Chương I1: Cơ sở lý luận và pháp luật Việt Nam về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn; Chương 2: Thực tiễn giải quyết về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn tại các Tòa án trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk; Chương 3: Nâng cao hiệu quả giải quyết về chia tài sản chung của vợ chong khi ly h6n tại các Tòa án trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. CHUONG 1 CO SO LY LUAN VA PHAP LUAT VIET NAM VE CHIA TAI SAN CHUNG CUA VO CHONG KHI LY HON 1. Quan niệm về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn 1. Tài sản chung của vợ chồng Trong quan hệ hôn nhân, vợ chồng không chỉ ràng buộc nhau bởi vẫn dé tình cảm, con cái mà còn có sự ràng buộc về vấn đề tài sản.
Tài sản là một trong những yếu tố giúp duy trì, phát triển một gia đình. Theo Từ điền luật học, “Tài sản là các vật có giá trị bằng tiễn va là đối tượng của quyển tài sản và các lợi ích vật chất khác. Tài sản bao gôm vật có thực, vật đang tồn tại và sẽ có như hoa lợi, lợi tức, vật sẽ được chế tạo theo mẫu đã được thỏa thuận giữa các bên, tiền và các giấy tờ trị giá được bằng tiền và quyên tài sản” [30, tr. Bộ luật dân sự 2015 quy định: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyển tài sản.
Tài sản bao gôm bắt động sản và động sản” (Điều 105). Như vậy, có thê hiểu tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyên tài sản có giá trị. Theo Luật HN& GĐÐ năm 2014, tài sản chung của vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân thuộc sở hữu chung hợp nhất. Tài sản chung của vợ chồng hình thành trong thời kỳ hôn nhân, do đó, chế độ tài sản chung của vợ chồng ton tai phụ thuộc vào sự ton tại của quan hệ hôn nhân [ 13, tr.
Theo Từ điển luật học, “Tài sản chung của vợ chỗng là vật và loi ích vật chất khác thuộc sở hữu chung của cả vợ và chồng” [30, tr. Tài sản chung của vợ chồng được sử dụng cho các nhu cầu chung của gia đình và thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chong. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của vợ chồng là ngang nhau cả về quyền và nghĩa vụ, không phân biệt mức thu nhập của mỗi bên, không nhất thiết do cả hai bên cùng trực tiếp tạo ra hoặc tạo ra ngang bằng nhau. Các giao dịch dân sự có liên quan đến tài sản chung của vợ chồng phải có sự thỏa thuận của cả hai bên.
Việc hình thành khối tài sản chung của vợ chồng là do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân hoặc tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Như vậy, tài sản chung của vợ chồng chỉ tồn tại trong thời kỳ hôn nhân, tức là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân (Khoản 13, Điều 3 Luật HN& GĐÐ năm 2014). Điểm khác biệt của tài sản chung của vợ chồng với tài sản chung đơn thuần khác là tài sản có nguồn gốc từ thời kỳ hôn nhân. Tài sản có thể chỉ do người chồng hoặc người vợ tạo lập ra nhưng trong thời kỳ hôn nhân vẫn là tài sản chung của vợ chồng.
Việc chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn có đối tưởng cần xử lý là khối tài sản chung của vợ chồng. Do đó, việc xác định chính xác về tài sản chung của vợ chồng là một trong những điều kiện không thê thiếu trong giải quyết vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn. Như đã phân tích ở trên, tài sản chung của vợ chồng được hình thành và phát triển trên cơ sở các căn cứ pháp luật ghi nhận. Theo pháp luật Việt Nam, Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “J.
Tài sản chung của vợ chẳng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyên sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng. Tài sản chung của vợ chông thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng đề bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chong. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng mình tài sản mà vợ, chong dang cé tranh chap la tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”.
Cụ thê, có thể xác định các loại tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân bao gồm: - Tài sản do vợ, chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân; - Thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh trong thời kỳ hôn nhân; - Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân: (i) Hoa lợi phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng là sản vật tự nhiên mà vợ, chồng có được từ tài sản riêng của mình; (1) Lợi tức phát sinh từ tài sản riêng cua vo, chéng là khoản lợi mà vợ, chồng thu được từ việc khai thác tài sản riêng của mình. Lưu ý: Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác. - Thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân: (ï) Khoản tiền thưởng, tiền trúng thưởng x6 số, tiền trợ cấp (trừ khoản trợ cấp, ưu đãi mà vợ, chồng được nhận theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng; quyền tài sản khác gan liền với nhân thân của vợ, chồng); Gi) Tai san ma vo, chồng được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật Dân sự đôi với vật vô chủ, vật bị chôn giâu, bị chìm đăm, vật bị đánh rơi, bị bỏ 10 quên, gia súc, gia cầm bị thất lạc, vật nuôi đưới nước; (ii¡) Thu nhập hợp pháp khác theo quy định của pháp luật. - Phần tài sản còn lại trong trường hợp chia tai san chung trong thời kỷ hôn nhân; - Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung: - Tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
- Quyén su dung dat ma vo, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng. - Tài sản trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi 1a tai san chung. Từ đó, có thê xác định căn cứ để xác định tài sản chung của vợ chồng như sau: Tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân: Thời điểm vợ chồng hoàn thiện thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật làm phát sinh quan hệ vợ chồng thì chế độ tài sản chung của vợ chồng được xác lập. Tuy nhiên, Khoản 1 Điều 131 Luật HN& GĐÐ năm 2014 quy định các quan hệ hôn nhân và gia đình xác lập trước ngày Luật này có hiệu lực thì áp dụng pháp luật về hôn nhân và gia đình tại thời điểm xác lập để giải quyết nhằm bao quát trường hợp “Hôn nhân thực tế” còn tồn tại từ trước.
Đối với những trường hợp này, pháp luật Việt Nam chỉ công nhận trường hợp nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng trước ngày 03/01/1987, thời kỳ hôn nhân của họ được tính từ thời điểm họ chung sống với nhau không phụ thuộc việc có đăng ký kết hôn hay không đăng ký kết hôn. Đối với trường hợp nam nữ sống chung với nhau như vợ chồng sau ngày 03/01/1987 đến trước ngày Luật HN&GĐ năm 2000 có hiệu lực, có đủ điều kiện kết hôn nhưng chưa đăng ký kết hôn, Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 9/6/2000 của Quốc hội và Nghị quyết số II 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thâm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định họ có nghĩa vụ đi đăng ký kết hôn trong thời hạn 02 năm kế từ ngày 01/01/2001 đến ngày 01/01/2003. Nếu hết thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn thì không được coi là vợ chồng. Tài sản chung của vợ chồng là tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân trừ trường hợp vợ chồng phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân theo quy định tại Điều 40 Luật HN& GĐÐ năm 2014 hoặc có thỏa thuận khác.
Nguôn gốc tài sản được tạo ra: Tài sản do vợ chồng tạo ra từ hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng. Ở đây, những thu nhập hợp pháp khác được Luật HN& GD nam 2014 quy định như: tiền thưởng, tiền trúng thưởng xô số, tiền trợ cấp; hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng. Những tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc tặng cho chung cũng được xem là tài sản chung của vợ chồng. Tài sản do vợ chông thỏa thuận là tài sản chung của vợ chông: Pháp luật Dân sự nói chung cũng như Luật HN& GÐ nói riêng tôn trọng sự thỏa thuận của các bên đương sự.
Khi vợ chồng tự nguyện thỏa thuận nhập tài sản riêng của mình vào khối tài sản chung của vợ chồng thì tài sản đó được xác định là tài san chung cua vo chong. Xác định tài sản chung của vợ chồng trên nguyên tắc suy đoán: Trong cuộc sông hôn nhân, tài sản chung của vợ chồng và tài sản riêng đôi khi có sự trộn lẫn. Khi hai bên xảy ra tranh chấp, cần có những căn cứ chứng minh tài san là chung hay riêng để Tòa án có cơ sở phân chia.