Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Phương Trâm được thực hiện trong bối cảnh cuộc khủng hoảng biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn biến phức tạp và tác động nặng nề tới Việt Nam. Tại Hội nghị Thượng đỉnh Khí hậu COP26 (Glasgow, 2021), thông điệp hành động mạnh mẽ đã được khẳng định nhằm duy trì mục tiêu khống chế mức tăng nhiệt độ Trái Đất ở ngưỡng 1,5°C. Việt Nam là một quốc gia đang phát triển có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, nơi năng lượng giữ vai trò cốt lõi trong vận hành sản xuất và đời sống xã hội. Tuy nhiên, cơ cấu năng lượng truyền thống dựa trên nhiệt điện than đang bộc lộ những rủi ro môi trường nghiêm trọng. Tính đến năm 2020, nhiệt điện than chiếm 29% tổng công suất lắp đặt nguồn điện quốc gia và chiếm tới 51,9% sản lượng điện trong 6 tháng đầu năm 2021. Hằng năm, các nhà máy nhiệt điện than thải ra khoảng 16 - 17 triệu tấn tro, xỉ, gây ô nhiễm nghiêm trọng chất lượng không khí, đất, nguồn nước và đe dọa sức khỏe cộng đồng. Trước yêu cầu chuyển dịch cơ cấu sang năng lượng sạch (NLS) để thực thi các cam kết quốc tế về giảm phát thải, việc hoàn thiện khung chính sách pháp luật trở thành đòi hỏi cấp bách.

Mục đích nghiên cứu: Làm rõ tính cấp thiết của việc phát triển NLS trong bối cảnh biến đổi khí hậu; phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và chính sách khuyến khích NLS tại Việt Nam đặt trong sự so sánh, đối chiếu với kinh nghiệm của Nhật Bản; từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện khung pháp lý nhằm thúc đẩy thị trường NLS phát triển bền vững và cân bằng lợi ích giữa các bên liên quan.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Nghiên cứu cơ sở lý thuyết tổng quát về năng lượng sạch, phân định mối quan hệ giữa năng lượng sạch, năng lượng xanh, năng lượng tái tạo (NLTT) và năng lượng hạt nhân (NLHN); so sánh hiệu quả kinh tế - môi trường của NLS với năng lượng hóa thạch (NLHT).
  2. Đánh giá tính cấp thiết của việc phát triển NLS đối với Việt Nam dựa trên các rủi ro khí hậu thực tế và hệ thống cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia.
  3. Phân tích thực trạng thực thi và khung pháp luật điều chỉnh NLS tại Việt Nam (tập trung vào điện mặt trời, điện gió, điện sinh khối, điện hạt nhân), đồng thời phân tích các chính sách thúc đẩy NLS tương ứng của Nhật Bản.
  4. Đề xuất các giải pháp và định hướng cụ thể nhằm hoàn thiện chính sách, pháp luật về NLS tại Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quy phạm pháp luật, chính sách ưu đãi, cơ chế quản lý và thực trạng áp dụng pháp luật đối với NLS tại Việt Nam và Nhật Bản.
  • Phạm vi nội dung và không gian: Tập trung vào các nguồn năng lượng sạch tiêu biểu gồm điện mặt trời, điện gió, điện sinh khối và điện hạt nhân; ranh giới pháp lý điều chỉnh các ưu đãi về đất đai, thuế, biểu giá mua điện (FIT/FIP), chống độc quyền và tiêu chuẩn kỹ thuật tại Việt Nam đặt trong sự so chiếu với pháp luật Nhật Bản.
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu pháp luật và thực tiễn phát triển năng lượng được khảo sát chủ yếu trong giai đoạn từ năm 2010 đến đầu năm 2022 (bao gồm các mốc chính sách ban hành và có hiệu lực đến tháng 5/2022).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm pháp lý:

  • Phân định khái niệm: NLS được xác định là năng lượng sản xuất từ các nguồn sơ cấp và tái tạo, không phát thải khí gây ô nhiễm khi sử dụng, kết hợp với các biện pháp sử dụng tiết kiệm và hiệu quả. Tác giả phân tích sự giao thoa và khác biệt giữa năng lượng sạch, năng lượng xanh và NLTT (dẫn chiếu Luật Bảo vệ môi trường 2014, Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả 2010, Quy chế IRENA 2009). Thủy điện tuy có khả năng tái tạo nhưng có thể không được coi là "xanh" nếu việc xây đập hủy hoại sinh thái rừng; ngược lại, điện hạt nhân không phát thải khí nhà kính nhưng đặt ra yêu cầu kiểm soát an toàn nghiêm ngặt.
  • Quy luật kinh tế - kỹ thuật: Áp dụng Định luật Swanson (giá pin quang điện mặt trời giảm một nửa sau mỗi 10 năm và giảm 20% mỗi khi sản lượng sản xuất tăng gấp đôi) để chứng minh tính cạnh tranh chi phí dài hạn của NLS so với xu hướng cạn kiệt tài nguyên hóa thạch (dự báo dầu mỏ cạn kiệt vào năm 2052, than đá cạn kiệt vào năm 2088).
  • Hệ thống văn bản pháp luật và điều ước quốc tế làm căn cứ:
    • Việt Nam: Luật Bảo vệ môi trường 2020 (Luật số 72/2020/QH14), Luật Đầu tư 2020 (Luật số 61/2020/QH14), Luật Năng lượng nguyên tử 2008, Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế Tiêu thụ đặc biệt; Nghị quyết số 55-NQ/TW của Bộ Chính trị; các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ: Quyết định 11/2017/QĐ-TTg, Quyết định 13/2020/QĐ-TTg (điện mặt trời), Quyết định 39/2018/QĐ-TTg (điện gió), Quyết định 24/2014/QĐ-TTg và Quyết định 08/2020/QĐ-TTg (điện sinh khối); các Nghị định 08/2022/NĐ-CP, 35/2017/NĐ-CP, 31/2021/NĐ-CP, 218/2013/NĐ-CP.
    • Nhật Bản: Đạo luật Năng lượng tái tạo (Đạo luật Biểu giá điện hỗ trợ - FIT Act 2012, bổ sung cơ chế Feed-in Premium - FIP có hiệu lực từ ngày 01/04/2022), Đạo luật Cơ bản về Năng lượng Nguyên tử.
    • Điều ước quốc tế: Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu (UNFCCC), Thỏa thuận Paris 2015, cam kết Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC cập nhật năm 2020 của Việt Nam tăng mức giảm phát thải thêm 2%), các điều khoản môi trường trong EVFTA, CPTPP và EFTA.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phân tích các dữ liệu khí tượng, rủi ro tự nhiên, kịch bản nước biển dâng và các chỉ số kinh tế - kỹ thuật để luận giải tính cấp bách của chuyển dịch năng lượng.
  • Phương pháp so sánh luật học: So sánh đối chiếu cơ chế điều chỉnh pháp luật của Nhật Bản và Việt Nam về thẩm quyền định giá, cơ cấu biểu giá điện, chính sách kiểm soát độc quyền lưới điện, tiêu chuẩn kỹ thuật và các gói ưu đãi đầu tư.

Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp từ các văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo chính thức của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công Thương, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ (EIA), Tổ chức Germanwatch (Chỉ số CRI), Báo cáo Tình trạng Công nghiệp Hạt nhân Thế giới (WNISR 2020), Cơ quan Tài nguyên và Năng lượng Nhật Bản (ANRE/METI).


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát về năng lượng sạch

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về NLS, so sánh các đặc tính kinh tế - môi trường với năng lượng hóa thạch và làm rõ tính tất yếu của việc chuyển đổi năng lượng tại Việt Nam.

  • So sánh NLS và năng lượng hóa thạch:
    • Về mặt kinh tế: Khởi điểm chi phí đầu tư NLS cao nhưng giảm dần theo quy mô và công nghệ (Định luật Swanson). NLS giúp người tiêu dùng và nhà đầu tư thu hồi vốn ổn định (khảo sát mô hình điện mặt trời áp mái nối lưới có dự trữ cho thấy hiệu quả sinh lời vượt trội sau vòng đời 25 năm so với gửi tiết kiệm ngân hàng). Ngược lại, chi phí khai thác nhiên liệu hóa thạch ngày càng tăng do cạn kiệt mỏ và địa bàn khó tiếp cận.
    • Về tác động môi trường: Các tấm pin mặt trời có tuổi thọ 20 - 30 năm, mức suy giảm hiệu suất khoảng 0,5%/năm, không phát thải khí ô nhiễm trong quá trình vận hành; chất thải bảo trì chủ yếu là nước rửa bụi và pin hết hạn (không bị xếp vào nhóm chất thải nguy hại theo kiểm định của các cơ quan môi trường Hoa Kỳ). Trái lại, nhiên liệu hóa thạch gây phá hủy địa chất khi khoan cắt, phát thải CO2 gây hiệu ứng nhà kính và mưa axit.
  • Tính cấp thiết thực thi NLS tại Việt Nam:
    • Rủi ro khí hậu: Việt Nam xếp thứ 38 về Chỉ số Rủi ro Khí hậu Toàn cầu năm 2019 và thứ 13 về Chỉ số Rủi ro Khí hậu Dài hạn (CRI) giai đoạn 2000 - 2019. Kịch bản biến đổi khí hậu chỉ ra nhiệt độ có thể tăng từ 0,6°C đến 4°C vào năm 2100; nếu nước biển dâng 1m sẽ làm ngập vĩnh viễn khoảng 40% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long (ảnh hưởng 10% dân số khu vực do mất đất) và 10 - 11% diện tích Đồng bằng sông Hồng bị xâm nhập mặn, đe dọa sinh kế của 20 - 30 triệu người, làm giảm tới 50% sản lượng lúa. Thiên tai lũ quét, sạt lở đất nghiêm trọng tại vùng miền núi (như sự cố sạt lở thủy điện Rào Trăng 3 năm 2020) và nguy cơ bùng phát dịch bệnh truyền nhiễm cổ xưa do tan băng.
    • Nghĩa vụ cam kết quốc tế: Tuyên bố của Thủ tướng Chính phủ tại COP26 cam kết đạt mức phát thải ròng bằng "0" (Net Zero) vào năm 2050; thực thi Thỏa thuận Paris khống chế mức tăng nhiệt độ dưới 2°C và nỗ lực đạt 1,5°C; thực hiện cam kết trong 8 lĩnh vực điều ước môi trường quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Chương 2: Quy định pháp luật của Nhật Bản và thực trạng pháp luật tại Việt Nam về năng lượng sạch và một số đề xuất

Chương 2 phân tích kinh nghiệm lập pháp của Nhật Bản, đánh giá thực trạng chính sách tại Việt Nam trên các nhóm vấn đề cụ thể và xây dựng hệ thống kiến nghị hoàn thiện.

1. Chính sách thúc đẩy năng lượng sạch của Nhật Bản

  • Chuyển dịch cơ cấu: Sau sự cố nhà máy Fukushima năm 2011, Nhật Bản giảm mạnh điện hạt nhân và đẩy mạnh NLTT. Tỷ trọng NLTT trong cơ cấu nguồn điện tăng gần gấp đôi trong vòng 10 năm, từ 9,5% (năm 2010) lên 18% (năm 2020).
  • Cơ chế biểu giá điện (FIT và FIP): Luật Biểu giá điện hỗ trợ (FIT) năm 2012 quy định Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp (METI) là cơ quan duy nhất có thẩm quyền xác định mức giá và thời hạn mua điện hằng năm dựa trên tuổi thọ công nghệ sau khi lấy ý kiến liên bộ, đảm bảo nhà đầu tư đạt lợi nhuận cao trong 3 năm đầu. Ngày 01/04/2022, Nhật Bản đưa vào vận hành cơ chế Feed-in Premium (FIP) cho các dự án điện mặt trời và điện gió quy mô lớn: nhà đầu tư bán điện trực tiếp trên thị trường theo giá cung - cầu và nhận thêm một khoản trợ cấp bảo hiểm (premium), thúc đẩy NLTT trở thành nguồn phát độc lập gắn với thị trường và công nghệ pin lưu trữ.
  • Phân loại FIT và cơ chế đấu thầu: Điện gió đất liền được định giá theo địa hình; điện gió ngoài khơi áp dụng cơ chế đấu thầu công khai (kết hợp tiêu chí giá, năng lực nhà phát triển và đóng góp địa phương); điện sinh khối phân chia rõ: quy mô dưới 10.000 kW áp dụng giá FIT cố định, quy mô từ 10.000 kW trở lên bắt buộc đấu thầu (tổ chức 2 lần/năm).
  • Chống độc quyền và quản trị điện hạt nhân: Tách độc lập khâu truyền tải và phân phối khỏi các công ty phát điện độc quyền khu vực; Ủy ban Thương mại Công bằng phối hợp với METI xử phạt nghiêm hành vi phân biệt đối xử đấu nối lưới điện. Quản lý điện hạt nhân được vận hành chặt chẽ theo Đạo luật Cơ bản về Năng lượng Nguyên tử với sự phối hợp của NISA, METI, AEC, JAEA và QST.

2. Thực trạng thực thi và bất cập pháp lý tại Việt Nam

  • Thực tế phát triển: Điện mặt trời bùng nổ trong giai đoạn 2019 - 2020 nhờ Quyết định 11/2017/QĐ-TTg và Quyết định 13/2020/QĐ-TTg, đạt 25% tổng công suất lắp đặt hệ thống điện quốc gia vào cuối năm 2020, dẫn tới hiện tượng nghẽn mạch lưới truyền tải và phải cắt giảm công suất. Về điện hạt nhân, dự án Ninh Thuận 1 (hợp tác với Nga) và dự án hợp tác với Nhật Bản đã bị Quốc hội dừng năm 2016 (với 92% đại biểu tán thành) do lo ngại an toàn, vốn đầu tư và nhu cầu tăng trưởng chậm lại; tuy nhiên định hướng xem xét lại điện hạt nhân sau năm 2035 (dự kiến công suất 1.000 MW năm 2040) đang được đặt ra.
  • Các bất cập pháp lý chủ yếu:
    • Thiếu định nghĩa chuẩn hóa: Luật Bảo vệ môi trường 2020 không định nghĩa NLTT mà phải dẫn chiếu Luật 2014; chưa có luật chuyên biệt điều chỉnh chung về năng lượng sạch.
    • Hiện tượng "trống chính sách" giá FIT: Điện mặt trời bị gián đoạn chính sách hơn 9 tháng giữa Quyết định 11 và Quyết định 13; sau đó tiếp tục "trống" biểu giá FIT suốt năm 2021 cho đến thông báo số 156/EVN-KD+TCKT ngày 10/01/2022. Hàng loạt dự án vượt công suất 2.000 MW tại Ninh Thuận rơi vào tình trạng không có cơ chế thanh toán. Điện gió sau ngày 31/10/2021 (hết hạn Quyết định 39/2018/QĐ-TTg) không được gia hạn dù việc thi công bị đình trệ do dịch COVID-19.
    • Thẩm quyền định giá thiếu tính khách quan: Giá mua điện năm 2022 do EVN tự tính toán và thông báo, tạo ra sự mâu thuẫn lợi ích khi bên mua điện đơn quyền lại nắm quyền công bố giá mua từ đối thủ cạnh tranh.
    • Hạn chế trong ưu đãi thuế và đất đai: Ưu đãi thuế TNDN (thuế suất 10% trong 15 năm, miễn 4 năm, giảm 50% trong 9 năm theo Nghị định 218/2013/NĐ-CP) tính mốc thời gian từ khi có doanh thu thay vì khi có lợi nhuận, trong khi dự án NLS có thời gian hoàn vốn dài. Thời hạn chuyển lỗ tối đa 5 năm (Thông tư 78/2014/TT-BTC) là quá ngắn. Miễn tiền thuê đất cho toàn bộ thời hạn thuê (Nghị định 35/2017/NĐ-CP) dễ dẫn đến tranh chấp đất đai với cộng đồng nông nghiệp tại địa phương quy hoạch dự án.
    • Độc quyền tự nhiên và thiếu tiêu chuẩn kỹ thuật: EVN giữ thế độc quyền trong truyền tải và điều độ hệ thống; thiếu bộ Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia về an toàn, nối đất và chống sét cho điện mặt trời mái nhà. Luật Năng lượng nguyên tử 2008 đã lạc hậu, thiếu khung quy định về bảo hiểm sự cố hạt nhân và bồi thường thiệt hại.
Lĩnh vực chính sách Pháp luật Nhật Bản Thực trạng pháp luật Việt Nam Đề xuất hoàn thiện của tác giả
Cơ chế xác định giá điện METI định giá FIT khách quan; bổ sung cơ chế FIP linh hoạt theo thị trường từ tháng 4/2022. Tồn tại các khoảng "trống chính sách" (ĐMT, điện gió); EVN vừa mua vừa thông báo giá. Quy định thẩm quyền định giá thống nhất thuộc Chính phủ/Bộ quản lý; định kỳ công bố giá; có lộ trình chuyển dịch sang FIP.
Phân loại biểu giá theo điều kiện Đa dạng hóa danh mục FIT theo quy mô, địa hình; áp dụng đấu thầu đối với điện gió ngoài khơi và sinh khối lớn. FIT áp dụng cào bằng một mức giá chung cho tất cả dự án gió trên đất liền; điện sinh khối cố định giá từ năm 2020. Phân loại biểu giá FIT điện gió theo vùng sâu, vùng xa, địa hình phức tạp; định kỳ cập nhật giá FIT điện sinh khối; hoãn cơ chế đấu thầu điện gió để chuẩn bị khung pháp lý 2 năm.
Ưu đãi thuế TNDN và chuyển lỗ Ưu đãi thuế nhắm vào thiết bị khử cacbon công nghệ cao. Miễn 4 năm, giảm 50% trong 9 năm tính từ khi có doanh thu; thời hạn chuyển lỗ tối đa 5 năm. Kéo dài thời gian miễn giảm thuế tính từ khi phát sinh thu nhập chịu thuế dương; kéo dài thời hạn chuyển lỗ quá 5 năm cho dự án NLS.
Chính sách đất đai Quản trị chặt chẽ quyền sử dụng đất và trách nhiệm cộng đồng. Miễn toàn bộ tiền thuê đất dự án ưu đãi đặc biệt; nguy cơ xung đột sinh kế đất nông nghiệp. Rút ngắn thời gian miễn tiền thuê đất; chuyển sang giảm tiền thuê sau khi dự án thu hồi vốn; có chính sách đền bù sinh kế cho nông dân.
Cấu trúc thị trường Tự do hóa kinh doanh điện, tách khâu truyền tải khỏi công ty độc quyền phát điện. Nhà nước giữ độc quyền truyền tải, điều độ hệ thống và sở hữu nhà máy điện lớn. Thực thi Nghị quyết 55-NQ/TW, xóa bỏ bao cấp độc quyền, xã hội hóa đầu tư hạ tầng truyền tải điện.
Tiêu chuẩn kỹ thuật Tiêu chuẩn kỹ thuật đồng bộ, phương pháp sản xuất được quy chế hóa chặt chẽ. Chưa ban hành Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia cho điện mặt trời mái nhà (chống sét, đấu nối). Xây dựng bộ tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia chuyên biệt về an toàn vận hành, nối đất cho các dự án NLS.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính:

  • Khóa luận làm rõ bức tranh tổng thể về cơ sở pháp lý và kinh tế của quá trình chuyển dịch năng lượng tại Việt Nam trong mối tương quan với các cam kết quốc tế tại COP26 và Thỏa thuận Paris.
  • Đánh giá có hệ thống các điểm nghẽn của khung pháp lý Việt Nam giai đoạn 2017 - 2022, chứng minh hiện tượng "trống chính sách" biểu giá FIT đã làm suy giảm dòng vốn đầu tư và đẩy rủi ro cho doanh nghiệp.
  • Khảo sát toàn diện mô hình lập pháp và kinh nghiệm điều hành chính sách của Nhật Bản (đặc biệt là cơ chế FIP, quy trình định giá của METI và cấu trúc chống độc quyền) làm cơ sở thực tiễn cho các giải pháp tại Việt Nam.

Giải pháp và kiến nghị lập pháp:

  1. Hoàn thiện khung luật chung: Bổ sung định nghĩa chuẩn xác về NLTT và NLS vào văn bản quy phạm pháp luật; nghiên cứu xây dựng Luật Năng lượng sạch riêng biệt.
  2. Cải cách chính sách giá và biểu giá: Luật hóa trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước trong việc công bố biểu giá định kỳ; phân loại giá FIT điện gió theo điều kiện địa hình; duy trì bước đệm 2 năm hoàn thiện quy chế trước khi chuyển hoàn toàn sang đấu thầu điện gió; chuẩn bị điều kiện áp dụng cơ chế FIP cho các dự án quy mô lớn.
  3. Điều chỉnh chính sách ưu đãi tài chính - đất đai: Kéo dài thời hạn chuyển lỗ thuế TNDN vượt mức 5 năm; tính toán thời điểm bắt đầu hưởng ưu đãi thuế gắn với phát sinh lợi nhuận; chuyển đổi từ miễn vĩnh viễn sang giảm tiền thuê đất có thời hạn gắn với cam kết bảo đảm sinh kế cho người dân bản địa bị thu hồi đất.
  4. Minh bạch hóa thị trường và cập nhật quy chuẩn: Từng bước tách bạch quản lý hạ tầng truyền tải theo tinh thần Nghị quyết 55-NQ/TW; khẩn trương ban hành bộ tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia cho thiết bị và lắp đặt điện mặt trời mái nhà; sửa đổi, bổ sung Luật Năng lượng nguyên tử 2008 về bảo hiểm và bồi thường thiệt hại hạt nhân.

Đóng góp của đề tài: Công trình góp phần bù đắp khoảng trống nghiên cứu pháp lý về NLS tại Việt Nam, nơi phần lớn các nghiên cứu trước đó chỉ tập trung vào khía cạnh kỹ thuật khai thác. Tác giả tiếp cận vấn đề dưới góc độ luật kinh tế so sánh, tạo lập cơ sở lý luận và đề xuất điều chỉnh chính sách cụ thể nhằm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, nhà đầu tư năng lượng và cộng đồng dân cư.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Cơ chế Feed-in Premium (FIP) của Nhật Bản mới chính thức có hiệu lực từ ngày 01/04/2022 (ngay sát thời điểm hoàn thành khóa luận vào tháng 05/2022), do đó tác giả chưa có đủ dữ liệu thực chứng dài hạn để đánh giá toàn diện tác động kinh tế của cơ chế này trên thực tế.
  • Khóa luận tập trung nguồn lực phân tích sâu hai phân ngành chiếm biến động chính sách lớn là điện mặt trời và điện gió; phân hệ điện sinh khối, thủy triều và địa nhiệt chưa được phân tích sâu do dung lượng thực tiễn tại Việt Nam còn hạn chế.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Tiếp tục theo dõi và đánh giá hiệu quả vận hành thực tế của cơ chế FIP tại Nhật Bản sau 2 - 3 năm triển khai để rút ra mô hình định lượng giá trị phí bảo hiểm (premium) phù hợp khi áp dụng tại Việt Nam.
  • Nghiên cứu cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA) giữa đơn vị phát điện NLS và khách hàng sử dụng điện lớn, kết hợp giải pháp pháp lý cho hệ thống lưu trữ năng lượng (BESS) khi thị trường điện cạnh tranh hoàn thiện.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Quốc tế, Quản lý Môi trường và Kinh tế Năng lượng; các chuyên viên tư vấn pháp lý dự án năng lượng tái tạo; các cơ quan nghiên cứu xây dựng chính sách thuộc Bộ Công Thương, Bộ Tài nguyên và Môi trường.
  • Nội dung có giá trị tham khảo cao:
    • Phần phân tích chi tiết quy trình định giá và phân cấp quản lý FIT/FIP của Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản (METI).
    • Phần chỉ ra các lỗ hổng kỹ thuật lập pháp trong quy định ưu đãi thuế TNDN (Nghị định 218/2013/NĐ-CP) và những bất cập trong việc áp dụng thời hạn miễn tiền thuê đất (Nghị định 35/2017/NĐ-CP) đối với các dự án năng lượng quy mô lớn tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao tác giả lựa chọn Nhật Bản để so sánh chính sách pháp luật về năng lượng sạch với Việt Nam?
Nhật Bản có sự tương đồng lớn với Việt Nam khi cả hai quốc gia đều chỉ thực sự đẩy mạnh chuyển dịch sang NLTT trong khoảng một thập kỷ trở lại đây (Nhật Bản bắt đầu tái cấu trúc mạnh sau sự cố Fukushima 2011). Quá trình phát triển nhanh trong thời gian ngắn khiến Nhật Bản cũng từng gặp phải các bất cập về quá tải lưới điện, chính sách giá và đã nhanh chóng điều chỉnh (chuyển đổi từ FIT sang FIP từ tháng 04/2022). Ngoài ra, hai nước có nhiều dự án hợp tác năng lượng thực tế (như các dự án điện gió tại Quảng Ninh) và cùng đối mặt với rào cản nhận thức xã hội khi tiếp cận lại nguồn điện hạt nhân.

2. Hiện tượng "trống chính sách" biểu giá FIT tại Việt Nam được luận văn phân tích cụ thể qua những dẫn chứng nào?
Tác giả chỉ rõ hiện tượng này ở cả hai lĩnh vực điện mặt trời và điện gió:

  • Điện mặt trời: Quyết định 11/2017/QĐ-TTg hết hiệu lực từ ngày 01/07/2019 nhưng phải mất hơn 9 tháng sau Quyết định 13/2020/QĐ-TTg mới có hiệu lực (ngày 22/05/2020). Sau đó, Quyết định 13 chỉ chốt giá đến 31/12/2020, tạo ra khoảng trống giá suốt năm 2021 cho đến khi EVN ra văn bản số 156 ngày 10/01/2022. Ngoài ra, việc vượt ngưỡng công suất 2.000 MW tại Ninh Thuận cũng bị ngưng mua điện do thiếu cơ chế giá cho phần công suất nằm ngoài quy hoạch ban đầu.
  • Điện gió: Quyết định 39/2018/QĐ-TTg hết hạn vào ngày 31/10/2021, nhiều dự án bị chậm tiến độ vì dịch COVID-19 không kịp vận hành thương mại (COD) nhưng không được gia hạn và chưa có cơ chế thay thế chính thức.

3. Bất cập lớn nhất trong chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với dự án NLS tại Việt Nam là gì?
Theo quy định tại Nghị định 218/2013/NĐ-CP và Thông tư 96/2015/TT-BTC, thời hạn hưởng thuế suất ưu đãi 10% (trong 15 năm) được tính liên tục kể từ năm đầu tiên doanh nghiệp phát sinh doanh thu. Trong thực tế, dự án NLS có vốn đầu tư ban đầu lớn và thời gian thu hồi vốn kéo dài; việc có doanh thu không đồng nghĩa với có lợi nhuận. Quy định này khiến doanh nghiệp có nguy cơ bị tính hết thời gian ưu đãi trước khi dự án thực sự phát sinh thu nhập chịu thuế dương. Ngoài ra, giới hạn thời gian chuyển lỗ tối đa 5 năm là quá ngắn so với chu kỳ vận hành của dự án năng lượng.

4. Điểm khác biệt cốt lõi giữa cơ chế FIP (Feed-in Premium) của Nhật Bản và cơ chế FIT là gì?
Cơ chế FIT cố định một mức giá mua điện trong suốt thời hạn hợp đồng, tách rời khỏi biến động cung - cầu của thị trường điện. Ngược lại, cơ chế FIP (Nhật Bản áp dụng từ 01/04/2022) yêu cầu các nhà máy sản xuất NLTT phải bán điện trực tiếp trên thị trường bán buôn điện năng theo giá thị trường, đồng thời nhận thêm một khoản trợ cấp bảo hiểm (premium) trên mỗi đơn vị điện phát ra. FIP thúc đẩy các nhà máy NLS nâng cao tính độc lập, tự chủ cân đối thời điểm phát điện theo nhu cầu thực tế và đầu tư hệ thống pin tích năng.

5. Đối với năng lượng hạt nhân, khóa luận nêu thực trạng và kiến nghị sửa đổi khung pháp lý như thế nào?
Việt Nam đã dừng các dự án điện hạt nhân Ninh Thuận vào tháng 11/2016 theo quyết định của Quốc hội (92% đại biểu tán thành), nhưng dự thảo quy hoạch năng lượng vẫn đặt ra phương án tái khởi động sau năm 2035 (mục tiêu 1.000 MW vào năm 2040). Để chuẩn bị cho lộ trình này, tác giả kiến nghị phải rà soát và sửa đổi Luật Năng lượng nguyên tử 2008 đã lạc hậu; ban hành bổ sung các quy định bắt buộc về bảo hiểm rủi ro nhà máy hạt nhân, cơ chế hỗ trợ khắc phục thiệt hại, kế hoạch ứng phó sự cố cấp quốc gia và quy chuẩn kỹ thuật thẩm định cấp phép xây dựng.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Phương Trâm là một công trình nghiên cứu công phu, giải quyết trực diện vấn đề xung đột giữa áp lực bảo vệ môi trường, thực thi cam kết khí hậu quốc tế và sự thiếu đồng bộ của hệ thống chính sách năng lượng sạch tại Việt Nam. Thông qua việc phân tích toàn diện khung pháp luật so sánh với Nhật Bản, tác giả đã chỉ rõ các điểm nghẽn then chốt về khoảng trống giá FIT, bất cập trong cơ chế thuế, đất đai và cấu trúc độc quyền ngành điện. Hệ thống đề xuất hoàn thiện chính sách được xây dựng có căn cứ khoa học và bám sát thực tiễn lập pháp, mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho công tác hoàn thiện khung pháp lý về năng lượng sạch tại Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.