễn từ Quốc Sử quán, Cơ Mật viện (Đại Nam thực lục, Hoàng Việt nhất thống dư địa chí, Gia Định thành thông chí...).
  • Tài liệu lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.
  • Các công trình chuyên khảo, bài báo khoa học, kỷ yếu hội thảo đã được thẩm định và công bố.
  • Các tài liệu đăng tải trên các trang thông tin điện tử chính thống.
  • Các tư liệu tiếng nước ngoài (tiếng Pháp, tiếng Anh, tư liệu biên niên của Thái Lan).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận và tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Chương này tập trung xác lập hệ thống cơ sở lý luận và đánh giá tình hình nghiên cứu. Tác giả phân tích nội hàm các khái niệm: chính sách, chính sách công, quốc phòng, biên giới và chính sách quốc phòng triều Nguyễn. Luận án khẳng định chính sách quốc phòng triều Nguyễn không được thể hiện qua các văn bản luật pháp chuyên biệt mang tên gọi hiện đại mà được cụ thể hóa thông qua hệ thống chỉ, dụ, mệnh lệnh của hoàng đế ban xuống cho các bộ hạt. Tư tưởng cốt lõi của chính sách là phòng ngừa nguy cơ từ sớm, sử dụng sức mạnh tổng hợp, trong đó nội trị và ngoại giao là nền tảng, còn sức mạnh quân sự thường trực là then chốt.

Trong phần tổng quan tài liệu, tác giả phân loại và đánh giá sâu sắc hai nhóm công trình trong nước và quốc tế. Luận án xác định các khoảng trống lịch sử chưa được giải quyết thấu đáo: sự thiếu vắng một công trình bao quát toàn diện giai đoạn 1802-1867; việc chưa làm rõ mối quan hệ liên hoàn giữa ba trụ cột nội lực - ngoại giao - quân sự trên tuyến biên giới Tây Nam Bộ; và sự cần thiết phải phân tích các nguyên nhân dẫn đến sự suy yếu trong công tác phòng thủ khi đối đầu với phương Tây.

Chương 2: Nhân tố hình thành và nội dung chính sách quốc phòng của nhà Nguyễn trên vùng biên giới Tây Nam Bộ (1802-1867)

Nội dung chương 2 phân tích các yếu tố tiền đề hình thành chính sách quốc phòng:

  • Điều kiện tự nhiên và địa thế chiến lược: Tuyến biên giới Tây Nam Bộ giữ vai trò tiền tiêu chặn đứng con đường tiến quân sang phía Đông của Xiêm La và quản lý an ninh với Chân Lạp. Địa hình khu vực phân hóa thành hai tiểu vùng:
    • Khu vực phía Bắc (Định Tường và nam Gia Định): Địa hình rừng rậm, đồng bằng trũng ngập nước; phòng thủ dựa vào các giồng đất nổi cao như giồng Kiến Định (huyện Kiến Hưng) - nơi đặt các vị trí đóng quân hiểm yếu từ thời Nguyễn Ánh - cùng hệ thống giồng Đất, giồng Dực, giồng Tra Luật, giồng Sao, giồng Triệu, giồng Tứ, giồng Hoài Cương; bên cạnh đó là khu vực Tam Phụ (Ba Giồng gồm giồng Yến, giồng Kỳ Lân, giồng Qua Qua).
    • Khu vực phía Nam (An Giang và Hà Tiên): Địa hình đa dạng kết hợp đồng bằng, đồi núi, sông rạch, đầm phá và biển đảo. Đây là tuyến tiếp xúc trực tiếp giữa Việt Nam với Chân Lạp và Xiêm La. Thư tịch triều Nguyễn ghi nhận 19 ngọn núi tại An Giang (với dãy Thất Sơn giữ vai trò lá chắn tự nhiên, đỉnh Thiên Cấm Sơn cao trên 700m đóng vai trò đài quan sát khống chế toàn vùng) và 13 ngọn núi tại Hà Tiên (Bình San, Ngũ Hổ, Tô Châu, Thị Vạn, Kim Dữ...). Vịnh Đông Hồ với độ sâu trên 5 trượng giữ vị trí khóa chặt cửa biển Hà Tiên.
Khu vực địa lý thời Nguyễn Địa bàn tỉnh hiện nay Đặc điểm địa hình chủ đạo Điểm tựa quân sự, phòng thủ then chốt
Phía Bắc (Định Tường, nam Gia Định) Long An, Đồng Tháp Rừng rậm, vùng ngập lũ Đồng Tháp Mười, đồng bằng thấp Giồng Kiến Định, Ba Giồng (Tam Phụ: giồng Yến, Kỳ Lân, Qua Qua), các giồng đất phụ cận
Phía Nam (An Giang, Hà Tiên) An Giang, Kiên Giang, tây Cà Mau Đồi núi hiểm trở, đồng bằng, mạng lưới sông rạch, bờ biển, vịnh, hải đảo Cụm Thất Sơn (Thiên Cấm Sơn), núi Bình San, Ngũ Hổ, Tô Châu, pháo đài Kim Dữ, vịnh Đông Hồ
  • Nội dung chính sách quốc phòng: Luận án chỉ ra ba trụ cột chiến lược được triều đình hoạch định và thực thi:
    1. Tăng cường nguồn nội lực bên trong về chính trị, hành chính, quản lý cư dân, kinh tế nông nghiệp và giao thông thủy bộ.
    2. Vận dụng công tác ngoại giao phục vụ quốc phòng nhằm cân bằng quyền lực với Xiêm La và duy trì quyền bảo hộ đối với Chân Lạp, tạo lập vùng đệm an ninh từ xa.
    3. Xây dựng, củng cố và phát triển lực lượng vũ trang thường trực, xây dựng hệ thống đồn lũy, căn cứ quân sự làm lực lượng trực tiếp bảo vệ an ninh biên cương.

Chương 3: Nhà Nguyễn tăng cường các nguồn lực bảo vệ vùng biên giới Tây Nam Bộ (1802-1867)

Chương 3 tái hiện các biện pháp của nhà Nguyễn trong việc xây dựng và phát huy các nguồn lực:

  • Không gian chính trị - hành chính: Triều đình thực hiện điều chỉnh bộ máy cai trị từ mô hình trung gian Tổng trấn Gia Định thành (giai đoạn 1802-1832) sang thiết lập hệ thống tỉnh trực thuộc trung ương (từ năm 1832). Cơ cấu quản lý vùng biên giới được đặt dưới sự chỉ huy của các Tổng đốc chuyên trách: Tổng đốc An - Hà (An Giang - Hà Tiên), Tổng đốc Long - Tường (Vĩnh Long - Định Tường), Tổng đốc Định - Biên (Gia Định - Biên Hòa). Đối với xã hội đa tộc người, nhà nước áp dụng thiết chế tự quản đối với các cộng đồng Kinh, Khmer, Hoa, Chăm nhằm giữ ổn định an ninh cơ sở.
  • Khẩn hoang, lập ấp và chế độ đồn điền: Triều đình thực hiện phương châm "đồn điền nuôi quân", khai thác quỹ đất biên giới qua ba giai đoạn: 1800-1836 (khai phá xác lập trật tự an ninh), 1836-1850 (hoàn thiện chế độ công điền công thổ), 1850-1860 (củng cố hệ thống đồn điền tự túc lương thực trước sức ép gia tăng của điền trang tư nhân).
  • Phát triển giao thông chiến lược: Nhà Nguyễn huy động sức dân và quân đội đào đắp các công trình kênh đào quy mô lớn: kênh Thoại Hà (1818) và kênh Vĩnh Tế (1819-1824) nối Châu Đốc với Hà Tiên, tạo thành tuyến thủy đạo biên phòng huyết mạch cho việc cơ động binh lực, tiếp tế quân nhu và kết nối lưu thông kinh tế.
  • Ngoại giao phục vụ quốc phòng: Triều đình duy trì cơ chế bảo hộ đối với vương triều Chân Lạp, thiết lập thế cân bằng chiến lược với vương triều Chakri (Xiêm La), nỗ lực ngăn chặn các nguy cơ xung đột vũ trang trực tiếp trên lãnh thổ quốc gia.
  • Đánh giá: Luận án nêu rõ thành tựu trong việc xác lập chủ quyền và hình thành hậu phương vững chắc; đồng thời chỉ rõ hạn chế do việc huy động phu dịch quá mức gây bất ổn xã hội, cùng với chính sách "bế quan tỏa cảng" làm suy giảm tiềm lực thương mại của các cảng thị Hà Tiên và Bãi Xàu.

Chương 4: Nhà Nguyễn xây dựng, củng cố và phát triển lực lượng quân sự, quốc phòng trên vùng biên giới Tây Nam Bộ (1802-1867)

Chương 4 đi sâu vào tổ chức bộ máy và bố phòng quân sự:

  • Quan chế và tổ chức quân đội: Phân cấp chỉ huy quân sự rõ ràng với các chức danh Tổng đốc, Tuần phủ, Lãnh binh, Tham tán. Quân đội chia thành 4 binh chủng: bộ binh, thủy binh, pháo binh và tượng binh. Bố trí các cơ, vệ, đội thường trực tại các tỉnh biên giới; riêng Hà Tiên có Vệ thủy chuyên trách với 328 lính thủy. Tại An Giang và Hà Tiên còn thành lập ty Hành nhân (tiền thân là đội Thông ngôn) gồm những người am hiểu tiếng Chân Lạp, Xiêm La, Trung Quốc phục vụ trinh sát và bang giao.
  • Hệ thống cơ sở phòng thủ chiến lược: Luận án chỉ ra sự tổ chức thành ba khu vực phòng thủ liên hoàn:
    • Khu vực phòng thủ thứ nhất (tuyến An Giang - Châu Đốc): Trung tâm là thành Châu Đốc và "Tam đạo" (Tân Châu, Hùng Ngự, Chiến Sai), kết hợp hệ thống đồn bao dọc sông Tiền, sông Hậu và kênh Vĩnh Tế (Oai Viễn, Châu Giang, Vĩnh Thông, Vĩnh Lạc, Vĩnh Gia, Giang Nông, Bình Di, Cần Thăng, Bắc Nam, Nhân Hội).
    • Khu vực phòng thủ thứ hai (tuyến Hà Tiên và biển đảo): Gồm thành Hà Tiên, bảo Trấn Biên, bảo Giang Thành, pháo đài Kim Dữ, Trường Lũy, đồn Phú Quốc và các đồn kiểm soát vùng biển Tây Nam.
    • Khu vực phòng thủ thứ ba (hậu phương Định Tường, Gia Định, Đồng Tháp Mười): Gồm các điểm tựa giồng Kiến Định, Ba Giồng, các đồn chốt kiểm soát tuyến sông Tiền như Vàm Nao, Cổ Hũ, Hồi Oa.
    • Cơ sở quân sự Trấn Tây thành (1835-1841): Tuyến tiền đồn hải ngoại nhằm trực tiếp khống chế địa bàn Chân Lạp.
  • Đánh giá: Luận án khẳng định thành tựu đánh lui các cuộc tấn công quy mô lớn của quân Xiêm trong hai cuộc chiến tranh (1833-1834 và 1841-1845). Tuy nhiên, hạn chế về vũ khí lạc hậu, công sự bằng đất thiếu khả năng chống đỡ hỏa lực pháo hiện đại, cùng những sai lầm trong chính sách cai trị tại Chân Lạp và đối phó với thực dân Pháp đã dẫn đến sự sụp đổ của tuyến phòng thủ này vào năm 1867.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự nêu những đóng góp khoa học chủ yếu sau:

  • Làm rõ một cách có hệ thống cơ sở, điều kiện tự nhiên, xã hội, bối cảnh lịch sử, quá trình nhận thức, chủ trương và nội dung cốt lõi của chính sách quốc phòng triều Nguyễn trên vùng biên giới Tây Nam Bộ giai đoạn 1802-1867.
  • Phục dựng toàn diện quá trình thực thi và điều chỉnh chính sách quốc phòng thông qua ba trụ cột: củng cố nguồn nội lực bên trong (hành chính, nông nghiệp, giao thông thủy bộ), phát huy công tác ngoại giao (chính sách bảo hộ Chân Lạp, đối trọng Xiêm La) và xây dựng tiềm lực quân sự trực tiếp (tổ chức quân đội 4 binh chủng, bố trí 3 khu vực phòng thủ).
  • Đánh giá khách quan, khoa học về các đặc điểm, thành tựu bảo vệ toàn vẹn bờ cõi trước các thế lực láng giềng, đồng thời chỉ rõ những hạn chế lịch sử về tổ chức, kỹ thuật quân sự và chính sách xã hội dưới triều Nguyễn.

Các bài học kinh nghiệm được luận án rút ra cho công cuộc quốc phòng hiện nay gồm:

  • Bài học về thực hiện phương châm "an dân", kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế nông nghiệp, định canh định cư với củng cố quốc phòng, xây dựng thế trận lòng dân vững chắc nơi biên ải.
  • Bài học về quy hoạch và phát triển mạng lưới giao thông thủy bộ mang tính lưỡng dụng, vừa phục vụ dân sinh kinh tế, vừa đáp ứng kịp thời yêu cầu cơ động lực lượng phòng thủ biên giới.
  • Bài học về ứng xử ngoại giao linh hoạt, khéo léo trong quan hệ với các quốc gia láng giềng nhằm thiết lập không gian hòa bình, ngăn chặn xung đột từ sớm, từ xa.
  • Bài học về xây dựng lực lượng vũ trang tinh nhuệ, phù hợp với đặc thù tác chiến sông nước - đồng trũng - đồi núi, kết hợp với việc không ngừng đổi mới trang bị vũ khí, phương tiện chiến đấu.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế, luận án bị giới hạn trong khung thời gian 1802-1867 và không gian các tỉnh biên giới Tây Nam Bộ. Các nguồn tư liệu từ phía Campuchia, Thái Lan và văn bản lưu trữ của Pháp thời kỳ đầu xâm lược dù đã được khảo sát nhưng việc tiếp cận văn bản gốc tiếng bản địa vẫn còn những giới hạn nhất định.

Về hướng nghiên cứu tiếp, luận án gợi mở một số nội dung:

  • Tiếp tục mở rộng nghiên cứu giai đoạn sau năm 1867, khảo sát phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân vùng biên giới Tây Nam Bộ dưới góc độ quốc phòng toàn dân.
  • Thực hiện các công trình nghiên cứu so sánh đối chiếu giữa chính sách quốc phòng trên vùng biên giới Tây Nam Bộ với tuyến biên giới phía Bắc và tuyến biển đảo miền Trung thời Nguyễn.
  • Khai thác sâu hơn các nguồn tư liệu biên niên và văn khố quân sự của Campuchia, Thái Lan và Pháp để làm sáng tỏ tương quan đa chiều trong quan hệ quốc tế tại khu vực nửa đầu thế kỷ XIX.

Giá trị tham khảo

Công trình luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử quân sự, Lịch sử quan hệ quốc tế và Địa chí Nam Bộ có thể sử dụng luận án làm tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về nghệ thuật quân sự và chính sách quản lý biên cương thời Nguyễn.
  • Các cơ quan hoạch định chiến lược an ninh - quốc phòng, cán bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng và Quân khu 9 có thể tham khảo các bài học kinh nghiệm về kết hợp kinh tế với quốc phòng, bố trí thế trận phòng thủ liên hoàn trên địa hình sông nước và xử lý các vấn đề dân tộc, tôn giáo nơi biên giới.
  • Phần đáng tham khảo nhất của luận án là chương 3 và chương 4, nơi cung cấp nguồn sử liệu chi tiết về hệ thống đồn bảo (Tam đạo, tuyến Vĩnh Tế), công trình kênh đào quân sự và tổ chức các binh chủng tại chỗ.

Câu hỏi thường gặp

1. Chính sách quốc phòng của nhà Nguyễn tại vùng biên giới Tây Nam Bộ (1802-1867) được cấu thành từ những trụ cột chiến lược nào?
Chính sách quốc phòng của nhà Nguyễn tại khu vực này dựa trên ba trụ cột chiến lược có mối quan hệ hữu cơ: thứ nhất là tăng cường nội lực bên trong thông qua ổn định hành chính, quản lý xã hội đa tộc người, đẩy mạnh khai hoang đồn điền và đào kênh giao thông chiến lược; thứ hai là củng cố sức mạnh ngoại giao thông qua chính sách bảo hộ Chân Lạp và cân bằng quyền lực với Xiêm La để tạo vùng đệm an ninh bên ngoài; thứ ba là xây dựng lực lượng quân sự thường trực gồm 4 binh chủng và thiết lập hệ thống đồn lũy phòng thủ ba tầng liên hoàn.

2. Địa bàn hành chính vùng biên giới Tây Nam Bộ thời Nguyễn biến đổi như thế nào trước và sau năm 1832?
Trước cuộc cải cách hành chính năm 1832 của vua Minh Mạng, vùng biên giới Tây Nam Bộ trực thuộc Tổng trấn Gia Định thành, gồm 4 trấn: Định Tường, Vĩnh Thanh, Hà Tiên và một phần phía Nam trấn Phiên An. Sau cải cách năm 1832, Gia Định thành bị xóa bỏ, khu vực này được tổ chức lại thành 4 tỉnh trực thuộc triều đình trung ương: Định Tường, An Giang, Hà Tiên và một phần phía Nam tỉnh Gia Định.

3. Hệ thống "Tam đạo" giữ vị trí phòng thủ như thế nào trong cách bố trí quân sự của nhà Nguyễn?
"Tam đạo" gồm ba đồn đạo quân sự xung yếu: Tân Châu, Hùng Ngự và Chiến Sai. Đây là các cơ sở phòng thủ then chốt án ngữ vùng thượng lưu sông Tiền, giữ nhiệm vụ kiểm soát an ninh biên giới đường thủy, ngăn chặn từ sớm các hướng tiến công của quân địch từ Chân Lạp tràn xuống, bảo vệ hậu phương Định Tường và toàn bộ miền Tây Nam Bộ.

4. Kênh Thoại Hà và kênh Vĩnh Tế có ý nghĩa gì đối với công tác quốc phòng của nhà Nguyễn?
Kênh Thoại Hà (đào năm 1818) và kênh Vĩnh Tế (đào từ năm 1819 đến 1824) là hai công trình thủy đạo chiến lược đa mục tiêu. Về quân sự, hai con kênh này kết nối các đồn bảo từ Châu Đốc ra biển Hà Tiên, tạo điều kiện cơ động binh thuyền, chuyển vận vũ khí và lương thực nhanh chóng, đồng thời xác lập đường ranh giới phòng ngự tự nhiên trên bộ. Về kinh tế, hệ thống kênh giúp thoát lũ, rửa phèn, thúc đẩy khai hoang lập ấp và tạo nguồn lương thực hậu cần tại chỗ.

5. Lực lượng quân đội nhà Nguyễn tại các tỉnh biên giới Tây Nam Bộ được tổ chức gồm những thành phần nào?
Quân đội triều Nguyễn tại vùng biên giới Tây Nam Bộ được chia thành 4 binh chủng chính: bộ binh, thủy binh, pháo binh và tượng binh, tổ chức theo các đơn vị cơ, vệ, đội thường trực. Điểm đặc thù tại đây là sự hiện diện của lực lượng thủy quân mạnh (như Vệ thủy Hà Tiên với 328 binh lính) và ty Hành nhân (chuyên trách thông dịch tiếng Chân Lạp, Xiêm La, Hoa phục vụ hoạt động trinh sát và đối ngoại).

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Dương Thị Hiền là một công trình nghiên cứu lịch sử chuyên sâu, phục dựng một cách toàn diện và có hệ thống chính sách quốc phòng của nhà Nguyễn trên vùng biên giới Tây Nam Bộ giai đoạn 1802-1867. Tác giả đã làm rõ cấu trúc liên hoàn của chính sách thông qua ba trụ cột: củng cố nội lực, điều hành ngoại giao khu vực và tổ chức lực lượng quân sự bố phòng chiến lược. Bên cạnh việc khẳng định các thành tựu giữ vững biên cương trước các cuộc chiến tranh xâm lấn từ Xiêm La, luận án đã phân tích khách quan những giới hạn về kỹ thuật, tổ chức quân sự và chính sách xã hội dẫn đến sự thất bại trước cuộc xâm lăng của thực dân Pháp. Những kết quả nghiên cứu và bài học kinh nghiệm được đúc kết từ công trình mang lại giá trị khoa học và giá trị thực tiễn đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ chủ quyền biên giới Tây Nam của Việt Nam hiện nay.