Luận án tiến sĩ: Chế tạo và tính chất quang phổ của vật liệu BaMgAl10O17 pha tạp Eu2+ và Mn2+

Luận án tiến sĩ vật lý chất rắn nghiên cứu chế tạo và tính chất quang phổ của vật liệu BaMgAl10O17 pha tạp Eu2+, Mn2+, ứng dụng trong lĩnh vực quang học.

Chuyên ngành

Vật lý chất rắn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2017

161
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Chế tạo vật liệu

Chế tạo vật liệu BaMgAl10O17 pha tạp Eu2+ và Mn2+ là quá trình phức tạp, đòi hỏi sự chính xác trong việc lựa chọn phương pháp và điều kiện thực hiện. Phương pháp nổ được sử dụng để tạo ra vật liệu này, với urê đóng vai trò là nhiên liệu chính. Quá trình này bao gồm việc khảo sát ảnh hưởng của hàm lượng urê và nhiệt độ nổ đến cấu trúc và tính chất quang của vật liệu. Kết quả cho thấy, hàm lượng urê và nhiệt độ nổ có ảnh hưởng đáng kể đến cấu trúc pha và tính chất quang của vật liệu. Phương pháp nổ kết hợp với vi sóng cũng được áp dụng để cải thiện hiệu quả chế tạo, giúp tạo ra vật liệu có cấu trúc đồng nhất và tính chất quang ổn định hơn.

1.1. Phương pháp nổ

Phương pháp nổ là kỹ thuật chính được sử dụng để chế tạo vật liệu BaMgAl10O17 pha tạp Eu2+ và Mn2+. Quá trình này dựa trên phản ứng nổ của urê và các hợp chất khác, tạo ra nhiệt độ cao và áp suất lớn, giúp hình thành cấu trúc tinh thể mong muốn. Việc điều chỉnh hàm lượng urê và nhiệt độ nổ là yếu tố quan trọng để đạt được cấu trúc pha tối ưu và tính chất quang tốt nhất.

1.2. Ảnh hưởng của urê và nhiệt độ

Hàm lượng urê và nhiệt độ nổ có ảnh hưởng lớn đến cấu trúc và tính chất quang của vật liệu BaMgAl10O17. Khi hàm lượng urê tăng, cấu trúc pha của vật liệu trở nên đồng nhất hơn, đồng thời cường độ phát quang cũng tăng lên. Nhiệt độ nổ cao hơn giúp cải thiện độ tinh khiết của pha, nhưng cũng có thể dẫn đến sự suy giảm tính chất quang nếu vượt quá ngưỡng tối ưu.

II. Nghiên cứu tính chất quang phổ

Nghiên cứu tính chất quang phổ của vật liệu BaMgAl10O17 pha tạp Eu2+ và Mn2+ tập trung vào việc phân tích phổ phát quang (PL) và phổ hấp thụ. Kết quả cho thấy, vật liệu pha tạp Eu2+ có khả năng phát quang mạnh trong vùng ánh sáng xanh, trong khi pha tạp Mn2+ tạo ra bức xạ màu xanh lá cây. Hiện tượng truyền năng lượng giữa Eu2+ và Mn2+ cũng được nghiên cứu, cho thấy sự tương tác mạnh mẽ giữa hai ion này, dẫn đến hiệu suất phát quang cao hơn. Các thông số động học nhiệt phát quang cũng được phân tích để hiểu rõ hơn về cơ chế suy giảm cường độ phát quang khi vật liệu được xử lý nhiệt.

2.1. Phổ phát quang và hấp thụ

Phổ phát quang (PL) và phổ hấp thụ của vật liệu BaMgAl10O17 pha tạp Eu2+ và Mn2+ được phân tích để đánh giá tính chất quang của vật liệu. Kết quả cho thấy, Eu2+ tạo ra bức xạ mạnh trong vùng ánh sáng xanh, trong khi Mn2+ phát ra ánh sáng xanh lá cây. Sự kết hợp của hai ion này giúp cải thiện hiệu suất phát quang tổng thể.

2.2. Truyền năng lượng giữa Eu2 và Mn2

Hiện tượng truyền năng lượng giữa Eu2+ và Mn2+ trong vật liệu BaMgAl10O17 được nghiên cứu kỹ lưỡng. Kết quả cho thấy, sự tương tác giữa hai ion này dẫn đến hiệu suất phát quang cao hơn, đồng thời giảm thiểu sự suy giảm cường độ phát quang khi vật liệu được xử lý nhiệt.

III. Ứng dụng vật liệu phát quang

Vật liệu phát quang BaMgAl10O17 pha tạp Eu2+ và Mn2+ có nhiều ứng dụng tiềm năng trong các lĩnh vực như chiếu sáng, hiển thị và công nghệ LED. Vật liệu này được sử dụng trong đèn huỳnh quang ba màu, màn hình plasma và các thiết bị chiếu sáng tiết kiệm năng lượng. Khả năng phát quang mạnh và ổn định của vật liệu giúp cải thiện hiệu suất và tuổi thọ của các thiết bị này. Ngoài ra, việc nghiên cứu cơ chế suy giảm cường độ phát quang cũng giúp tối ưu hóa quy trình sản xuất và sử dụng vật liệu trong thực tế.

3.1. Ứng dụng trong chiếu sáng

Vật liệu BaMgAl10O17 pha tạp Eu2+ và Mn2+ được sử dụng rộng rãi trong các thiết bị chiếu sáng như đèn huỳnh quang ba màu và đèn LED. Khả năng phát quang mạnh và ổn định của vật liệu giúp cải thiện hiệu suất và tuổi thọ của các thiết bị này.

3.2. Ứng dụng trong hiển thị

Vật liệu này cũng được ứng dụng trong các màn hình plasma (PDP) và các thiết bị hiển thị khác. Sự kết hợp của Eu2+ và Mn2+ giúp tạo ra màu sắc đa dạng và độ sắc nét cao, phù hợp với các yêu cầu kỹ thuật hiện đại.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Tổng quan lý thuyết; Chương 2. Công nghệ chế tạo vật liệu BaMgAl10O17 pha tạp ion Eu2+, Mn2+ bằng phương pháp nổ; Chương 3.Ảnh hưởng của quá trình oxi hóa đến hiện tượng phát quang của vật liệu BaMgAl10O17: Eu2+; Chương 4. Tính chất quang của vật liệu BaMgAl10O17: Mn2+ và cơ chế truyền năng lượng của vật liệu BAM đồng pha tạp ion Eu2+ và Mn2+.

TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 1.Hiện tượng phát quang 1. Khái niệm, phân loại hiện tượng phát quang Hiện tượng phát quang là hiện tượng khi cung cấp năng lượng cho vật chất (ngoại trừ bức xạ nhiệt), một phần năng lượng ấy có thể được vật chất hấp thụ và tái phát xạ. Bức xạ này đặc trưng cho vật chất mà không phải là của nguồn cung cấp Dựa vào đặc điểm của năng lượng kích thích, sự phát quang được phân loại thành các dạng sau: PL, catốt phát quang, điện phát quang. Ngoài ra còn một số dạng phát quang khác như tia X phát quang, hóa phát quang,… Bên cạnh đó, dựa vào thời gian bức xạ kéo dài, người ta phân hiện tượng phát quang thành hai loại: huỳnh quang và lân quang.

- Huỳnh quang là quá trình bức xạ photon xảy ra trong và ngay sau khi ngừng kích thích và suy giảm trong khoảng thời gian 10-8 s. Hiện tượng huỳnh quang là kết quả của sự dịch chuyển trực tiếp của điện tử từ trạng thái kích thích về trạng thái cơ bản và phát bức xạ. Đặc điểm của hiện tượng này là sự hấp thụ xảy ra ở nguyên tử, phân tử nào thì bức xạxảy ra ở nguyên tử, phân tử đó[24], [69],[83]. - Lân quang là quá trình bức xạ photon xảy ra và kéo dài sau khi ngừng kích thích ở nhiệt độ phòng.

Cường độ bức xạ suy giảm chậm, thời gian suy giảm có thể kéo dài vài giây cho đến hàng giờ sau khi ngừng kích thích. Đây chính là kết quả của sự dịch chuyển từ trạng thái kích thích về trạng thái cơ bản thông qua một trạng thái trung gian. Trong hiện tượng này, sự hấp thụ xảy ra ở tâm này còn bức xạ xảy ra ở một tâm khác.Ngoài ra, khi xét đến quá trình vi mô xảy ra bên trong vật liệu phát quang, nếu dựa vào tính chất động học của quá trình phát quang, người ta phân hiện tượng phát quang thành hai 5 loại là phát quang của các tâm bắt liên tục và phát quang tái hợp.Dựa vào cách thức chuyển dời từ trạng thái kích thích sang trạng thái cơ bản người ta phân thành phát quang tự phát và phát quang cưỡng bức[11],[83]. Các cơ chế suy giảm cường độbức xạ của vật liệu phát quang 1.

Hiện tượng dập tắt nồng độ Hiện tượng dập tắt nồng độ là sự suy giảm cường độ bức xạ của vật liệu phát quang khi nồng độ tâm kích hoạt vượt quá một giá trị giới hạn nhất định nào đó như biểu diễn ở hình 1. 2,0 C- êng ®é PL (§ vt®) 1,5 1,0 0,5 0,0 0 1 2 3 4 5 6 7 8 Nång ®é Eu2+ (%mol) Hình 1. Đồ thị mô tả sự phụ thuộc của cường độ phát quang cực đại của mẫu BAM: Eu2+ vào nồng độ Europium Hiện tượng này xảy ra có thể là do một trong những nguyên nhân sau: - Do sự mất năng lượng kích thích từ trạng thái bức xạ khi xảy ra hiện tượng hồi phục ngang giữa các tâm kích hoạt. - Sự gia tăng nồng độ tâm kích hoạt làm cho năng lượng kích thích củacác tâm suy giảm [11], [13], [74].

Hiện tượng dập tắt này xuất phát từ hiệu ứng truyền năng lượng giữa các ion xảy ra ở nồng độ cao. Xác suất truyền năng lượng tới các ion bên cạnh lớn hơn xác suất phân rã phát xạ. Vì vậy, đối với mẫu có nồng độ tạp cao, 6 năng lượng được truyền qua nhiều ion kích hoạtmà không phát ra bức xạ.Điều này làm suy giảm cường độ phát quang của mẫu.Hiện tượng này được giải thích thông qua hình 1.Sự huỳnh quang khi nồng độ pha tạp thấp (a) và sự dập tắt huỳnh quang do pha tạp với nồng độ cao (b)[11] - Nếu xét đây là quá trình truyền năng giữa các tâm giống nhau, khoảng cách tới hạn R C được định nghĩa là khoảng cách mà xác suất truyền năng lượng bằng xác suất phát xạ của các tâm. Có hai phương pháp để xác định khoảng cách tới hạn R C là dựa vào phương trình Blasse (1.1) và phương trình Dexter (1.2) cho quá trình truyền năng lượng do tương tác lưỡng cực-lưỡng cực.2) E4 Trong đó,XC là nồng độtâm kích hoạtlúc bắt đầu xảy ra hiện tượng dập tắt và N là tổng số tâm kích hoạt trong một ô cơ sở.

P là 10-2 nếu đó là chuyển dời lưỡng cực điện được phép. Giá trịE và∫ fs (E)fa (E)dEđược tính toán từ các phổ kích thích và bức xạ đã được chuẩn hóa. 7 Dexter và cộng sựđã cho rằng, toàn bộ quá trình truyền năng lượng gồm 5 bước: (1) sự hấp thụ một photon do tăng nhạy, (2) sự biến dạng của mạng nền do tăng nhạy, (3) truyền năng lượng đến tâm kích hoạt, (4) giải phóng tâm và chất tăng nhạy, (5) phát ra năng lượng. Nồng độ giới hạn của tâm kích hoạt trong mạng nền ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng phát quang của vật liệu[23], [24].

Blasse đã chỉ ra rằng, khoảng cách tới hạn R C xấp xỉ bằng hai lần tích của bán kính và thể tích ô cơ sở (phương trình 1. Từ dữ liệu của giản đồ nhiễu xạ tia X và phổ phát quang của De-Yin Wang, khoảng cách tâm tới hạn tối ưu của vật liệu BAM: Eu2+ có giá trịR C  2,281 nm[22]. Sự suy giảm do quá trình xử lý nhiệt Các công trình nghiên cứu gần đây cho thấy rằng, các cơ chế suy giảm cường độ huỳnh quang của vật liệu phát quang (cụ thể là vật liệu BAM: Eu2+) trong suốt quá trình chế tạo là do quá trình ủ nhiệt dẫn đến sự oxi hóa tạp. Trong quá trình oxi hóa, sự suy giảm nồng độ ion Eu2+là kết quả của sự gia tăng hàm lượngion Eu3+ và sự suy giảm nồng độ bẫy tái hợp.

Sự suy giảm này có thể do ba cơ chế khác nhau gây ra[8],[84]. Một là, sự bắt điện tử của các nguyên tử oxi từ không khí. Hai là, sự truyền năng lượng không bức xạ của các ion tạp trong các lớp dẫn của mạng nền BAM do sự gia tăng nhiệt độ trong suốt quá trình xử lý nhiệt. Ba là, sự truyền điện tử từ các ion tạp (ion Eu2+) đến các ion oxi lân cận (khi các ion Eu2+ gần với các ion oxi).

Quá trình hấp thụ dẫn đến sự suy giảm các vacanxy oxi và các tâm. Sự suy giảm cường độ bức xạ của ion Eu2+ và sự gia tăng cường bức xạ của ion Eu3+ là do sự truyền điện tử giữa oxi hấp phụ và các ion Eu2+[8], [71], [81]. 8 Quá trình oxi hóa được biểu diễn qua phương trình 2Eu2++ 1/2 O2 + V0 → 2 Eu3+ +O2- (1.3) Trong đó, V0là vacanxy oxi. Sự suy giảm do kích thích VUV Theo một số nghiên cứu, sự kích thích bằng phóng điện plasma của Xenon làm suy giảm cường độ bức xạ của vật liệu phát quang[9], [47],[86].

Theo đó, quá trình già hóa chủ yếu là do sự kích thích VUV. Quá trình này phụ thuộc vào nhiệt độ và chia làm 2 loại như sau: - Ở nhiệt độ thấp, sự suy giảm do hiện tượng tự ion hóa của các tâm phát quang. - Ở nhiệt độ cao, sự suy giảm liên quan đến việc hình thành các bẫy trong vật liệu phát quang. Các bẫy này do sự xáo trộn về các chuyển dời năng lượng tạo thành cặp điện tử-lỗ trống khi được kích thích VUV thông qua chuyển dời không bức xạ[9].

Các photon VUV của phóng điện plasma Xenon chủ yếu bị hấp phụ bởi mạng nền BAM khi các điện tử dịch chuyển từ đỉnh vùng hóa trị lên vùng dẫn. Phần đỉnh vùng hóa trị chủ yếu được tạo bởi quỹ đạo 2p của các ion oxi. Hơn thế nữa, do sự hấp thụ mạnh của các photon VUV nên độ xuyên sâu của chùm kích thích là khá nhỏ (cỡ vài chục nm). Đó là nguyên nhân để giả thuyết rằng, việc kích thích tử ngoại là nguyên nhân làm ion hóa các ion oxi ở bề mặt của mẫu dẫn đến giải hấp của các nguyên tử oxi.

Vì vậy, các vacanxy oxi đã được hình thành và có tác dụng như một bẫy điện tử hiệu quả bao gồm sự hình thành các tâm. Hệ quả, cơ chế suy giảm do kích thích VUV liên quan đến sự gia tăng nồng độ bẫy và không làm giảm nồng độ của tâm phát quang[70]. Hiện tượng nhiệt phát quang 1. Định nghĩa hiện tượng nhiệt phát quang Nhiệt phát quang (TL) là bức xạ ánh sáng phát ra từ các điện môi hay chất bán dẫn khi nó được nung nóng nếu trước đó vật liệu đã được chiếu xạ ở nhiệt độ thấp bởi các loại bức xạ ion hóa.

Tuy nhiên, vật liệu không thể tái phát ra bức xạ nhiệt phát quang bằng cách làm lạnh mẫu rồi nung nóng. Để tái xuất hiện bức xạ nhiệt phát quang, vật liệu phải được chiếu bức xạ ion hóa lại ở nhiệt độ thấp sau đó nung nóng mẫu sẽ phát TL. Về bản chất, quá trình nhiệt phát quang cũng chính là một quá trình lân quang. Chỉ khác là quá trình lân quang không đòi hỏi cao như quá trình nhiệt phát quang mà có thể hấp thụ ánh sáng nhìn thấy để thực hiện lân quang với bức xạ kéo dài hàng giờ.

Do vậy, ta có thể nói cơ chế của quá trình lân quang chính là cơ chế của quá trình nhiệt phát quang phát ra bức xạ kéo dài hàng giờ [3], [18],[55]. Thời gian sống mà điện tử bị bắt tại bẫy phụ thuộc vào độ sâu E và nhiệt độ T của mẫu với tần số thoát được chọn là s = 1012 s-1(trong khoảng tần số dao động mạng). Lý thuyết nhiệt động học đã chỉ ra rằng, thời gian bức xạ phát ra bị trễ ở nhiệt độ T được xác định theo công thức Arrhenius sau: E −E⁄ ) τ = 1⁄p = s −1 e ⁄kT hay p = 1 = s e( kT (1.4) τ trong đó, p là xác suất điện tử thoát khỏi bẫy trong thời gian một giây (s-1), là thời gian sống của điện tử tại bẫy (s), s: hằng số gọi là tần số thoát, E: gọi là độ sâu bẫy hay năng lượng kích hoạt (eV), k: hằng số Boltzman, có giá trị 8,62.10-5 (eV/K), T là nhiệt độ của mẫu tính theo thang nhiệt độ tuyệt đối. 10 Nếu độ sâu bẫy E ở nhiệt độ chiếu xạ To mà E ≫ kTo thì điện tử bi bắt sẽ bị giữ ở bẫy T trong khoảng thời gian dài.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Chế tạo và nghiên cứu tính chất quang phổ của vật liệu BaMgAl10O17 pha tạp Eu2+ và Mn2+" trình bày quy trình chế tạo và phân tích các đặc tính quang phổ của vật liệu BaMgAl10O17 khi được pha tạp với ion Eu2+ và Mn2+. Nghiên cứu này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về tính chất quang học của vật liệu mà còn mở ra hướng đi mới cho việc ứng dụng trong các lĩnh vực như chiếu sáng và công nghệ quang học. Đặc biệt, tài liệu cung cấp những thông tin quý giá về cách mà các ion tạp có thể ảnh hưởng đến hiệu suất phát quang, từ đó giúp các nhà nghiên cứu và kỹ sư có thêm kiến thức để phát triển các vật liệu quang học tiên tiến hơn.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các nghiên cứu liên quan, hãy tham khảo tài liệu Luận án tiến sĩ vật lý chế tạo khảo sát tính chất quang và cấu trúc của vật liệu chứa đất hiếm dy3 và sm3, nơi bạn có thể khám phá thêm về các vật liệu chứa đất hiếm và tính chất quang học của chúng. Bên cạnh đó, tài liệu Luận án tiến sĩ nghiên cứu tổng hợp ở nhiệt độ thấp chất phát quang đơn pha trên cơ sở kẽm orthosilicat pha tạp mangan và các chất khác sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các chất phát quang khác và phương pháp tổng hợp của chúng. Cuối cùng, bạn cũng có thể tham khảo Luận án tiến sĩ vật lý nghiên cứu chế tạo và tính chất quang của vật liệu borate sr3b2o6 eu3 và sr3b2o6 eu2 để mở rộng kiến thức về các vật liệu borate và ứng dụng của chúng trong công nghệ quang học. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực nghiên cứu vật liệu quang học.