phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài gồm 04 chương: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và Cơ sở lý luận về chiến lược kinh doanh Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Phân tích thực trạng môi trường kinh doanh và các yếu tố nội bộ của công ty cổ phần viễn thông Hà Nội Chƣơng 4: Đề xuất định hướng chiến lược kinh doanh và các giải pháp thực hiện chiến lược kinh doanh dịch vụ viễn thông di động của công ty cổ phần viễn thông Hà Nội. 5 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƢỢC KINH DOANH 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu trên thế giới: Nói đến chiến lược, mà không nhắc tới nhà chiến lược gia Michael Porter quả là một thiếu sót.
Các nghiên cứu của ông luôn là những tác phẩm chứa đựng những thông tin đầy đủ và bổ ích về chiến lược kinh doanh. Có lẽ vậy mà một trong những tác phẩm như : “Chiến lược cạnh tranh” ( Competitive Strategy năm 1980) và “Lợi thế cạnh tranh” ( Competitive advantage)… được xem là cuốn sách không thể thiếu đối với dân kinh doanh trên khắp thế giới trong vòng 30 năm qua. Mới đây, một bộ sách đã được đông đảo độc giả Việt Nam đón nhận là bộ sách nổi tiếng “Cẩm nang Kinh doanh Harvard – Harvard Business Essentials” đúc kết những giải pháp kinh doanh hiệu quả và thực tiễn nhất cùng những kinh nghiệm quý báu, thiết thực cập nhật về mọi mặt trong quản lý, kinh doanh của trường đại học danh tiếng nhất thế giới với bề dày hoạt động trên 370 năm. Bộ sách không chỉ rất cần thiết và hữu ích cho các nhà quản lý, doanh nhân, doanh nghiệp, các cơ quan và tổ chức để tham khảo, vận dụng nhằm nâng cao hiệu quả trong tổ chức, quản lý và kinh doanh mà còn dành cho tất cả mọi người đang làm kinh doanh cũng như với những sinh viên chuyên ngành hay bất cứ ai quan tâm đến đề tài này.
Các công trình đều đã đưa ra được những cái nhìn rõ ràng và đầy đủ về nội dung của chiến lược kinh doanh, làm nền tảng giúp các doanh nghiệp thực hiện chiến lược kinh doanh của mình. Các công trình nghiên cứu trong nƣớc Thông qua việc tìm hiểu và nghiên cứu, em đã nhận thấy một số đề tài nghiên cứu về chiến lược kinh doanh như: Hoàng Văn Hải (2010) với 6 z “Quản trị chiến lược”, NXB ĐHQGHN; Vũ Thành Hưng (2005) với “Quản trị chiến lược” NXB Giáo dục; Lê Thế Giới (2007) với “Quản trị chiến lược” NXB Thống Kê; Nguyễn Bách Khoa (2004) với “Chiến lược kinh doanh quốc tế” NXB Thống kê; Ngô Kim Thanh & Lê Văn Tâm với “ Quản trị chiến lược” NXB ĐH KTQD. Ngoài ra, còn rất nhiều đề tài đã nghiên cứu về vấn đề xây dựng chiến lược kinh doanh như: 1. Xây dựng chiến lược kinh doanh cho công ty cổ phần bia Sài Gòn- Miền Trung ( Lê Thị Ngọc Oanh- ĐH Đà Nẵng) 2.
Xây dựng chiến lược kinh doanh của công ty cổ phần Đông Hải Bến Tre giai đoạn 2011- 2020 ( Lưu Vĩnh Hào- ĐH KT TPHCM) 3. Chiến lược kinh doanh cho công ty liên doanh thiết bị viễn thông ( Nguyễn Thị Phương Thảo- Học viện CN BCVT) Những luận văn trên đã đưa ra một số giải pháp khá hữu ích về công tác xây dựng chiến lược kinh doanh của công ty mà luận văn nghiên cứu. Tuy nhiên, các luận văn trên đa số sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp và so sánh để phân tích. Chưa sử dụng phương pháp điều tra phỏng vấn nên thiếu tính khách quan.
Do vậy, việc tiếp tục nghiên và hoàn thiện công tác xây dựng chiến lược kinh doanh cho một doanh nghiệp là việc cần thiết. Khái quát chung về chiến lƣợc kinh doanh 1. Khái niệm về chiến lƣợc, chiến lƣợc kinh doanh Quan điểm về chiến lược có từ thời Hi Lạp cổ đại. Thuật ngữ này, có nguồn gốc sâu sa từ quân sự, xuất phát từ “strategos” có thể hiểu là vai trò của vị tướng trong quân đội.
Về sau nó phát triển thành “Nghệ thuật của tướng lĩnh”- nói đến các kỹ năng hành xử và tâm lý của tướng lĩnh. Trong lịch sử loài người đã có rất nhiều các nhà lý luận quân sự như Tôn 7 z Tử, Alexander, Clausewitz, Napoleon,… đã đề cập và viết về chiến lược trên nhiều góc độ khác nhau… Trong quân sự, chiến lược mang tính nghệ thuật nhiều hơn khoa học, “chiến lược là nghệ thuật chỉ huy các phương tiện để chiến thắng” hoặc “chiến lược là nghệ thuật để chiến đấu ở vị trí ưu thế”. Về sau, thuật ngữ chiến lược được sử dụng trong lĩnh vực kinh tế, ban đầu để chỉ cách thức hợp tác kinh doanh, cách đấu tranh trên thương trường. Xét trên nhiều khía cạnh, chiến lược trong kinh tế và chiến lược quân sự là như nhau vì cả hai đều sử dụng điểm mạnh của mình để tấn công vào điểm yếu của đối thủ.
Sự khác nhau cơ bản của chúng là trong kinh tế chiến lược được hình thành, thực thi và đánh giá với giả thiết có cạnh tranh, trong chiến lược quân sự dựa trên giả thiết có mâu thuẫn đối kháng. Ngày nay, các nhà kinh doanh nhận thấy rằng việc dùng chiến lược trong kinh doanh là điều cần thiết và quan trọng để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trước sự biến động không ngừng của môi trường kinh doanh và sự gia tăng về đối thủ cạnh tranh như Tôn Tử đã từng nói “ Thương trường như chiến trường‟‟ và “Có chiến lược mà không có chiến thuật là con đường chông gai đi tới thắng lợi, có chiến thuật mà không có chiến lược thì chỉ là những níu kéo trước khi thất trận”. Chiến lược được xem như là một kế hoạch tổng thể, dài hạn của một tổ chức nhằm đạt được mục tiêu lâu dài. Porter: “Chiến lược là nghệ thuật xây dựng các lợi thế cạnh tranh vững chắc để phòng thủ” (Nguyễn Khoa Khôi và Đồng Thị Thanh Phương (2007), Quản trị chiến lược, Nhà xuất bản Thống kê, trang 4).
David: “Chiến lược là những phương tiện đạt tới mục tiêu dài hạn. Chiến lược kinh doanh có thể gồm có sự phát triển về địa lý, đa dạng hoạt động, sở hữu hóa, phát triển sản phẩm, thâm nhập thị trường, cắt giảm chi tiêu, thanh lý và liên doanh” ( Fred David (2006), Bản dịch khái luận về quản trị chiến lược, Nhà xuất bản thống kê, trang 20). Theo Alfred Chandler: “Chiến lược bao hàm việc ấn định các mục tiêu cơ bản dài hạn của ngành, đồng thời lựa chọn cách thức hoặc tiến trình hành động và phân bổ các tài nguyên thiết yếu để thực hiện các mục tiêu đó” ( Nguyễn Khoa Khôi và Đồng Thị Thanh Phương (2007), Quản trị chiến lược, Nhà xuất bản thống kê trang 4). Qua tất cả các quan điểm chiến lược trên ta nhận thấy dù ở góc độ tiếp cận nào thì tất cả các quan niệm đều có nét cơ bản chung là dùng chiến lược như một công cụ nhằm tạo ra được lợi thế cạnh tranh, tăng cường sức mạnh của doanh nghiệp giúp doanh nghiệp hoàn thành tốt những mục tiêu dài hạn đã đề ra.
Như vậy, từ các định nghĩa trên có thể hiểu là: chiến lược kinh doanh là tập hợp một cách thống nhất các mục tiêu, các chính sách và sự phối hợp các hoạt động của một đơn vị kinh doanh trong chiến lược tổng thể nhất định. Chiến lược kinh doanh phản ánh các hoạt động của đơn vị kinh doanh bao gồm quá trình đặt ra các mục tiêu, chính sách và các biện pháp, phương tiện sử dụng phù hợp với xu thế biến động của môi trường, phối hợp tối ưu các nguồn lực để giành thắng lợi trong cạnh tranh và đạt được các mục tiêu đề ra. Phân loại các loại hình chiến lược kinh doanh Chiến lược kinh doanh có thể được phân chia theo nhiều tiêu thức khác nhau, việc xem xét phân chia này sẽ giúp chúng ta hiểu sâu sắc và 9 z toàn diện hơn về chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Mỗi chiến lược đều hoạch định tương lai phát triển của tổ chức.
Phân loại theo phạm vi của chiến lược: Ta có thể chia chiến lược kinh doanh thành 2 cấp, chiến lược chung và chiến lược bộ phận: a. Chiến lược chung (chiến lược tổng quát): Vạch ra mục tiêu phát triển doanh nghiệp trong khoảng thời gian dài, thường đề cập tới những vấn đề quan trọng lâu dài, quyết định sự sống còn của doanh nghiệp như chiến lược ổn định, chiến lược tăng trưởng. - Chiến lược ổn định là chiến lược mà đặc trưng của nó không có sự thay đổi nào đáng kể, nghĩa là: Doanh nghiệp trước đây như thế nào thì hiện tại và tương lai nó vẫn vậy, vẫn tiếp tục phục vụ cho những nhóm khách trước đây bằng việc cung cấp những sản phẩm và dịch vụ tương tự, bảo tồn thị phần và duy trì mức lãi xuất và mức thu hồi vốn trong quá khứ. - Chiến lược tăng trưởng là chiến lược đi tìm kiếm sự tăng trưởng trong hoạt động doanh nghiệp, bao gồm: việc tăng doanh thu, tăng nhân lực, tăng thị phần.
Đây là chiến lược mà nhiều nhà doanh nghiệp theo đuổi. Chiến lược bộ phận: - Chiến lược bộ phận hay còn gọi là chiến lược kinh doanh từng đặc thù: nhằm giải quyết từng vấn đề trong sản xuất, trong kinh doanh để thực hiện chiến lược tổng quát, thông thường gồm có: Chiến lược sản xuất; Chiến lược tài chính; Chiến lược thị trường; Chiến lược marketing; Chiến lược sản phẩm; Chiến lược phân phối; Chiến lược khuyến mãi; Chiến lược cạnh tranh; Chiến lược tổ chức nhân sự; Chiến lược kinh doanh thị trường quốc tế… 10 z 1. Căn cứ vào cấp độ chiến lược của tổ chức a. Chiến lƣợc cấp công ty: Liên quan đến mục tiêu tổng thể và quy mô của doanh nghiệp để đáp ứng được những kỳ vọng của người góp vốn.
Đây là một cấp độ quan trọng do nó chịu ảnh hưởng lớn từ các nhà đầu tư trong doanh nghiệp và đồng thời nó cũng hướng dẫn quá trình ra quyết định chiến lược trong toàn bộ doanh nghiệp. Ví dụ: Chiến lược tăng trưởng tập trung (thâm nhập thị trường, phát triển thị trường, phát triển sản phẩm mới), chiến lược tăng trưởng hội nhập (phía trước, phía sau), chiến lược tăng trưởng đa dạng hóa (đồng tâm, hàng ngang, hỗn hợp), chiến lược liên doanh. Công cụ để hình thành chiến lược thường được sử dụng là ma trận BCG do nhóm Boston Consulting Group đưa ra vào đầu những năm 1970. Chiến lƣợc cấp kinh doanh: Thể hiện ở việc làm thế nào để một doanh nghiệp có thể cạnh tranh thành công trên một thị trường cụ thể.