CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NGÀNH CHĂN NUÔI LỢN Trong quá trình nghiên cứu luận án, nghiên cứu sinh khảo cứu các công trình khoa học đã công bố có nội dung liên quan đến các vấn đề của luận án. Kết quả nghiên cứu khoa học của các công trình này được tổng hợp lại theo những vấn đề sau. Các công trình nghiên cứu của nước ngoài Kể từ đầu thập kỷ 17 cho đến nay nghiên cứu về vấn đề phát triển bền vững đã được nhiều nhà khoa học, các tổ chức trên toàn cầu với nhiều quan điểm và cách tiếp cận khác nhau đã phân tích, khám phá những vấn đề liên quan ở nhiều cấp độ, quy mô và các ngành kinh tế, trong đó có ngành chăn nuôi. Nhiều nghiên cứu đã cho rằng, hậu quả của việc tìm kiếm lợi nhuận trong sản xuất kinh doanh và tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá đã đưa đến các sự cố về ô nhiễm môi trường và tác động tiêu cực không nhỏ tới đời sống dân cư và tới sự ổn định kinh tế - xã hội của quốc gia.
Với ngành chăn nuôi, thách thức mới đặt ra là “làm thế nào để ngành chăn nuôi có thể phát triển bền vững” và Chính phủ phải làm gì để ngành này có thể phát triển bền vững trong dài hạn. Trong nghiên cứu tổng quan của luận án chia thành ba nhóm chính: (i) Nhóm nghiên cứu về phát triển bền vững ngành, (ii) Nhóm nghiên cứu về phát triển bền vững ngành chăn nuôi, (iii) Nhóm nghiên cứu về chính sách phát triển bền vững ngành chăn nuôi. Các công trình nghiên cứu về phát triển bền vững và bền vững ngành Năm 1972 Liên Hợp Quốc đã tổ chức Hội thảo về vấn đề môi trường sống của con người, đánh dấu sự nỗ lực khởi đầu của cộng đồng quốc tế trong việc nghiên cứu, đề cập những vấn đề thời sự liên quan đến môi trường. Hội thảo có sự tham dự của 173 quốc gia, ở đó đã làm rõ những vấn đề căn bản về phát triển bền vững nhằm kết nối chặt chẽ hơn giữa chất lượng cuộc sống và chất lượng môi trường.
Một trong những văn bản ra đời sớm nhất đề cập thuật ngữ “Phát triển bền vững” dưới một tiêu đề phụ của chiến lược bảo tồn thế giới năm 1980 của IUCN/WWF/UNEP đã khái niệm rằng, “Phát triển bền vững để bảo tồn nguồn lực sống”. Trên cơ sở đó, năm 1983 Liên Hợp Quốc thành lập “Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED)” tập trung vào những vấn đề của phát triển bền vững. Ủy ban đã chỉ ra sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các vấn đề kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường trong mối tương quan của sự phát triển bền vững. luan an 8 Năm 1987 khái niệm phát triển bền vững được phổ biến rộng rãi do Ủy ban Môi trường và Phát triển thế giới (WCED) của Liên Hiệp Quốc đưa ra trong báo cáo “Tương lai của chúng ta” như sau: “Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu trong tương lai”.
Định nghĩa này được nhiều người, nhiều tổ chức tán đồng bởi nó bao quát được sự lâu dài việc đáp ứng thỏa mãn mọi nhu cầu của con người ở nhiều thế hệ. Theo đó phát triển bền vững phải dựa trên ba trụ cột: bền vững về kinh tế, môi trường và xã hội. Năm 1992, tại Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất, vấn đề phát triển bền vững đã tập trung vào phát triển môi trường, xã hội và kinh tế. Cũng từ đó xuất hiện ngày càng nhiều các công trình nghiên cứu đến vấn đề này.
FAO (1989) định nghĩa “phát triển bền vững là việc quản lý và bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự định hướng của công nghệ và thay đổi thể chế theo cách đảm bảo đạt được và tiếp tục đáp ứng nhu cầu của con người cho các thế hệ hiện tại và tương lai”. Theo định nghĩa này, phát triển bền vững trong mọi lĩnh vực đều nhằm vào bảo tồn đất, nước, thực vật và nguồn gen động vật, không làm suy giảm tài nguyên, hệ sinh thái môi trường với kỹ thuật phù hợp, đạt hiệu quả cao mang lại phúc lợi cho toàn xã hội. Theo Adamowicz & Dresler (2006) và Majewski (2008) phát triển bền vững nên tăng cường phương pháp tiếp cận dựa vào chất lượng cuộc sống hiện tại cũng như tương lai qua sự tích hợp năm vấn đề: kinh tế, sinh thái, xã hội, thể chế và không gian với một tỷ lệ thích hợp trong việc nuôi trồng. Các tác giả cho rằng chỉ có thể thông qua sự tích hợp các chính sách liên quan đến các vấn đề trên mới có thể đạt được mục tiêu của phát triển bền vững đặt ra.
Tóm lại các khái niệm về phát triển bền vững đề cập tới tất cả các hoạt động của con người phải đảm bảo tính thích ứng với tự nhiên, để đảm bảo an toàn sinh thái và được xã hội chấp nhận. Tác giả Steven Van Passel (2007) cho rằng để đạt được phát triển bền vững cần phải tích hợp những thành tựu của ba trụ cột bền vững. Stern, (2004); Susmita Dasgupta & cộng sự (2008); Esty & cộng sự (2008) cũng khẳng định để phát triển bền vững cần thiết phải duy trì sự tồn tại và cân bằng tích cực giữa các hệ thống kinh tế, xã hội và môi trường. Vấn đề phát triển bền vững đã được triển khai đến các ngành, lĩnh vực khác nhau, cụ thể: Phát triển bền vững ngành nông nghiệp, các chuyên gia quốc tế thuộc Ban cố vấn kỹ thuật về nghiên cứu nông nghiệp định nghĩa như sau “Nông nghiệp bền vững phải bao hàm sự quản lý thành công tài nguyên nông nghiệp nhằm thỏa mãn nhu cầu của luan an 9 con người đồng thời cải tiến chất lượng môi trường và gìn giữ được tài nguyên thiên nhiên”.
Các tác giả Julian Dumanski & cộng sự (1998) cho rằng nông nghiệp bền vững sẽ cung cấp cơ hội kinh tế và xã hội cho con người ở mọi thời đại, đồng thời bảo vệ được môi trường và tài nguyên quốc gia. Theo kết quả thảo luận Bộ nông nghiệp của Cộng Hòa Nam Phi năm 2002 về chính sách phát triển nông nghiệp bền vững phải đáp ứng những thách thức kinh tế, xã hội và sinh thái. Theo chương trình nghiên cứu của Thụy Điển (FOOD 21- Sustainable Food Production 1997-2004) phát triển bền vững là đảm bảo cho người nông dân sản xuất, ổn định và cải thiện cuộc sống, sản phẩm tạo ra được người tiêu dùng chấp nhận. Các tác giả Olaf Christen & Zita O’Halloranetholtz (2002) khẳng định nông nghiệp được cho là phát triển bền vững nếu có sự tích hợp ba trụ cột bền vững.
Đồng thời theo các tác giả, bền vững về kinh tế đo lường qua các tiêu chí như (năng suất của việc sử dụng tài nguyên đất, được đo bằng sản lượng đầu ra trên mỗi đơn vị diện tích); mô hình thâm canh và tần suất sử dụng; sự lựa chọn đa dạng và di truyền; cân bằng phân bón với dinh dưỡng và hiệu quả kinh tế (lợi nhuận). Ceyhan (2010) các chỉ số đo tính bền vững về mặt kinh tế bao gồm (Lợi nhuận trên tài sản; hiệu quả kinh tế; năng suất tổng hợp các nhân tố (TFP); % rủi ro; thu nhập thuần từ trang trại bình quân đầu người; sử dụng tín dụng ($/ha); tỷ lệ nông dân có tỷ lệ đất nông nghiệp trống; tỷ lệ các trang trại có kế hoạch hoạt động đầu tư; tỷ lệ các trang trại mở rộng đất nông nghiệp và tỷ lệ trang trại đầu tư vốn cho lĩnh vực phi nông nghiệp. Để đo lường bền vững về mặt xã hội trong phát triển nông nghiệp, các tác giả Olaf Christen & Zita O’Halloranetholtz (2002) đã sử dụng các chỉ tiêu về: tình hình người lao động như (Phân phối thu nhập, chỉ số phúc lợi, số lượng việc làm, thu nhập trên đầu người, trình độ giáo dục, đào tạo thêm). Về môi trường, tính bền vững được đo bởi các chỉ tiêu như: Lượng hóa chất sử dụng; theo dõi nồng độ khí; đa dạng sinh học, việc sử dụng nguồn lực tự nhiên; tác hại đến môi trường bên ngoài; chăm sóc động vật tốt và theo quy luật tự nhiên).
Ceyhan (2010) đo lường bằng các tiêu chí: Hiệu quả kỹ thuật; quy mô diện tích canh tác áp dụng phân bón trên tổng diện tích gieo trồng tổng hợp; tỷ lệ diện tích canh tác sử dụng hóa chất; tỷ lệ nông trang sử dụng phân bón tổng hợp nhiều hơn mức cho phép; tỷ lệ nông trang sử dụng thuốc trừ sâu hơn mức cho phép; số lượng các nhà máy thành lập trong khu vực; luan an 10 tỷ lệ trang trại được phép phá rừng để được thêm đất nông nghiệp; tỷ lệ trang trại được phép xây dựng nhà máy trên đất nông nghiệp; quy mô khu vực nông nghiệp hữu cơ; tỷ lệ các khu định cư được xây dựng trên đất nông nghiệp hạng nhất và thứ hai. Về phát triển bền vững ngành thực phẩm, nhóm tác giả Yakovleva & Flynn (2004), Joseph Sarkis Thomas Sloan (2010) đo tính bền vững về kinh tế bằng các chỉ số gồm: Đóng góp vào GDP; năng suất; lợi nhuận; đa dạng và cấu trúc của thị trường; tỷ lệ sản phẩm sản xuất được so với nhập khẩu và cách phân phối hàng nhập khẩu. Nhìn chung các nghiên cứu trên đều khẳng định và chỉ ra rằng phát triển bền vững của ngành nào đó đều phải có sự tích hợp các mặt kinh tế, xã hội và môi trường. Tuy nhiên các nghiên cứu đó chưa đánh giá tính bền vững một cách đồng bộ.
Các công trình nghiên cứu về phát triển bền vững ngành chăn nuôi Về phát triển bền vững ngành chăn nuôi: Theo nghiên cứu của Devendra (1993) cho rằng trong tương lai những khó khăn ngành chăn nuôi lợn cần phải giải quyết hài hòa đó là các vấn đề liên quan đến môi trường, hiệu quả kinh tế và xã hội. Do đó, chiến lược phát triển bền vững ngành chăn nuôi ngoài việc tăng khả năng đóng góp cho nền kinh tế, còn phải cân bằng giữa các trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái. Với các tác giả Thompson & Nardoneb (1999) cho rằng chăn nuôi bền vững về cơ bản phải gắn với khía cạnh sinh thái. Hoạt động này phải lập kế hoạch phát triển một cách tổng thể, đồng bộ, chi tiết, dựa trên sự hiểu biết về lựa chọn thị trường và các khả năng xem xét, điều chỉnh kế hoạch khi cần thiết.