CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC MARKETTING 1. MARKETING VÀ CHIẾN LƯỢC MARKETING 1. Khái niệm Marketing Thuật ngữ Marketing xuất hiện từ những năm đầu thế kỷ XX, lần đầu tiên tại Hoa Kỳ (1905) nhưng chỉ sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới (1929 – 1932) và đặc biệt là sau cuộc chiến tranh thế giới lần thứ II (1941-1945) nó mới có những bước nhảy vọt, phát triển mạnh mẽ về cả lượng và chất để thực sự trở thành một lĩnh vực khoa học phổ biến như ngày nay. Marketing được truyển bá sang Nhật và Tây Âu vào những năm 50 và 60, vào các nước Đông Âu những năm 60 và 70, vào Việt Nam đầu những năm 80 của thế kỷ XX.
Trong giới lý luận hiện nay mặc dù đã có hàng trăm định nghĩa khác nhau về marketing nhưng vẫn chưa đi đến thống nhất sử dụng một định nghĩa chính thống. Ngày nay, định nghĩa của Philip Kotler được xem là hoàn chỉnh và đang được thừa nhận rộng rãi trên thế giới. Theo Philip Kotler: Marketing là một quá trình quản lý mang tính xã hội, nhờ đó mà các cá nhân và tập thể có được những gì họ cần và mong muốn thông qua việc tạo ra , chào bán và trao đổi những sản phẩm có giá trị với những người khác [10]. Chiến lược marketing a.
Khái niệm chiến lược Có nhiều định nghĩa về chiến lược, các định nghĩa có những điểm khác nhau tùy thuộc vào quan niệm của mỗi tác giả. Năm 1962, Alfred Chandler (người đầu tiên khởi xướng lý thuyết quản trị chiến lược – ĐH Harvard định nghĩa: “Chiến lược là việc xác định các mục tiêu, mục đích cơ bản dài hạn của doanh nghiệp và việc áp dụng một chuỗi các hành động cũng như sự phân bổ các nguồn lực cần thiết để thực hiện mục tiêu này”. 8 Đến những năm 80 khi môn học quản trị chiến lược đã trở nên chín muồi, Quinn đã đưa ra định nghĩa có tính khái quát hơn: ” Chiến lược là mô thức hay kế hoạch tích hợp các mục tiêu chính yếu, các chính sách, và chuỗi hành động vào một tổng thể được cố kết một cách chặt chẽ ” [8]. Sau đó Johnson và Scholes định nghĩa chiến lược trong môi trường có nhiều thay đổi: “Chiến lược là định hướng và phạm vi của một tổ chức vè dài hạn nhằm giành lợi thế cạnh tranh cho tổ chức thông qua việc định dạng các ngồn lực của nó trong môi trường thay đổi, để đáp ứng nhu cầu thị trường và thỏa mãn mong đợi của các bên hữu quan” Còn theo Michael Porter: “Chiến lược là nghệ thuật xây dựng các lợi thế cạnh tranh vững chắc để phòng thủ” [9].
Như vậy, có thể hiểu chiến lược là chương trình hành động tổng quát, xác định các mục tiêu dài hạn, cơ bản của một doanh nghiệp, lựa chọn các đường lối hoạt động và chính sách điều hành các nguồn lực để đạt các mục tiêu, làm tăng sức mạnh một cách hiệu quả nhất và giành được lợi thế bền vững tạo giá trị gia tăng cao. Khái niệm chiến lược marketing Chiến lược marketing là sự lý luận (logic) marketing nhờ đó một đơn vị kinh doanh hy vọng đạt được các mục tiêu marketing của mình. Chiến lược marketing bao gồm các bộ phận chiến lược chuyên biệt liên quan đến thị trường mục tiêu, marketing hỗn hợp, hoạt động marketing và ngân sách marketing. [4] Theo Philip Kotler, chiến lược marketing phải bắt đầu bằng việc nghiện cứu thị trường, vạch ra những phân khúc thị trường khác nhau.
Công ty phải lựa chọn thị trường mục tiêu, chỉ lựa chọn những phân khúc mà công ty có thể thỏa mãn nhu cầu của khách hàng một cách tốt nhất. Vai trò của chiến lược marketing Giữa người sản xuất và người tiêu dùng có một khoảng cách lớn đó là thị trường. Người sản xuất phải dành thời gian và nguồn lực để phân tích thị trường, vạch ra các mục tiêu, định hướng, cách thức… Chiến lược marketing vạch ra những nét lớn cho hoạt động marketing của một doanh nghiệp, từ việc lựa chọn chiến lược phát triển, chiến lược cạnh tranh cho đến việc xây dựng các chương trình hành động cụ thể, nhờ đó một đơn vị kinh doanh hy vọng đạt được các mục tiêu đã đặt ra. Chiến lược marketing là một chiến lược chức năng, nó được xem là nền tảng có tính định hướng cho việc xây dựng các chiến lược khác trong doanh nghiệp như chiến lược sản xuất, chiến lược tài chính… 1.
TIẾN TRÌNH XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC MARKETING 1. Phân tích môi trường marketing a. Phân tích môi trường vĩ mô Môi trường vĩ mô của công ty là nơi doanh nghiệp phải bắt đầu tìm kiếm những cơ hội và đe dọa có thể xuất hiện. Nó bao gồm tất cả các nhân tố, lực lượng có ảnh hưởng đến hoạt động và kết quả thực hiện của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp cần nắm được các xu hướng và xu hướng lớn đặc trưng cho môi trường hiện tại. Môi trường vĩ mô của doanh nghiệp gồm có sáu lực lượng chủ yếu: Kinh tế, tự nhiên, công nghệ, chính trị và văn hóa xã hội. Môi trường kinh tế: Trạng thái của môi trường kinh tế xác định sự lành mạnh, thịnh vượng của nền kinh tế, nó luôn gây ra những tác động đến các doanh nghiệp. Vì thế, doanh nghiệp phải nghiên cứu môi trường kinh tế để nhận ra các thay đổi, khuynh hướng và hàm ý chiến lược của nó.
Các ảnh hưởng của nền kinh tế đến một công ty có thể làm thay đổi khả năng tạo giá trị và thu nhập của nó. Bốn nhân tố quan trọng trong môi trường kinh tế đó 10 là: tỷ lệ tăng trưởng cuả nền kinh tế, lãi suất, tỷ giá hối đoái và tỷ lệ lạm phát. Môi trường tự nhiên: Môi trường tự nhiên gồm hệ thống các yếu tố tự nhiên ảnh hưởng nhiều mặt tới các nguồn lực đầu vào cần thiết cho các nhà sản xuất – kinh doanh, chúng có thể gây ảnh hưởng cho các hoạt động marketing trên thị trường. Cần phải quan tâm đến các cơ hội và đe dọa liên quan đến các xu hướng chính của biến đổi môi trường tự nhiên, như: sự khan hiếm về các nguồn nguyên liệu, nhiên liệu; mức độ ô nhiễm ngày càng ga tăng; chi phí về năng lượng ngày càng tăng; sự can thiệp của chính quyền trong quản lý các nguồn tài nguyên.
Môi trường Công nghệ - Kỹ thuật: Các thay đổi công nghệ đã tác động lên nhiều bộ phận của xã hội. Các tác động này chủ yếu thông qua các sản phẩm, quá trình công nghệ và vật liệu mới. Sự thay đổi công nghệ tạo ra cơ hội và đe dọa cho doanh nghiệp. Tác động quan trọng nhất của sự thay đổi công nghệ là nó có thể tác động lên chiều cao của rào cản nhập cuộc và định hình lại cấu trúc ngành.
Môi trường chính trị và pháp luật: Là một trong những yếu tố ảnh hưởng mạnh tới các quyết định marketing của doanh nghiệp. Môi trường chính trị bao gồm: hệ thống luật và các văn bản dưới luật, các công cụ chính sách của Nhà nước…Khi phân tích cần quan tâm đến các xu hướng hệ thống pháp luật tác động đến doanh nghiệp ngày càng gia tăng, sự phát triển của các nhóm bảo vệ lợi ích công cộng. Môi trường văn hóa - xã hội: Văn hóa là vấn đề khó nhận ra và khó hiểu được thấu đáo, mặc dù nó vẫn tồn tại ở khắp mọi nơi và tác dộng thường xuyên đến các quyết định marketing của công ty. Cần nhận thức được những xu hướng thay đổi trong văn hóa đặc thù để nhận dạng được các cơ hội và đe dọa mới; nhân khẩu là yếu tố liên quan đến: dân số, cấu trúc tuổi, phân bố địa lý, cộng đồng các dân tộc và phân phối thu nhập…Các đặc điểm nhân khẩu và 11 xu hướng thay đổi của chúng đóng vai tò quan trọng trong công tác marketing, quảng cáo và quản trị nguồn lực con người.
Tóm lại, mục tiêu chính của phân tích môi trường vĩ mô là nhận diện các thay đổi, các khuynh hướng dự kiến từ các yếu tố của môi trường bên ngoài. Với sự tập trung vào tương lai, việc phân tích môi trường bên ngoài cho phép các doanh nghiệp nhận ra các cơ hội và đe dọa. Phân tích môi trường vi mô Michael E.Porter đã đề ra một khuôn khổ giúp các nhà quản trị nhận ra các cơ hội và nguy cơ mà doanh nghiệp phải đương đầu trong một ngành.Porter có năm lực lượng định hướng cạnh tranh trong phạm vi ngành, đó là: Nguy cơ nhập cuộc của các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng; Mức độ cạnh tranh giữa các công ty hiện có trong ngành; Năng lực thương lượng của người cung cấp; Năng lực thương lượng của người mua; Đe dọa của các sản phẩm thay thế thể hiện qua Hình 1. CÁC ĐỐI THỦ TIỀM TÀNG Nguy cơ đe dọa từ những người mới vào cuộc Quyền CÁC ĐỐI THỦ Quyền thương CẠNH TRANH thương lượng lượng NHÀ CUNG KHÁCH CẤP của của HÀNG nhà Cuộc cạnh tranh khách cung giữa các đối thủ hàng cấp hiện tại Nguy cơ đe dọa từ những sản phẩm và dịch vụ thay thế SẢN PHẨM THAY THẾ Hình 1.1: Mô hình 5 lực lượng cạnh tranh của Michael Porter 12 Các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng Lực lượng này bao gồm các công ty hiện không cạnh tranh trong ngành nhưng họ có khả năng làm điều đó nếu họ muốn.
Một trong những nguyên nhân để có thể coi các đối thủ muốn nhập ngành như một đe dọa là họ sẽ đem vào cho ngành các năng lực sản xuất mới. Nguy cơ nhập cuộc của các đối thủ cạnh tranh tiềm tàng cao thể hiện một sự đe dọa đối với khả năng sinh lợi của công ty. Ngược lại, nếu nguy cơ nhập cuộc thấp, công ty sẽ sữ dụng lợi thế của cơ hội này để tăng giá và nhận được thu nhập cao. Rào cản nhập cuộc là các nhân tố gây khó khăn tốn kém cho các đối thủ khi họ muốn thâm nhập ngành và thậm chí khi họ có thể thâm nhập, họ bị đặt vào thế bất lợi.
Các rào cản nhập cuộc đó là: Sự trung thành nhãn hiệu; lợi thế chi phí tuyệt đối, tính kinh tế của qui mô, chi phí chuyển đổi, quy định của chính phủ và sự trả đũa của đối thủ. Cạnh tranh giữa các đối thủ trong ngành Các doanh nghiệp trong một ngành thường lệ thuộc lẫn nhau, các hành động của một công ty thường kéo theo các hành động đáp trả của các công ty khác. Sự cạnh tranh mãnh liệt khi một doanh nghiệp bị thách thức bởi các hành động của doanh nghiệp khác hay khi một doanh nghiệp nào đó nhận thức được một cơ hội cải thiện vị thế của mình trên thị trường.