Chương 1: Giới thiệu chung bài nghiên cứu: lý do chọn đề tài nghiên cứu, tổng quan bài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu; Chương 2: Trình bày về tổng quan lý thuyết, các khái niệm, giới thiệu các mô hình nghiên cứu và các bài nghiên cứu của các tác giả trước đây; Chương 3: Trình bày các phương pháp nghiên cứu, dữ liệu nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu; Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 2. Khái niệm: Sự chậm trễ về giá của một cổ phiếu theo Hou và Moskowitz (2005) được hiểu như là tốc độ giá cổ phiếu đó phản ánh với thông tin, kể cả tin đồn. Tốc độ phản ứng của giá đối với thông tin càng nhanh thì sự chậm trễ về giá càng thấp và ngược lại, nếu tốc độ phản ứng càng chậm tức sự chậm trễ về giá càng cao hay cổ phiếu đó không nhạy cảm với thông tin. Chi phí do sự chậm trễ về giá: là phần lợi nhuận kỳ vọng mà người nắm giữ cổ phiếu muốn đạt được để bù đắp vào rủi ro khi nắm giữ một cổ phiếu có sự chậm trễ về giá; Thanh khoản theo Liu (2006) có thể định nghĩa như khả năng mua hoặc bán lượng lớn tài sản một cách nhanh chóng và ít tốn chi phí nhất.
Hay như Amihud, Mendelson và Pederson (2006) thì tính thanh khoản là sự dễ dàng trong giao dịch chứng khoán. Chi phí do rủi ro thanh khoản: là phần lợi nhuận kỳ vọng mà người nắm giữ cổ phiếu mong muốn đạt được để bù đắp với rủi ro một cổ phiếu có khả năng thanh khoản thấp. Khả năng thanh khoản càng thấp thì rủi ro thanh khoản càng cao và ngược lại. Các mô hình nghiên cứu trước đây: 2.
Mô hình định giá tài sản vốn CAPM: Trong giữa thập niên 1960, ba nhà kinh tế William Sharpe, John Lintnet và Jack Treynor đã đưa ra mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi và rủi ro bằng phương trình sau: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 E(Ri)= Rf + (Rm- Rf) βi Trong đó: E(Ri): suất sinh lợi kỳ vọng của 1 danh mục tài sản bất kỳ Rf : Lợi nhuận không rủi ro E(Rm): lợi nhuận kỳ vọng của danh mục thị trường βi : hệ số beta thị trường của danh mục tài sản i Mô hình định giá tài sản vốn CAPM (Capital asset pricing model) là mô hình mô tả mối quan hệ giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi mong đợi. Trong mô hình CAPM, độ rủi ro của mỗi chứng khoán không được đo lường bằng độ lệch chuẩn vì một phần của độ lệch chuẩn đã bị triệt tiêu bởi sự đa dạng hóa danh mục đầu tư. Như đã nêu ở trên, khi các chứng khoán tham gia vào danh mục thì chúng tương tác với nhau để triệt tiêu bớt phần rủi ro không hệ thống của nhau. Trong trường hợp này danh mục đó là danh mục thị trường đa dạng hóa hoàn hảo, do đó rủi ro không hệ thống của từng chứng khoán i riêng rẽ được coi là triệt tiêu hết, chỉ còn lại phần rủi ro hệ thống bằng tích sai của chứng khoán i đó với danh mục thị trường.
Các giả định tâm lý của các nhà đầu tư (1) Các nhà đầu tư là những cá nhân không ưa thích rủi ro nhưng luôn muốn tối đa hóa lợi ích mong đợi. Tức là các nhà đầu tư thích lựa chọn chứng khoán có tỷ suất sinh lợi cao tương ứng với rủi ro cho trước hoặc rủi ro thấp nhất với tỷ suất sinh lợi cho trước. Những nhà đầu tư này được gọi là những nhà đầu tư thận trọng. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 (2) Các nhà đầu tư tìm cách giảm thiểu rủi ro bằng việc kết hợp nhiều chứng khoán khác nhau trong tập hợp danh mục đầu tư của mình (3) Các quyết định đầu tư được đưa ra và kết thúc trong khoảng thời gian nhất định.
Khoảng thời gian này không nhất thiết phải được quy định cụ thể. Nó có thể được tính bằng 6 tháng, 1 năm, 2 năm… Trong thực tế, các quyết định đầu tư thì phức tạp hơn nhiều và thường không chỉ là một chu kỳ thời gian. Việc giả định quyết định đầu tư kéo dài và kết thúc trong một giai đoạn chỉ là sự cần thiết để đơn giản hóa trong tính toán và phân tích (4) Các nhà đầu tư có chung các kỳ vọng về các thông số đầu vào sử dụng để tạo lập danh mục đầu tư hữu hiệu Markowitz. Đó là các thông số như: mức lợi suất, độ rủi ro… Những giả thuyết về thị trường vốn (1) Thị trường vốn là thị trường cạnh tranh hoàn hảo.
Có nghĩa là trên thị trưởng có rất nhiều người bán và người mua. Năng lực của một nhà đầu tư riêng lẻ thì rất nhỏ so với cả thị trường, vì vậy hoạt động của họ không làm ảnh hưởn đến thị trường. Giá cả trên thị trường chỉ chịu sự quyết định bởi mối quan hệ cung cầu. (2) Không tồn tại các loại chi phí giao dịch trên thị trường hay bất kỳ một sự cản trở nào trong cung và cầu của một chứng khoán.
Không có lạm phát hay bất kỳ thay đổi nào trong lãi suất (3) Trên thị trường tồn tại loại chứng khoán không có rủi ro mà nhà đầu tư có thể đầu tư. Thậm chí nhà đầu tư có thể vay với lãi suất bằng lãi suất không rủi ro đó. Hay có thể nói lãi suất vay và lãi suất cho vay cùng bằng nhau và bằng lãi suất không rủi ro. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 (4) Các thị trường vốn ở trạng thái cân bằng, có nghĩa là chúng ta bắt đầu với tất cả các tài sản được định giá đúng với mức độ rủi ro của chúng.
(5) Tất cả các khoản đầu tư có thể phân chia tùy ý, tức nhà đầu tư có thể mua và bán các tỷ lệ phần trăm của bất kỳ tài sản hay danh mục nào. (6) Luôn có một sự cố định những loại tài sản và số lượng của chúng trong một kỳ nghiên cứu đủ lớn. Chúng ta có thể thể hiện về mặt hình học như đồ thị dưới đây: Biểu đồ 1 E(R) Đường thị trường chứng khoán SML M E(Rm) Phần bù đắp rủi ro Rf Lợi nhuận không rủi ro 0 βm 1 Ta có thể thấy rằng: Khi hệ số beta càng cao thì suất sinh lời của chứng khoán càng cao và vì vậy cũng mang nhiều rủi ro hơn. + Beta bằng 0: Lợi nhuận kỳ vọng của chứng khoán có beta bằng 0 chính là lợi nhuận không rủi ro, Rf.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 + Beta bằng 1: Lợi nhuận kỳ vọng của chứng khoán có beta bằng 1 chính là lợi nhuận thị trường, E(Rm). Quan hệ giữa lợi nhuận và hệ số rủi ro beta của chứng khoán là quan hệ tuyến tính được diễn tả bởi đường thẳng SML có hệ số góc là E(Rm) - Rf. Mô hình Fama-French ba nhân tố Năm 1993, hai tác giả Fama và French khi kiểm nghiệm mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi trung bình và β trong mô hình CAPM đã tiến hành xem xét tất cả các nhân tố riêng lẽ từ các nghiên cứu của Banz (1981), Basu (1983), Roenberg, Reid, Lanstein (1985) và Bhandari (1988) để đánh giá vai trò kết hợp của β, quy mô công ty (ME), E/P, đòn bẩy tài chính và tỷ số giá trị sổ sách trên giá trị thị trường (BE/ME) trong việc giải thích cho tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Mỹ giai đoạn 1963-1990. Hai tác giả nhận thấy rằng tỷ suất sinh lợi trung bình ít có mối quan hệ với β trong mô hình CAPM.
Nghiên cứu còn chỉ ra hai nhân tố ME và BE/ME là những yếu tố có mối quan hệ mạnh nhất với tỷ suất sinh lợi cổ phiếu và vai trò của hai nhân tố còn lại (đòn bẩy, E/P) ít có ý nghĩa khi đưa hai nhân tố này vào mô hình. Từ đó Fama-French đã xây dựng mô hình định giá chứng khoán với 3 nhân tố: nhân tố thị trường, nhân tố quy mô, nhân tố giá trị sổ sách trên giá trị thị trường. Sau khi công bố năm 1993, mô hình ba nhan tố của Fama-French đã được kiểm định là có hiệu quả tại các thị trường chứng khoán phát tiển và thị trường đổi mới. Mô hình được mô tả như sau: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Tỷ suất sinh lợi thị trường vượt trội TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 Phần chênh lệch Rm-Rf đôi khi còn được gọi là phần bù của thị trường (market premium) hay tỷ suất sinh lợi thị trường vượt trội, tức là phần tăng thêm của tỷ suất sinh lợi do rủi ro của thị trường mang lại. Beta nhân tố Beta nhân tố của mô hình ba nhân tố Fama-French đo lường mức độ tác động của rủi ro thị trường đối với rủi ro chứng khoán. Tuy nhiên hệ số này khác với beta trong mô hình CAPM bởi việc thêm nhân tố vào mô hình. Phần bù của quy mô (SMB) SMB (Small Minus Big) đo lường lợi nhuận tăng thêm của nhà đầu tư khi đầu tư vào những công ty có giá trị vốn hóa thị trường nhỏ.
Phần lợi nhuận tăng thêm này đôi khi còn được gọi là phần bù của quy mô, tức là lợi nhuận do quy mô của công ty mang lại. Dữ liệu SMB được tính bằng tỷ suất sinh lợi bình quân của danh mục gồm 33% chứng khoán có giá trị vốn hóa thị trường (quy mô) nhỏ trừ cho tỷ suất sinh lợi bình quân của danh mục gồm 33% chứng khoán có giá trị vốn hóa thị trường (quy mô) lớn. Một SMB dương chỉ ra rằng những chứng khoán có quy mô nhỏ luôn tốt hơn (có tỷ suất sinh lợi cao hơn) những chứng khoán có quy mô lớn. Một SMB âm thì biểu hiện điều ngược lại, chứng khoán có quy mô lớn sẽ tốt hơn chứng khoán có quy mô nhỏ.
Phần bù giá trị HML (High Minus Low) đo lường lợi nhuận tăng thêm của nhà đầu tư khi đầu tư vào những công ty có tỷ số giá trị sổ sách trên giá trị thị trường (BE/ME) cao - tức là những cổ phiếu “giá trị”. HML còn được gọi là phần bù TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 12 giá trị, tức là phần tỷ suất sinh lợi tăng thêm do cổ phiếu giá trị mang lại. Dữ liệu HML được tính bằng tỷ suất sinh lợi bình quân của danh mục gồm 50% chứng khoán có BE/ME cao nhất trừ tỷ suất sinh lợi bình quân của danh mục gồm 50% chứng khoán có BE/ME thấp nhất. Một HML dương cho thấy những chứng khoán có BE/ME cao luôn có tỷ suất sinh lợi cao hơn những chứng khoán có BE/ME thấp.