CHƯƠNG 1 Môi trường đã và đang vô cùng nguy cấp, nếu chúng ta không bắt tay vào hành động ngay hôm nay để “cứu sống” hành tinh của chúng ta thì sẽ không kịp nữa. Đồng thời để củng cố danh tiếng của nước ta trên trường quốc tế, chúng ta phải nỗ lực hết sức mình để bảo vệ môi trường mà hành động thiết thực được đề cập chủ yếu trong khoá luận này là khuyến khích, sản xuất và tiêu dùng NLS. 16 CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT CỦA NHẬT BẢN VÀ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT TẠI VIỆT NAM VỀ NĂNG LƯỢNG SẠCH VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT 2. Chính sách khuyến khích năng lượng sạch của Nhật Bản Nhật Bản là quốc gia có lịch sử lâu đời về các chính sách giảm thiểu CO2 và thúc đẩy các nguồn NLS và đã đạt thành tựu xuất sắc trong việc thực hiện kiểm soát ô nhiễm không khí và cải thiện hiệu quả đối với năng lượng từ góc độ kỹ thuật.
Và đây là một trong các quốc gia đi đầu về NLHN, tuy nhiên sau thảm hoạ Fukushima đã mang đến một góc nhìn khác cho ngành năng lượng nước này, từ đó, NLTT đã được khuyến khích phát triển mạnh mẽ. Sự sụt giảm đột ngột của điện hạt nhân và xu hướng giảm dần sự phụ thuộc vào nhiệt điện đã mở ra cơ hội cho năng lượng tái tạo. Trong 10 năm qua, tỷ trọng của nguồn năng lượng đã tăng gần gấp đôi, từ 9,5% vào năm 2010 lên 18% vào năm 2020. Sự gia tăng nhanh chóng của nguồn năng lượng này một phần là nhờ việc Chính phủ đưa vào vận hành hệ thống feed-in tariff (FIT - giá bán điện năng từ nguồn năng lượng tái tạo cung cấp cho lưới điện) vào năm 2012 nhằm khuyến khích các nhà đầu tư tham gia vào lĩnh vực này.
Cùng với đó là việc Nhật Bản đã thực hiện cải tổ nhằm điều chỉnh hệ thống năng lượng cũ mà trong đó, các công ty điện lực khu vực có quy mô lớn thường kiểm soát toàn bộ chuỗi cung ứng, từ việc phát điện cho đến khâu phân phối và bán lẻ. Kết quả là về cơ bản, sự tham gia và rút lui khỏi ngành sản xuất và kinh doanh điện đã được tự do hóa, và hệ thống truyền tải và phân phối điện năng đã được tách ra khỏi các công ty độc quyền khu vực. Tác giả chọn Nhật Bản là chủ thể để tiến hành so sánh bởi vì tình hình phát triển tốt trong NLTT tại Nhật Bản là dù chỉ mới đẩy mạnh phát triển trong 10 năm qua - khoảng thời gian khá tương đồng với việc phát triển NLTT tại Việt Nam. Sự tương đồng này đủ để Việt Nam có thể tham khảo trong việc áp dụng các chính sách thúc đẩy năng lượng sạch.
Đồng thời, vì quá trình phát triển năng lượng sạch còn ngắn nên Nhật Bản vẫn gặp các bất cập trong chính sách và đã kịp thời điều chỉnh để phù hợp với tình hình phát triển, do đó, Việt Nam có thể rút kinh nghiệm từ những điều chưa hợp lý để có bài học cho riêng mình. Ngoài ra, về NLHN, tuy Nhật Bản đã 17 phát triển đi đầu về NLHN nhưng hiện nay đang gặp những trở ngại to lớn về nhận thức của người dân trong quá trình đưa NLHN tiếp cận lại thị trường; một lần nữa, sự tương đồng với Việt Nam lại được thể hiện. Việt Nam tuy chưa phát triển NLHN như Nhật Bản nhưng việc đưa NLHN vào thị trường tiêu thụ năng lượng cũng gặp phần lớn khó khăn chủ yếu do nhận thức của người dân. Bên cạnh đó, Nhật Bản đã và đang hợp tác với Việt Nam trong nhiều dự án, kế hoạch về bảo vệ môi trường, giảm phát thải, điển hình là dự án điện gió tại tỉnh Quảng Ninh, năm 2020, 69 nhà máy điện gió (trong số 106 nhà máy) do Công ty cổ phần xây lắp điện I của Việt Nam và Tập đoàn RENOVA Inc.
của Nhật Bản đầu tư, đã chính thức được công nhận vận hành thương mại (COD) trong tháng 10. Do đó, trong quá trình phát triển, tuy Nhật Bản không phải là nước đi đầu về NLTT nhưng những yếu tố trên là yếu tố then chốt để tác giả tham khảo Nhật Bản để đề xuất, kiến nghị chính sách pháp luật. Sau đây là phân tích về chính sách NLS của Nhật Bản trong các khía cạnh tương quan với chính sách của Việt Nam. Hiện tại, liên quan đến NLS, Nhật Bản đã có Đạo luật NLTT và Đạo luật Cơ bản về Năng lượng Nguyên tử.
Trong Đạo luật NLTT, NLTT được định nghĩa bao gồm NLMT, gió, thủy điện, địa nhiệt, sinh khối và bất kỳ tài nguyên nào khác có thể được chỉ định bởi một quy định của Chính phủ trong tương lai. Chủ thể Tuy trong các quy định về NLS ở Nhật Bản không trực tiếp đề cập đến chủ thể của luật nhưng có thể suy luận qua các đối tượng được đề cập đến trong từng điều khoản quy định. Theo đó, chủ thể của luật NLTT, NLS ở Nhật Bản là cơ quan nhà nước, các doanh nghiệp (công ty thương mại, công ty tài chính, công ty bất động sản, công ty liên doanh chuyên về NLTT, và các chi nhánh của họ, …22), người dân, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và bất cứ tổ chức nào có liên quan tới NLS. Sadayuki Matsudaira, “Japan: Renewable Energy Laws and Regulations 2022”, (ICLG,17/9/2021) 22 <https://iclg.com/practice-areas/renewable-energy-laws-and-regulations/japan/amp> truy cập ngày 19/2/2022.
Khách thể Theo Điều 1 Đạo luật NLTT Nhật Bản23, khách thể của quy định pháp luật về NLTT trước là sự trong sạch, bền vững của môi trường, sau là khả năng cạnh tranh quốc tế của Nhật Bản, ngành công nghiệp Nhật Bản, và sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế quốc gia. Nội dung Các ưu đãi để thúc đẩy NLS Ưu đãi về thuế Ưu đãi thuế đối với đầu tư vào các sản phẩm có hiệu quả khử cacbon cao, nếu bạn lắp đặt thiết bị sản xuất để tạo ra các sản phẩm có hiệu quả khử cacbon cao (pin nhiên liệu, các bộ phận chuyên dụng chính cho thiết bị phát điện gió ngoài khơi, v.), bạn sẽ nhận được một số ưu đãi thuế nhất định24. Ưu đãi giá bán điện Về ưu đãi giá bán điện, Nhật Bản có Luật Biểu giá điện hỗ trợ (FIT), áp dụng cho các dạng NLTT, ngoại trừ và các nguồn NLTT khác – như nhiên liệu sinh học hay khí sinh học25. Có thể hiểu đơn giản giá FIT là giá ưu đãi do nhà nước mua điện từ nhà sản xuất NLS, giá này có thể cao hơn giá điện nhà nước mua từ các nguồn năng lượng khác, nhằm giúp thúc đẩy các nhà đầu tư đầu tư vào NLS.
Ví dụ cơ bản về lợi ích của giá FIT là giá FIT bán điện ra cao hơn giá điện mua vào, nên các hộ gia đình sử dụng điện mặt trời có thể tiết kiệm tiền điện và giúp giảm sự phụ thuộc vào lưới điện quốc gia, từ đó đóng góp vào công cuộc bảo vệ môi trường. Mặc dù giá FIT áp dụng cho nhiều nguồn NLTT, tuy nhiên chỉ những khía cạnh của mỗi dạng NLTT 23 “電気事業者による再生可能エネルギー電気の調達に関する特別措置法”, (E-GOV) <https://elaws.jp/document?lawid=423AC0000000108> truy cập ngày 19/2/2022. 24 “カーボンニュートラルに向けた産業政策“グリーン成長戦略”とは?”, (Agency for Natural Resources and Energy, 20/05/2021) <https://www.jp/about/special/johoteikyo/green_growth_strategy.html> truy cập ngày 19/2/2022. 25 Nghiên cứu Nhật Bản, “CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NLMT Ở NHẬT BẢN (Phần 2)”, <http://cjs.php?newsid=1498> truy cập ngày 19/2/2022.
19 có sự tương quan thể hiện sự khác nhau rõ ràng giữa luật Việt Nam và luật Nhật Bản sẽ được so sánh. Điện mặt trời Về giá FIT, Luật Biểu giá điện hỗ trợ quy định để được hưởng lợi từ FIT, các nhà cung cấp cần phải có sự chấp thuận của Bộ kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản (METI)26. Tiếp theo, chính sách FIT quy định hằng năm METI có thẩm quyền xác định giá điện NLTT cho mỗi kWh và thời hạn thỏa thuận giữa các công ty điện lực và các nhà cung cấp NLTT căn cứ dựa trên thời gian, giá cả của từng loại điện được sản xuất từ các nguồn NLTT và quy mô của những cơ sở sản xuất điện NLTT. Trong quyết định về thời gian, METI sẽ căn cứ vào yếu tố tuổi thọ của các cơ sở sản xuất điện tái tạo27.
Tiếp theo, về nguyên tắc, thời gian và mức giá thỏa thuận mà METI đưa ra sẽ có hiệu lực sau khi tham khảo ý kiến của các bộ có liên quan, không có sự ưu tiên nhà cung cấp điện tái tạo hay phía công ty điện lực. Điều này nhằm đảm bảo công bằng giữa các doanh nghiệp cung cấp điện. Đặc biệt, METI sẽ xem xét để các nhà cung cấp điện tái tạo nhận được lợi nhuận cao hơn trong ba năm đầu tiên thực thi Luật nhằm khuyến khích các nhà cung cấp thực hiện các khoản đầu tư cần thiết ban đầu. Điện gió Nhật Bản có cơ chế FIT để ưu đãi đối với điện gió, quy định trong Luật Biểu giá điện hỗ trợ.
Theo đó, FIT hiện tại chỉ có một danh mục cho tất cả năng lượng gió trên đất liền. Nhưng cơ chế cố định giá áp dụng đối với tất cả các dự án điện gia không thực sự phù hợp trên thực tế khi chi phí năng lượng (LCOE) của năng lượng gió khác nhau tùy theo quyền sở hữu dự án, quy mô và vị trí ở Nhật Bản. Đặc biệt, chi phí vốn, vận hành và bảo dưỡng ở các địa điểm miền núi và vùng sâu vùng xa cao hơn so với các địa điểm bằng phẳng đã phát triển, nhưng yếu tố công suất lại cao hơn 26 Nghiên cứu Nhật Bản, “CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NĂNG LƯỢNG MẶT TRỜI Ở NHẬT BẢN (Phần 2)”, <http://cjs.php?newsid=1498> truy cập ngày 19/2/2022. 20 do nguồn gió tốt hơn28.
Ngoài ra, Nhật Bản còn có cơ chế đấu thầu, quy trình đấu thầu được áp dụng cho các dự án gió ngoài khơi. Đối với các dự án này, quá trình đấu thầu được tổ chức cho một địa điểm dự án trong một khu vực đại dương nhất định do chính phủ chỉ định và trong khi giá mua do người nộp đơn đề xuất là một yếu tố quan trọng trong việc lựa chọn, thì các yếu tố khác như kinh nghiệm của nhà phát triển, kế hoạch phát triển và đóng góp cho cộng đồng địa phương cũng được đánh giá trong quá trình này. Năng lượng sinh khối Đối với các dự án dưới 10.000kW, giá FIT cố định từ năm 2020 - 2022, đối với các dự án 10.000kW trở lên sẽ thuộc hạng mục ứng dụng hệ thống đấu thầu 29. Quy trình đấu thầu thường được tổ chức hai lần mỗi năm.
Chính phủ quyết định khả năng tối đa được chứng nhận cho từng loại và giá mua tối đa. Các ứng viên đề xuất giá mua thấp hơn được lựa chọn cho đến khi tổng công suất phát điện của các ứng viên được lựa chọn đạt công suất tối đa trong quá trình đấu thầu30.