mở đầu để nền công nghiệp khởi động và là khúc dạo đầu cho việc tăng trưởng theo hướng xuất khẩu. Từ cuối những năm 1960, chiến lược thay thế nhập khẩu đã bị hạn chế dần tác dụng ở một loạt nước, trước hết ở các nước Châu Mỹ La tinh rồi lan sang các nước Châu Á và Châu Phi. Nguyên nhân thất bại của chiến lược này là nó tỏ ra ngày càng lạc hậu với thời đại ngày nay trước xu thế mở cửa phát triển mạnh các quan hệ hợp tác và phân công lao động quốc tế. Do đề cao phát triển hướng nội nên chiến lược thay thế nhập khẩu đã làm giảm dần tốc độ tăng trưởng kinh tế, vì chiến lược này hạn chế z 14 tự do hoá ngoại thương, vi phạm quy luật lợi thế so sánh bởi chính sách "đóng cửa" "bế quan toả cảng" của nền kinh tế.
Ở một số nước, do đề cao quan đ iểm tự lực cánh sinh theo kiểu khép kín, với việc gia tăng các điều kiện bảo hộ sản xuất và mậu dịch trong nước nên nhiều sản phẩm sản xuất ra để thay thế hàng nhập khẩu với chất lượng không cao, giá cả không khống chế, gây lãng phí các nguồn lực sản xuất và không có tính cạnh tranh trên thị trường thế giới. Hậu quả là: làm ảnh hưởng đến đời sống dân cư ở các nước này và hạn chế tốc độ tăng trưởng kinh tế. Và một hậu quả tồi tệ xảy ra trong quan hệ kinh tế đối ngoại của hầu hết các nước áp dụng chiến lược thay thế nhập khẩu là: tỷ trọng nhập khẩu luôn tăng lên khiến cán cân thanh toán quốc tế thường xuyên bị thiếu hụt, nợ nước ngoài vì thế vẫn không thể giảm được. Thực tiễn phát triển kinh tế của các nước đang phát triển cho thấy mâu thuẫn giữa chính sách tự lực tự cường trong phát triển kinh tế và thiếu hụt ngoại tệ, vốn và phải phụ thuộc vào nước ngoài ngày càng trở thành nguyên nhân quan trọng khiến cho chiến lược thay thế nhập khẩu không thể kéo dài.
Ngay cả trong những thời kỳ có sự thực thi nghiêm ngặt chiến lược thay thế nhập khẩu, các công ty tư bản nước ngoài đã bằng mọi cách luồn vào bên trong các hàng rào thuế quan để sản xuất tại chỗ những sản phẩm mà trước đây các nước sở tại phải nhập khẩu. Có một xu hướng khá phổ biến chung là: càng về sau, chí nh các nước sở tại càng khuyến khích sự gia tăng đầu tư tư bản vào nước mình. Năm 1954 và năm 1962, Thái Lan có luật khuyến khích đầu tư công nghiệp đã cho phép tư bản nước ngoài tham gia. Năm 1958, Malaysia ban hành luật khuyến khích nguồn vốn nước ngoài vào những ngành công nghiệp thay thế nhập khẩu.
Năm 1959, Singapo có luật công nghiệp mũi nhọn. Năm 1967 Inđônêxia có luật đầu tư tư bản nước ngoài nhằm thu hút vốn nước ngoài để phát triển các ngành phân bón, xi măng, dệt, hàng công nghiệp tiêu dùng dành cho thị trường nội địa. Năm 1965 bằng hiệp ước bình thường hoá quan hệ với Nhật Bản, Hàn Quốc đã thừa nhận quyền kiểm soát của tư bản Nhật Bản ở Hàn Quốc, đã khiến cho ngay từ năm 1974 cổ phần của Nhật ở Hàn Quốc đã chiếm tới 65,4% tổng số vốn đầu tư của tư bản nước ngoài vào Hàn Quốc [28, tr. z 15 Trong số các nước đang phát triển ở Châu Á áp dụng không thành công chiến lược thay thế nhập khẩu phải kể đến Myanma, là một trong những nước bảo thủ nhất thực hiện chính sách hạn chế các quan hệ kinh tế đối ngoại, mà chính sách này đã được chính phủ Myanma áp dụng đến tận năm 1992.
Do ảnh hưởng của chính sách hạn chế các quan hệ kinh tế đối ngoại mà Myanma đã trở thành nước có nền kinh tế kém phát triển nhất, một nước có nền kinh tế khủng hoảng trầm trọng và kéo dài và là nước nghèo nhất thế giới. Nhìn chung, thay thế nhập khẩu là chiến lược phát triển ngoại thương được các nước đang phát triển áp dụng thời kỳ 1950 - 1960. Với chiến lược này, ban đầu các nước đang phát triển đã đạt được một số kết quả nhất định về tăng trưởng kinh tế. Nhờ áp dụng chiến lược này các nước đang phát triển đã phần nào đạt được mục tiêu cơ bản của mình là: tự lực, tự cường về kinh tế và độc lập về chính trị.
Tuy rằng sau này, khi nền kinh tế thế giới chuyển sang xu thế hội nhập và quốc tế hoá đời sống kinh tế, chiến lược thay thế nhập khẩu không còn phát huy hiệu lực, song nó có thể coi là bước khởi động ban đầu cho công cuộc phát triển công nghiệp hoá sau này. Và tất yếu khi nó không còn tác dụng nữa, nó sẽ phải được thay thế bằng chiến lược khác, có hiệu quả hơn.2 Chiến lƣợc xuất khẩu sản phẩm thô và sơ chế Thực chất đây là chiến lược công nghiệp hoá hướng ngoại, nhưng ở trình độ thấp. Chiến lược này đã được thực hiện từ trước những năm 1950 và nó đã mang lại sự tăng trưởng đáng kể cho nhiều nước, trong đó có cả những quốc gia phát triển như Mỹ, Canada, Cộng hòa liên bang Đức. Do có các lợi thế về xuất khẩu lương thực, thực phẩm và một số khoáng sản thô khác, một số nước nghèo như Côlômbia, Mêhicô, Malaixia, Philipin.
cũng đã áp dụng chiến lược này trong thời kỳ đầu tiến hành công nghiệp hoá (1950 - 1960). Bằng con đường đó, họ đã tạo ra được những động lực đầu tiên cho sự phát triển nhờ có lợi thế so sánh về một số sản phẩm xuất khẩu như cao su, cà phê, dầu dừa, dầu cọ, quặng kim loại. Cho nên đến cuối những năm 1960 tổng kim z 16 ngạch xuất khẩu của các nước đang phát triển chiếm 80% là xuất khẩu sản phẩm sơ chế và hàng thô [49, tr. Tuy nhiên khi phân tích hiệu quả kinh tế của việc xuất khẩu sản phẩm sơ chế và hàng thô, các nước đều khẳng định đây là loại chiến lược bán rẻ tài nguyên và thiên nhiên.
Song không còn con đường nào khác để có vốn ban đầu cho sự nghiệp công nghiệp hoá, các nước nghèo và đang phát triển phải bán sản phẩm ra nước ngoài dưới dạng sản phẩm thô và sơ chế. Việc xuất khẩu sản phẩm thô và sơ chế tạo ra xu hướng là: tranh thủ khai thác nguồn tài nguyên sẵn có, vắt kiệt nó, gây hậu quả nghiêm trọng về môi trường và sinh thái, bóc lột bừa bãi và quá mức đối với thiên nhiên, đồng thời còn gây cả tâm lý ỷ lại dựa vào thiên nhiên, không cần đầu tư vào phát triển công nghệ chế biến, làm cho tình hình sản xuất công nghiệp không phát triển và ngày càng lạc hậu. Thực trạng này diễn ra tập trung chủ yếu vào các nước có nguồn tài nguyên phong phú, như Irắc, Côoet,. ở Trung Đông hoặc Brunây ở Châu Á.
Sau khi thấy được hậu quả bất lợi nghiêm trọng xảy ra, các nước đang phát triển dần chuyển hướng, hạn chế việc thực hiện chiến lược loại này, do vậy tỷ trọng hàng sơ chế và sản phẩm thô trong tổng kim ngạch xuất khẩu của họ ngày một giảm. Đối với Việt Nam thời kỳ đầu của công nghiệp hoá, xét các điều kiện thực tế của mình, đã áp dụng chiến lược này đồng thời kết hợp đồng bộ với chiến lược khác trên tinh thần tận dụng hết những lợi thế so sánh về nguồn lao động và tài nguyên để chuẩn bị tiền đề vật chất cần thiết cho "cất cánh".3 Chiến lƣợc công nghiệp hoá hƣớng vào xuất khẩu Nội dung cơ bản của chiến lược công nghiệp hoá hướng vào xuất khẩu là các nước khác nhau đều có những lợi thế so sánh khác nhau về nguồn lực sản xuất vốn có của mỗi nước (vốn lao động, tài nguyên, vị trí địa lý. Vì thế các nước cần "phụ thuộc" lẫn nhau trong quá trình phát triển để có thể trao đổi với nhau các lợi thế so sánh thông qua các hoạt động kinh tế đối ngoại như ngoại thương, liê n doanh, liên kết cùng nhau đầu tư phát triển sản xuất - kinh doanh về một hay một số loại sản phẩm nào đó. z 17 Rõ ràng, chiến lược công nghiệp hoá hướng vào xuất khẩu hoàn toàn ngược lại với chiến lược thay thế nhập khẩu.
Chiến lược này thể hiện sự vận dụn g các quy luật lợi thế so sánh ở mức độ cao nhất, do đó nó đặc biệt chú trọng đến việc mở cửa hướng ngoại của mỗi quốc gia. Thực hiện chiến lược công nghiệp hoá hướng vào xuất khẩu là cơ hội để các quốc gia đang phát triển thành lập và phát triển các khu, các vùng kinh tế mới với tốc độ nhanh, với công nghệ mới hiện đại và thu hút số đông lực lượng lao động của xã hội đến làm việc. Từ đó hình thành các vùng đô thị mới với bộ mặt hoàn toàn khác các khu vực kinh tế truyền thống. Ở đây nhờ sự phát triển của công nghiệp, người lao động có việc làm ổn định và thu nhập cao.
Đồng thời với phát triển sản xuất, đời sống được nâng cao, các hoạt động thương mại - dịch vụ cũng phát triển mạnh, tạo lên một bộ mặt đô thị hoàn toàn mới. Tuy nhiên, lại nảy sinh những mặt hạn chế, tác động tiêu cực đến tình hình chính trị - xã hội, đó là những chính sách về phát triển khu kinh tế mới và giải quyết vấn đề phát triển những khu vực sản xuất truyền thống chủ yếu để phục vụ nhu cầu nội địa mà các khu vực này vẫn chiếm tỷ trọng rất lớn trong cơ cấu xã hội và địa lý của mỗi quốc gia. Việc tập trung quá mức vào một số ngành được chuyên môn hoá cao để xuất khẩu dễ dẫn đến tình trạng toàn bộ nền kinh tế bị phụ thuộc vào sự biến động của các ngành đó, và có thể làm cho nền kinh tế bị mất cân đối nghiêm trọng. Nếu coi nhẹ các vùng, các ngành sản xuất truyền thống, ít đầu tư vốn và kỹ thuật, vốn dĩ nó đã bị lạc hầu, sẽ dẫn đến tình trạng: các ngành sản xuất bị mai một đi, các vùng sản xuất sẽ không còn được tồn tại như trước nũa, dân cư sẽ di chuyển dần đến những khu kinh tế mới, và có thể sẽ phá vỡ thế cân bằng đã được thiết lập từ bao đời nay, làm cho nền kinh tế bị mất cân đối.
Và điều đó đặc biệt tác động đến những vùng núi cao, hẻo lánh, vùng sâu, vùng nông thôn xa xôi.