lời mở đầu và kết luận, phụ lục, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng. Bao gồm: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học về huy động vốn đầu tƣ của Doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng huy động vốn đầu tƣ dự án nguồn điện tại Công ty mẹ -Tập đoàn Điện lực Việt Nam. Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp huy động huy động vốn đầu tƣ dự án nguồn điện tại Công ty mẹ-Tập đoàn Điện lực Việt Nam 4 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ HUY ĐỘNG VỐN ĐẦU TƢ CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC 1.Tổng quan về vốn đầu tƣ của Doanh nghiệp Nhà nƣớc 1.
Doanh nghiệp Nhà nước Luật Doanh nghiệp (DN) 2014 định nghĩa Doanh nghiệp Nhà nƣớc là tổ chức kinh tế do Nhà nƣớc đầu tƣ vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hay hoạt động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nƣớc giao. Doanh nghiệp Nhà nƣớc có tƣ cách pháp nhân, có quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi vốn do Doanh nghiệp quản lý. Doanh nghiệp Nhà nƣớc có tên gọi, có con dấu riêng và có trụ sở chính trên lãnh thổ Việt Nam. Là tổ chức kinh tế do Nhà nƣớc đầu tƣ vốn và trực tiếp thành lập.
Doanh nghiệp Nhà nƣớc đều do cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền trực tiếp ký quyết định thành lập khi thấy việc thành lập Doanh nghiệp là cần thiết. Việc thành lập Doanh nghiệp Nhà nƣớc dựa trên nguyên tắc chỉ thành lập theo những ngành, lĩnh vực then chốt, xƣơng sống của nền kinh tế dựa trên những đòi hỏi thực tiễn của nền kinh tế thời điểm dó và chủ trƣơng của Đảng và ngành nghề lĩnh vực đó. Doanh nghiệp Nhà nƣớc do Nhà nƣớc đầu từ vốn nên nó thuộc sở hữu Nhà nƣớc, tài sản của doanh nghiệp Nhà nƣớc là một bộ phận của tài sản Nhà nƣớc. Doanh nghiệp Nhà nƣớc sau khi đƣợc thành lập là một chủ thể kinh doanh, tuy nhiên chủ thể kinh doanh này không có quyền sở hữu đối với tài sản trong Doanh nghiệp mà chỉ là ngƣời quản lý tài sản và kinh doanh trên cơ sở sở hữu của Nhà nƣớc.
Nhà nƣớc giao vốn cho Doanh nghiệp, Doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trƣớc Nhà nƣớc về việc bảo toàn và phát triển vốn mà Nhà nƣớc giao. 5 Doanh nghiệp Nhà nƣớc do Nhà nƣớc tổ chức quản lý và hoạt động theo mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nƣớc giao. Nhà nƣớc quản lý Doanh nghiệp Nhà nƣớc thông qua cơ quan quản lý Nhà nƣớc có thẩm quyền theo phân cấp của Chính phủ. Bao gồm những nội dung sau: Nhà nƣớc quy định mô hình cơ cấu tổ chức quản lý trong từng loại Doanh nghiệp Nhà nƣớc phù hợp với quy mô của nó.
Những quy định chức năng nhiệm vụ quyền hạn của các cơ cấu tổ chức trong Doanh nghiệp Nhà nƣớc nhƣ Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc. Những quy định thẩm quyền trình tự thủ tục của việc bổ nhiệm miễn nhiệm khen thƣởng kỷ luật các chức vụ quan trọng của Doanh nghiệp nhƣ chủ tịch Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc. Hoạt động của Doanh nghiệp chịu sự chi phối của Nhà nƣớc về mục tiêu kinh tế xã hội do Nhà nƣớc giao. Nếu Nhà nƣớc giao cho Doanh nghiệp Nhà nƣớc nào thực hiện hoạt động kinh doanh thì Doanh nghiệp Nhà nƣớc đó phải kinh doanh có hiệu quả, Doanh nghiệp Nhà nƣớc nào đƣợc giao thực hiện hoạt động công tích thì Doanh nghiệp Nhà nƣớc đó phải thực hiện hoạt động công ích nhằm đạt đƣợc các mục tiêu kinh tế xã hội.
Doanh nghiệp Nhà nƣớc là một pháp nhân chịu trách nhiệm hữu hạn về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh trong phạm vi số vốn Nhà nƣớc giao. Doanh nghiệp Nhà nƣớc đƣợc phân loại theo nhiều phƣơng diện, góc độ khác nhau. Dựa vào mục đích hoạt động gồm: Doanh nghiệp Nhà nƣớc hoạt động kinh doanh: Là doanh nghiệp Nhà nƣớc hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu nhằm mục tiêu lợi nhuận. Doanh nghiệp Nhà nƣớc hoạt động công ích: Là Doanh nghiệp Nhà nƣớc hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ công cộng theo các chính sách của Nhà nƣớc trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quốc tế phòng an ninh.
6 Việc phân loại theo tiêu thức này giúp Doanh nghiệp tập trung vào mục tiêu hoạt động chính của mình. Nhà nƣớc có cơ chế quản lý và có chính sách phù hợp với từng loại Doanh nghiệp. Đồng thời thực hiện việc mở rộng quyền và trách nhiệm của loại Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận nhằm thực hiện một bƣớc việc đƣa loại Doanh nghiệp Nhà nƣớc hoạt động kinh doanh hoạt động trên cùng mặt bằng pháp lý và bình đẳng với các Doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác đảm bảo khả năng cạnh tranh của loại Doanh nghiệp này. Dựa vào quy mô và hình thức gồm: Doanh nghiệp Nhà nƣớc độc lập: Là doanh nghiệp Nhà nƣớc không ở trong cơ cấu tổ chức của Doanh nghiệp khác.
Doanh nghiệp Nhà nƣớc thành viên: Là Doanh nghiệp nằm trong cơ cấu tổ chức của một Doanh nghiệp lớn hơn. Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty Nhà nƣớc: Là Doanh nghiệp Nhà nƣớc có quy mô lớn bao gồm các đơn vị thành viên có quan hệ gắn bó với nhau về lợi ích kinh tế, tài chính, công nghệ, thông tin, đào tạo. trong một hoặc một số chuyên ngành kinh tế kỹ thuật chính do Nhà nƣớc thành lập nhằm tăng cƣờng, tích tụ, tập trung, phân công chuyên môn hoá và hợp tác sản xuất để thực hiện nhiệm vụ Nhà nƣớc giao, nâng cao khả năng và hiệu quả kinh doanh của các đơn vị thành viên và của toàn Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế. Dựa vào cách thức tổ chức, quản lý Doanh nghiệp gồm: Doanh nghiệp Nhà nƣớc có Hội đồng thành viên: Là doanh nghiệp Nhà nƣớc mà ở đó Hội đồng thanh viên thực hiện chức năng quản lý hoạt động của Doanh nghiệp chịu trách nhiệm trƣớc Chính phủ hoặc cơ quan quản lý Nhà nƣớc đƣợc Chính phủ uỷ quyền về sự phát triển của Doanh nghiệp.
Doanh nghiệp Nhà nƣớc không có Hội đồng thành viên: Là Doanh nghiệp Nhà nƣớc mà ở đó chỉ có giám đốc Doanh nghiệp theo chế độ thủ trƣởng. 7 Đối với Doanh nghiệp Nhà nƣớc hoạt động kinh doanh: Đƣợc sử dụng vốn và các quỹ của Doanh nghiệp để phục vụ kịp thời các nhu cầu trong kinh doanh theo nguyên tắc bảo toàn và có hoàn trả, Doanh nghiệp Nhà nƣớc có thể tự huy động vốn để hoạt động kinh doanh, nhƣng không thay đổi hình thức sở hữu, đƣợc phát hành trái phiếu theo quy định của pháp luật, đƣợc thế chấp giá trị quyền sử dụng đất gắn liền với tài sản thuộc quyền quản lý của Doanh nghiệp tại các ngân hàng Việt Nam để vay vốn kinh doanh theo quy định của pháp luật. Đối với Doanh nghiệp Nhà nƣớc hoạt động công ích : đƣợc Nhà nƣớc cấp kinh phí theo dự toán hàng năm phù hợp với nhiệm vụ kế hoạch Nhà nƣớc giao cho Doanh nghiệp, đƣợc huy động vốn, gọi vốn liên doanh, thế chấp giá trị quyền sử dụng đất gắn liền với tài sản thuộc quyền quản lý của Doanh nghiệp tại các ngân hàng của Việt Nam để vay vốn phục vụ hoạt động công ích theo quy định của pháp luật khi đƣợc cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền cấp phép. Tập đoàn kinh tế Hình thành và phát triển từ hàng trăm năm nay, Tập đoàn kinh tế là mô hình rất quen thuộc đối với những nƣớc phát triển trên thế giới.
Tùy theo từng quốc gia, Tập đoàn đƣợc gọi theo những tên khác nhau nhƣ ở Đức, Pháp, Mỹ gọi là Cartel, Syndicate, Trust, Group ., ở Nhật Bản trƣớc chiến tranh thế giới thứ hai là Zaibatsu và sau chiến tranh gọi là Keiretsu., ở Hàn Quốc là Chaebol., Ấn Độ là Business houses…,Trung Quốc gọi Tập đoàn Doanh nghiệp. - Quan niệm về Tập đoàn kinh tế Sự đa dạng về tên gọi hay thuật ngữ sử dụng nói lên tính đa dạng của hình thức liên kết đƣợc khỏi quát chung là Tập đoàn kinh tế. Tuy theo điều kiện, thời gian, trình độ phát triển kinh tế, sự phân công chuyên môn hóa, sự hợp tác giữa các Doanh nghiệp, cách tiếp cận và mục tiêu quản lý của mỗi 8 quốc gia, quan niệm cũng nhƣ nhìn nhận về Tập đoàn kinh tế cũng cú sự khác nhau nhất định. Tập đoàn kinh tế là một tổ hợp các Công ty độc lập về mặt pháp lý gồm một Công ty mẹ và nhiều Công ty hay chi nhánh góp vốn Cổ phần chịu sự kiểm soát của Công ty mẹ (Từ điển Business English của Longman).
Tập đoàn Doanh nghiệp là một nhóm các Doanh nghiệp độc lập về mặt pháp lý nắm giữ Cổ phần của nhau và thiết lập đƣợc mối quan hệ mật thiết về nguồn vốn, nguồn nhân lực, công nghệ, cung ứng nguyên vật liệu, tiêu thụ sản phẩm (Từ điển kinh tế Nhật Bản). Tại Malaysia và Thái Lan, Tập đoàn kinh tế đƣợc xác định là tổ hợp kinh doanh với các mối quan hệ đầu tƣ liên doanh, liên kết và hợp đồng. Nòng cốt của các Tập đoàn là cơ cấu Công ty mẹ - Công ty con tạo thành một hệ thống các liên kết chặt chẽ trong tổ chức và trong hoạt động. Các thành viên trong tập đoàn đều có tƣ cách pháp nhân độc lập và thƣờng hoạt động trong cùng mặt bằng pháp lý.
Tại Trung Quốc, Tập đoàn Doanh nghiệp là một hình thức liên kết giữa các Doanh nghiệp, bao gồm Công ty mẹ và các Doanh nghiệp thành viên (Công ty con và các Doanh nghiệp liên kết khác), trong đó Công ty mẹ là hạt nhân của Tập đoàn và là đầu mối liên kết giữa các Doanh nghiệp thành viên với nhau. Các Doanh nghiệp thành viên tham gia liên kết Tập đoàn phải có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của một pháp nhân độc lập. Bản thân Tập đoàn không có tƣ cách pháp nhân. Tại Việt Nam, Pháp luật kinh tế của Việt Nam định nghĩa Tập đoàn tại điều 188 Luật Doanh nghiệp (DN) 2014: “Tập đoàn kinh tế là nhóm Công ty có mối quân hệ với nhau thông qua sở hữu Cổ phần, phần vốn góp hoặc liên kết khác.
Không phải là loại hình Doanh nghiệp, không có tƣ các pháp nhân, không phải đăng ký thành lập Doanh nghiệp. Công ty Mẹ, Công ty con và các thành viên trong Tập đoàn có quyền và nghĩa vụ của Doanh nghiệp độc lập theo quy định của pháp luật.