MỞ ĐẦU Nghiên cứu ăn mòn kim loại và các biện pháp hạn chế ăn mòn kim loại đang là một vấn đề cấp thiết, thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học. Quá trình ăn mòn dẫn đến suy giảm tính chất và phá hủy vật liệu kim loại, gây tổn thất lớn về kinh tế. Ngoài ra, quá trình ăn mòn còn gây ô nhiễm môi trường do vật liệu bảo vệ kim loại, sản phẩm ăn mòn,… bị rửa trôi theo mưa hoặc bị phá hủy, bị hòa tan và ngấm vào đất, nước, gây ảnh hưởng xấu tới môi trường sinh thái và sức khỏe con người. Ăn mòn kim loại có thể được hạn chế bằng nhiều phương pháp như tạo lớp phủ hữu cơ, thụ động kim loại, phương pháp bảo vệ catot,… Tuy nhiên, phương pháp đơn giản và được áp dụng phổ biến nhất đó là sử dụng lớp phủ hữu cơ.
Lớp phủ này có vai trò như một tấm chắn vật lý ngăn cản sự tiếp xúc trực tiếp của vật liệu kim loại với môi trường, từ đó hạn chế quá trình ăn mòn xảy ra. Ngoài chức năng bảo vệ vật liệu, một số lớp phủ hữu cơ còn là lớp trang trí, có vai trò tăng tính thẩm mĩ cho các công trình và vật liệu kim loại. Lớp phủ bề mặt kim loại với mục đích chống ăn mòn thường là nhựa epoxy. Nhờ có mật độ liên kết ngang cao, tạo hệ liên tục có độ bền cao với hoá chất, đặc biệt là chịu kiềm, kháng nước tốt, chịu lực va đập và lực mài mòn tốt nên nhựa epoxy được sử dụng phổ biến làm chất tạo màng cho lớp phủ hữu cơ trên bề mặt kim loại.
Tuy nhiên, khả năng chịu tia tử ngoại của nhựa epoxy kém nên dễ bị phấn hóa dưới ánh nắng mặt trời. Ngoài ra, lớp phủ epoxy cũng bị các tác nhân gây ăn mòn, nước và ion Cl- thẩm thấu hoặc xen vào các vết nứt hay các vết khiếm khuyết trên màng sơn để tiếp xúc với bề mặt kim loại. Vì vậy, lớp phủ epoxy cần được gia cường để tăng các tính chất cơ học và ức chế ăn mòn kim loại. Biến tính nhựa epoxy là một hướng nghiên cứu mới nhằm tăng cường các tính chất bám dính với bề mặt kim loại và khả năng tương tác của lớp phủ epoxy với các lớp phủ hữu cơ khác.
Trong công nghệ chế tạo lớp phủ hữu cơ, các hạt phụ gia vô cơ có kích thước nano như hạt nano titan oxit, zirconi oxit, kẽm oxit… được sử dụng để cải thiện các tính chất của nhựa epoxy, đồng thời là chất tạo màu, chế tạo lớp phủ chống ăn mòn, chống gỉ sét… ZnO là một phụ gia phổ biến trong lĩnh vực sơn phủ và thường được ứng dụng trong chế tạo lớp sơn lót có khả năng chống ăn mòn, bảo vệ bề mặt kim loại. Để tăng cường sự phân tán của các hạt 2 phụ gia vô cơ kích thước nano đưa vào màng sơn, các nhà khoa học đã nghiên cứu biến tính hạt vô cơ kích thước nano bằng tác nhân biến tính hữu cơ. Hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu về biến tính nhựa epoxy bằng hợp chất silan và gia cường nhựa epoxy biến tính ở trên bằng phụ gia nano ZnO biến tính hữu cơ với định hướng ứng dụng làm lớp phủ bảo vệ chống ăn mòn kim loại. Vì vậy, học viên lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu chế tạo lớp phủ bảo vệ chống ăn mòn kim loại trên cơ sở nhựa epoxy biến tính silan và phụ gia nano ZnO biến tính hữu cơ”.
Mục tiêu của đề tài: Chế tạo được lớp phủ epoxy biến tính bởi tác nhân silan kết hợp với phụ gia nano ZnO biến tính hữu cơ có khả năng bảo vệ chống ăn mòn kim loại. Tổng quan về epoxy 1. Giới thiệu chung Nhựa epoxy còn được gọi là polyepoxit, được định nghĩa là một tiền polyme có chứa nhiều hơn một nhóm epoxy [1]. Nó là một loại nhựa nhiệt rắn tiên tiến do có nhiều tính chất nổi bật như tính chất cơ học và tính chất điện tốt, kháng hóa chất tốt và độ hút ẩm thấp [2].
Trong phân tử của nó, thường có một hoặc một vài nhóm epoxy có thể trùng hợp để tạo ra cấu trúc liên kết chéo cao [3]. Nhựa epoxy có thể được sản xuất theo nhiều quy trình khác nhau bao gồm sự ngưng tụ của glycidyl este, glycidyl ete hoặc nhựa brom hóa. Quá trình đóng rắn và tạo liên kết chéo của nhựa epoxy có thể được kích hoạt bằng nhiệt và tăng tốc bằng các chất đóng rắn như amin đa chức, anhydrit axit hoặc mercaptan. Epoxy chiếm một vị trí đặc biệt trong hệ nhiệt rắn đa năngdo sự đa dạng trong hệ epoxy/chất đóng rắn [3].
Polyme này được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như sơn và lớp phủ bề mặt, chất kết dính và vật liệu compozit… [4-6]. Tính chất của nhựa epoxy Tính chất vật lí [7-9] Nhựa epoxy chưa đóng rắn là loại nhựa nhiệt rắn trong suốt hoặc có màu vàng sáng. Tùy thuộc vào khối lượng phân tử mà nhựa epoxy này có thể ở các trạng thái khác nhau như lỏng, đặc hoặc rắn. Tính chất của nhựa epoxy phụ thuộc vào sự kết hợp của loại nhựa epoxy và chất đóng rắn được sử dụng [10].
Thực tế cho thấy nhựa epoxy khối lượng phân tử thấp thường được ứng dụng làm keo dán, chất kết dính, chế tạo các vật liệu đúc và các loại tấm ép, còn nhựa epoxy khối lượng phân tử cao thường được ứng dụng làm sơn phủ. Nhựa epoxy có khối lượng phân tử cao, sau khi đóng rắn có mật độ liên kết ngang không cao và các liên kết này nằm cách xa nhau, vì vậy, nhựa sau khi đóng rắn vẫn còn có tính dẻo nhất định. Sản phẩm sau khi đóng rắn không tạo bọt khí và rỗ trên bề mặt. Ngoài ra, sau khi đóng rắn, các mạch epoxy vẫn còn nhiều nhóm -OH, làm cho nhựa có khả năng trộn lẫn, tương tác tốt với nhiều loại vật liệu.
Liên kết ete làm cho nhựa có độ bền hóa học cao, có cực, góp phần tăng độ bám dính của sản phẩm. Các nhóm chức epoxy và -OH 4 trong nhựa epoxy có khả năng phản ứng khác nhau với các chất đóng rắn ở nhiệt độ thường hoặc nhiệt độ cao tạo lớp phủ có cấu trúc 3 chiều bền vững, chất lượng cao [11]. Hầu hết nhựa epoxy đều cứng, bền hóa học, bám dính tốt, bền trong môi trường có độ ẩm cao, chịu hóa chất tốt (nhựa đóng rắn chịu được kiềm đặc, chất tẩy rửa, dung dịch muối, các dung dịch axit: HCl 20 %, H2SO4 70 %, HNO3 10 %, CH3COOH 1 %). Độ cứng tương đối của màng sơn, vecni trên cơ sở nhựa epoxy vào khoảng 0,2 - 0,9.
Sản phẩm đóng rắn nhựa epoxy có hằng số điện môi thấp, cách điện tốt. Tùy thuộc vào bản chất và cấu tạo hóa học mà mỗi loại nhựa có độ bền thời tiết khác nhau. Một số tính chất vật lý chung của nhựa epoxy không có chất độn được trình bày trong Bảng 1.1: Một số tính chất vật lí của nhựa epoxy chưa đóng rắn [3] Đương Độ nhớt (cP) STT Cấu trúc nhựa lượng (nhiệt độ đo) epoxy 172- 4000-6000 1 176 (25 ℃) 3000 2 110 (25 ℃) 3 162 - 117- 800-1800 4 134 (25℃) Các nhựa epoxy đian tan tốt trong các dung môi hữu cơ như xeton, ancol, ete, xetoancol, dioxan…và không tan trong các hydro cacbon mạch thẳng. Nhựa epoxy có thể phối trộn với các loại nhựa khác như phenol- formaldehyt, ure- melamin formaldehyt, polyamit, polyeste nhưng không trộn được với este và este xenlulo.
5 Tính chất hóa học Cấu tạo hóa học của nhựa epoxy gồm 3 phần chính: nhóm epoxy, mạch hydrocacbon và các nhóm định chức khác [3, 8, 12]. Trong đó: R1, R2, R3: hydro hoặc gốc hydrocacbon Các gốc hydrocacbon của epoxy có thể có liên kết đôi, vòng thơm, mạch thẳng hoặc mạch vòng; các nhóm định chức khác nhau tùy thuộc vào loại epoxy. Hydro hoặc gốc hydrocacbon có thể tham gia các phản ứng hóa học đặc trưng tuân theo các phản ứng hóa hưu cơ, bị ảnh hưởng bởi kích thước và khối lượng phân tử của các loại nhựa epoxy khác nhau. + Nhóm epoxy: Đây là nhóm có hoạt tính hóa học cao thể hiện ở các đặc điểm sau: Nhóm epoxy là vòng ba cạnh gồm có hai nguyên tử cacbon và một nguyên tử oxy có sức căng lớn.
Các liên kết của vòng không có sự xen phủ cực đại của liên kết σ mà mang bản chất của liên kết π nên rất kém bền, có hoạt tính hóa học cao. Nhóm epoxy có nguyên tử oxy còn cặp electron tự do chưa tham gia liên kết nên dễ mở vòng khi cộng hợp với các hợp chất có hydro linh động, mở vòng khi có xúc tác bazơ theo cơ chế SN2, mở vòng bằng amin, mở vòng bằng axit… Mở vòng bằng bazơ Nhóm epoxy có thể mở vòng khi có xúc tác bazơ theo cơ chế SN2. Tác nhân nucleophin ưu tiên tấn công vào nguyên tử cacbon ít khó khăn về lập thể nhất. Mở vòng bằng amin 6 Mở vòng bằng axit Vòng epoxy có dị tố oxy còn cặp electron tự do nên nhóm epoxy dễ bị proton hóa và mở vòng bằng axit + Mở vòng bằng axit hữu cơ: + Mở vòng bằng axit vô cơ: Trong vòng epoxy có nguyên tử oxy vẫn còn cặp electron chưa tham gia liên kết nên dễ dàng bị proton hóa trong môi trường axit hình thành ion oxini (cơ chế SN2) hoặc cacbocation tự do (SN1).
Một số chất đóng rắn thường được sử dụng [13, 14] Chất đóng rắn thúc đẩy hoặc kiểm soát quá trình đóng rắn nhựa epoxy hai thành phần, được thực hiện bằng cách thêm chất đóng rắn vào nhựa epoxy. Động học đóng rắn và nhiệt độ thủy tinh hóa của nhựa epoxy phụ thuộc vào cấu trúc phân tử của các chất đóng rắn. Một số chất đóng rắn thường được sử dụng là: Chất đóng rắn amin: là loại chất đóng rắn cơ bản cho nhựa epoxy, phản ứng khâu mạch với các vòng epoxit bằng cách bổ sung nucleophin. Có thể chia thành ba loại chính là amin béo, amin thơm hoặc xicloalphatic.
Chất đóng rắn kiềm: được chia thành hai loại chính là imidazol và amin bậc 3. Imidazol được sử dụng như một chất đóng rắn độc lập hoặc làm chất xúc tiến trong các phản ứng đóng rắn của epoxy và các chất đóng rắn khác. Các amin bậc 3 thường sử dụng làm chất xúc tiến cho các amin khác như polyamit, anhydrit, mercaptans, các amin khác… với mục đích đẩy nhanh phản ứng đóng rắn. 7 Chất đóng rắn anhydrit: anhydrit có đặc tính vật lý tốt và có khả năng kháng hóa chất.
Phản ứng đóng rắn của anhydrit và epoxy thường được xúc tác bởi các hợp chất amin.