lời mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm 3 phần: Phần I: Lý thuyết về năng lực cạnh tranh Phần II: Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Xây lắp điện I. Phần III: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần Xây lắp điện I. 8 PHẦN I LÝ THUYẾT VỂ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1. CẠNH TRANH VÀ TÍNH TẤT YẾU CỦA CẠNH TRANH TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG: 1.
Khái niệm về cạnh tranh: - Khái niệm cạnh tranh: Cạnh tranh nói chung và cạnh tranh trong kinh tế nói riêng là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau. Khái niệm này được sử dụng cho cả phạm vi DN, phạm vi nghành, phạm vi quốc gia hoặc phạm vi khu vực liên quốc gia vv… điều này chỉ khác nhau ở chỗ mục tiêu được đặt ra ở chỗ quy mô DN hay ở quốc gia mà thôi. Trong khi đối với một DN mục tiêu chủ yếu là tồn tại và tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở cạnh tranh quốc gia hay quốc tế, thì đối với một quốc gia mục tiêu là nâng cao mức sống và phúc lợi cho nhân dân vv… Theo K. Marx: "Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch".
Nghiên cứu sâu về sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa và cạnh tranh tư bản chủ nghĩa Marx đã phát hiện ra quy luật cơ bản của cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân, và qua đó hình thành nên hệ thống giá cả thị trường. Quy luật này dựa trên những chênh lệch giữa giá cả chi phí sản xuất và khả năng có thể bán hành hoá dưới giá trị của nó nhưng vẫn thu đựơc lợi nhuận. Mục đích của các hoạt động cạnh tranh trên thị trường của các chủ thể kinh tế là giành những lợi thế để hạ thấp giá cả của các yếu tố “đầu vào” của các chu trình sản xuất, kinh doanh và nâng cao mức giá “đầu ra” sao cho với chi phí thấp nhất mà vẫn có thể đạt được mức lợi nhuận cao nhất. Bởi vậy, thực chất của cạnh tranh là vấn đề giành lợi thế và giá cả hàng hóa, dịch vụ (mua và bán).
Đó cũng chính là con đường, phương thức đề giành lấy lợi nhuận cao nhất cho các chủ thể kinh tế khi tham gia thị trường. 9 Canh tranh là một xu thế tất yếu khách quan trong nền kinh tế thị trường. Đối với các doanh nghiệp, cạnh tranh luôn là con dao hai lưỡi. Một mặt nó đào thải các doanh nghiệp có mức chi phí cao, sản phẩm có lượng kém.
Mặt khác, nó buộc tất cả các doanh nghiệp phải không ngừng phấn đấu đề giảm chi phí, hoàn thiện giá trị sử dụng của sản phẩm, tổ chức tốt khâu tiêu thụ sản phẩm tồn tại và phát triển trên thị trường. Chính ở mặt này, cạnh tranh đã buộc các doanh nghiệp phải tăng cường sức cạnh tranh của mình lên đồng thời phải thay đổi mối tương quan về thế lực để tạo ra các ưu thế trong cạnh tranh. Bất kỳ một sản phẩm nào khi đưa ra thị trường đều phải chịu một sức cạnh tranh nhất định. Bởi vì một loại sản phẩm có thể được sản xuất bởi nhiều doanh nghiệp khác nhau và như vậy số lượng sản phẩm cung cấp ra thị trường là rất lớn.
Các DN phải cạnh tranh với nhau nhằm tiêu thụ hết các sản phẩm của mình với mức lợi nhuận thu được lớn nhất. Trong cơ chế thị trường, các DN có quyền chủ động trong SXKD do vậy mức độ cạnh tranh giữa các DN càng trở nên gay gắt. Phân loại cạnh tranh Để phân loại cạnh tranh người ta có thể căn cứ vào một số các tiêu thức sau: * Căn cứ vào số người tham gia trên thị trường: người ta chia ra làm 03 loại: - Cạnh tranh giữa người bán và người mua; - Cạnh tranh giữa những người bán với nhau; - Cạnh tranh giữa những người mua với nhau. * Căn cứ vào phạm vi kinh tế: người ta chia ra làm 02 loại: - Cạnh tranh giữa các nghành; - Cạnh tranh trong nội bộ nghành.
* Căn cứ vào chi phí bình quân của các doanh nghiệp: chia thành 02 loại: - Cạnh tranh dọc; - Cạnh tranh ngang. Vai trò của cạnh tranh: Canh tranh là cơ chế vận hành chủ yếu của nền kinh tế thị trường, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế. 10 - Trên bình diện kinh tế, cạnh tranh có vai trò thúc đẩy phát triển nền kinh tế, góp phần phân bố nguồn lực có hiệu quả nhất thông qua việc kích thích các DN sử dụng các nguồn lực tối ưu nhất cũng như hạn chế được những méo mó của thị trường, góp phần phân phối lại thu nhập một cách có hiệu quả hơn và đồng thời góp phần nâng cao phúc lợi xã hội. - Trên bình diện DN, bằng sự hấp dẫn của lợi nhuận từ việc đi đầu về chất lượng, mẫu mã cũng như áp lực phá sản nếu đứng lại, cạnh tranh buộc các DN phải cải tiến, đổi mới công nghệ, phương pháp sản xuất, quản lý nhằm nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, tăng hiệu quả sản xuất và lợi nhuận, qua đó đồng thời nâng cao sức cạnh tranh của chính các doanh nghiệp.
- Trên bình diện người tiêu dùng, cạnh tranh tạo ra sự lựa chọn rộng rãi hơn, bảo đảm cả người sản xuất lẫn người tiêu dùng không thể áp đặt giá cả tùy tiện. Với khía cạnh đó, cạnh tranh là yếu tố điều tiết thị trường, quan hệ cung cầu, góp phần hạn chế méo mó giá cả và lành mạnh hóa các mối quan hệ xã hội. Chức năng của cạnh tranh Cạnh tranh có thể mang lại lợi ích cho người này và gây thiệt hại cho người khác, song xét dưới góc độ toàn xã hội, cạnh tranh luôn có tác động tích cực. Đối với nền kinh tế, cạnh tranh đảm nhận một số chức năng quan trong sau: - Cạnh tranh đảm bảo điều chỉnh giữa cung và cầu.
Cạnh tranh hướng việc sử dụng các nhân tố sản xuất vào nhưng nơi có hiệu quả nhất. - Cạnh tranh tạo môi trường thuận lợi để sản xuất thích ứng với sự biến động của cầu và công nghệ sản xuất. - Cạnh tranh tác động một cách tích cực đến phân phối thu nhập: cạnh tranh sẽ hạn chế hành vi bóc lột trên cơ sở quyền lực thị trường và việc hình thành thu nhập không tương ứng với năng suất. - Cạnh tranh là động lực thúc đẩy đổi mới.
Tầm quan trọng của những chức năng này có thể thay đổi tùy theo từng thời kỳ. Tùy theo từng thời kỳ, tùy theo việc đánh giá tầm quan trọng của mỗi chức năng, người ta xây dựng mô hình chính sách cạnh tranh khác nhau. Chính vì vậy, để 11 áp dụng nguyên trạng một mô hình chính sách cạnh tranh của nước này vào một nước khác, một DN này vào một DN khác, một sản phẩm này vào một sản phẩm khác chắc chắn sẽ thu được được kết quả như mong đợi, thậm chí còn nảy sinh những hậu quả tai hại. NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1.
Khái niệm năng lực cạnh tranh Trong thực tế tồn tại rất nhiều khái niệm khác nhau về năng lực cạnh tranh. Những khái niệm về năng lực cạnh tranh từ các góc độ khác nhau cũng có sự khác biệt. Do đó việc nhận biết và phân loại những khái niệm cạnh tranh khác nhau là hết sức cần thiết. Chúng ta có thể phân loại năng lực cạnh tranh theo ba cấp độ như sau: 1.
Năng lực cạnh tranh quốc gia Là một khái niệm được sự quan tâm rất lớn của các nhà chính trị cũng như các nhà kinh tế. Mặc dù đã có rất nhiều cuộc tranh luận, nhiều công trình nghiên cứu được thực hiện về vấn đề này, nhưng cho đến nay chưa có một lý thuyết nào có thể đưa ra một định nghĩa hoàn toàn có sức thuyết phục về năng lực cạnh tranh của nền kinh tế (hay của một quốc gia). Theo “Báo cáo về năng lực cạnh tranh tổng thể, năm 1997. Diễn đàn kinh tế thế giới WEF đã định nghĩa năng lực cạnh tranh của một quốc gia là: “năng lực của nền kinh tế nhằm đạt và duy trì được mức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế vững bền tương đối và các đặc trưng kinh tế khác”.
Báo cáo về năng lực canh tranh toàn cầu định nghĩa về năng lực cạnh tranh quốc gia là: “khả năng của nước đó đạt được những thảnh quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt được mức tăng trưởng kinh tế cao, được xác định bằng thay đổi GDP trên đầu người theo thời gian”. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Năng lực cạnh tranh của DN được đo bẳng khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của DN trong môi trường cạnh tranh trong nước và ngoài nước. Theo đó, DN có chi phí càng thấp, lợi nhuận và thị phần càng lớn thì thể hiện năng 12 lực cạnh tranh của DN càng cao. Ngược lại, khi lợi nhuận và thị phần của DN giảm hoặc nhỏ thì phản ánh năng lực cạnh tranh của DN bị hạn chế hoặc chưa cao.
Như vậy, năng lực cạnh tranh của DN chính là tổng hợp năng lực nắm giữ và nâng cao thị phần của DN đó trên thị trường, là khả năng cung cấp sản phẩm, dịch vụ trên các thị trường khác nhau với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá của nó trên thị trường. Một DN được coi à có năng lực cạnh tranh khi có khả năng vừa tối đa hóa lợi ích của mình vừa thỏa mãn tố nhất nhu cầu của khách hàng. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ được đo bằng thị phần của sản phẩm hay dịch vụ cụ thể trên thị trường. Vì vậy, các DN muốn nâng cao năng lực cạnh tranh phải tìm giải pháp để duy trì và phát triển thị phần, lợi nhuận thông qua giảm thiểu chi phí sản xuất, hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ có nghĩa là nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm, dịch vụ mà mình cung ứng.
Một DN được coi là có năng lực cạnh tranh khi hàng hóa của DN đó có sức cạnh tranh cao. Có thể nói, năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ là linh hồn của năng lực cạnh tranh của DN. Và ngược lại, năng lực cạnh tranh của DN có ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ.