Chương 1: Một số vấn đề lý luận về sở hữu đất đai. Chương 2: Thực trạng sở hữu đất đai ở nước ta và kinh nghiệm nước ngoài trong quản lý vả sử dụng đất đai. Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật về chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai. 4 z Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SỞ HỮU ĐẤT ĐAI 1.
Một số khái niệm Khái niệm và đặc điểm của đất đai Khái niệm về đất Đất là lớp mỏng trên cùng của vỏ Trái Đất tương đối tơi xốp do các loại đá phong hoá ra, có độ phì trên đó cây cỏ có thể mọc được. Đất hình thành do tác dụng tổng hợp của nước, không khí và sinh vật lên đá mẹ. Đất có độ phì ít hay nhiều và bao gồm các thành phần chất rắn, chất lỏng (dung dịch đất), chất khí và sinh vật (động, thực vật, vi sinh vật). Đất được phân loại theo kiểu phát sinh: Đất đỏ bazan; Đất phù sa, Đất phù sa cổ; Đất rừng xám; Đất pôtzôn; Đất mặn kiềm hay chua mặn, vv.
Đất đồng bằng tuỳ thuộc các quy luật phân vùng theo địa giới; Đất miền núi chịu sự chi phối của độ cao. Trong nông, lâm nghiệp, đất được phân hạng thành các loại theo khả năng sử dụng và yêu cầu bảo vệ đất: Đất rừng, Đất trồng cây hằng năm, cây lâu năm, Đất chăn thả, Đất thổ cư, Đất chuyên dùng (cho giao thông, xây dựng, thuỷ lợi, khai khoáng, du lịch, vv. Theo Các Mác “Đất là một phòng thí nghiệm vĩ đại; là kho tàng cung cấp các tư liệu lao động, vật chất; là vị trí để định cư, là nền tảng của tập thể.” Theo cuốn Từ điển Luật học Black thì Đất có thể có hai nghĩa hẹp và nghĩa rộng. Nghĩa hẹp[34] Đất chỉ là bề mặt hoặc lớp vỏ bao ngoài đất, không bao gồm các khoáng vật bên dưới hoặc cỏ cây bên trên nó.
Theo nghĩa rộng hơn[34], Đất không chỉ là lớp vỏ, lớp bề mặt mà còn bao gồm tất cả những gì gắn liền với nó, bất kể do bản chất tự nhiên (như cây cối, nước) hay do sự tác động của con người (như những công trình xây dựng, tường rào). Từ định nghĩa trên ta có thể thấy sự phân biệt giữa “đất đai” trong phạm trù địa lý tự nhiên và “đất đai” trong phạm trù địa lý - kinh tế, gắn với hoạt động xã hội, sản xuất, kinh doanh của con người. Ở Việt Nam, đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt không gì thay thế được của nông nghiệp, lâm nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, 5 z xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng. Bất cứ ai, trong bất cứ thời kỳ lịch sử nào đều cần sử dụng tới nguồn tài nguyên này.
Đặc điểm của đất đai Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên không tái tạo được hay còn gọi là nguồn tài nguyên có thể bị cạn kiệt (Phân biệt với nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể tái tạo được như tài nguyên rừng, khoáng sản, hải sản,vv…). Trong quá trình sử dụng, đất đai thường được chia nhỏ thành các lô, thửa đất hay khu đất rộng lớn phù hợp với từng mục đích sử dụng khác nhau. Hơn nữa, đất đai có tính cố định vị trí, không thể di chuyển được điều này có nghĩa là những lô, thửa đất hay khu đất được phân chia ra luôn có vị trí, tính chất địa lý khác nhau. Không bao giờ có hai lô đất, thửa đất trùng khớp nhau về mọi yếu tố, hay có thể nói rằng đất đai có tính độc nhất vô nhị (tính duy nhất).
Đất đai không hao mòn theo thời gian và giá trị đất đai luôn có xu hướng tăng lên theo thời gian. Tuy nhiên, đất đai luôn cố định và ở mỗi vị trí khác nhau, đất đai có những lợi thế, khuyết điểm khác nhau vì vậy giá đất ở các vị trí khác nhau cũng khác nhau. Ví dụ như đất đai ở các vùng đồng bằng hay các đô thị lớn luôn có giá cả cao hơn đất đai ở các vùng đồi núi hoặc vùng hẻo lánh, đó là do vị trí địa lý của đất đai quyết định sự màu mỡ của đất, những tiện nghi và cơ hội phát triển kinh tế. Đất đai là một loại tư liệu sản xuất tự nhiên đặc biệt, gắn liền với hoạt động của con người.
Con người tác động vào đất đai nhằm thu được sản phẩm để phục vụ cho các nhu cầu của cuộc sống. Tác động này có thể trực tiếp hoặc gián tiếp và làm thay đổi tính chất của đất đai có thể chuyển đất hoang thành đất sử dụng được hoặc chuyển mục đích sử dụng đất. Tất cả những tác động đó của con người biến đất đai từ một sản phẩm của tự nhiên thành sản phẩm của lao động. Ngày nay, khi kinh tế ngày càng phát triển, các quan hệ đất đai trở nên phong phú, đa dạng hơn rất nhiều.
Đất đai không chỉ là tư liệu sản xuất mà càng quan trọng hơn khi đóng vai trò là một loại tài sản, một loại hàng hóa đặc biệt. Khái niệm về tài sản Tại Việt Nam vẫn chưa có một định nghĩa luật học về tài sản. Theo quy định của Bộ Luật Dân sự 2005, tại Điều 163 thì tài sản được liệt kê bao gồm vật, tiền, giấy 6 z tờ có giá và các quyền tài sản. Trong đó quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ (Điều 181).
Bộ Luật Dân sự Pháp cũng không đưa ra một khái niệm cụ thể về tài sản mà trực tiếp phân định tài sản thành bất động sản và động sản[9]. Bộ Luật Dân sự 2005 cũng thiên về cách phân loại này. Theo đó đất đai là một loại bất động sản và quyền sử dụng đất là một loại quyền tài sản. Bất động sản theo quy định tại Điều 174, Bộ Luật Dân sự 2005 bao gồm Đất đai; Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; Các tài sản khác gắn liền với đất đai; các tài sản khác do pháp luật quy định.
Như vậy, theo Bộ Luật Dân sự 2005 ta có thể phân tích đất đai theo hai khía cạnh: - Thứ nhất, đất đai với vai trò là một loại bất động sản thuộc sở hữu Nhà nước (Điều 200). Ở đây chủ yếu thể hiện quan hệ giữa Nhà nước với tư cách chủ sở hữu đất đai với người sử dụng đất khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất. Các quyền của người sử dụng đất bị hạn chế theo các quy định của pháp luật (Điều 173). Giao dịch ở khía cạnh này chủ yếu mang tính chất công quyền, hành chính, thủ tục.
- Thứ hai, khi Nhà nước giao đất, cho thuê đất cho người sử dụng đất sẽ làm phát sinh trên mảnh đất đó một quyền tài sản thuộc về người sử dụng đất. Quyền tài sản đó là quyền sử dụng đất, đây cũng là một loại tài sản và nó mang tính “động” hơn so với đất đai. Quyền sử dụng đất có thể được giao dịch trên thị trường như những loại tài sản khác, dĩ nhiên những giao dịch này vẫn chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của pháp luật nhưng chúng mang tính chất “tư”, tự do hơn. Chính vì thế nên ở khía cạnh này, các quan hệ pháp luật phức tạp hơn và đang có rất nhiều vướng mắc cần được gỡ rối.
Khái niệm sở hữu và sở hữu đất đai. Khái niệm sở hữu và quyền sở hữu Ở bất kỳ xã hội nào, sở hữu luôn là vấn đề nền tảng quyết định sự phát triển của xã hội và nền kinh tế. Trong thời gian qua, khi xây dựng pháp luật nước ta cũng rất chú 7 z trọng tới vấn đề này, đặc biệt là với sự ra đời của Bộ Luật Dân sự 2005, Nhà nước ta đã lập ra các chế định liên quan đến sở hữu như các hình thức sở hữu, địa vị pháp lý của chủ sở hữu… Vậy sở hữu là gì? Sở hữu[33] là quan hệ xã hội phát triển trong lịch sử, biểu hiện đặc tính chiếm hữu của cải vật chất của xã hội bởi những thể nhân khác nhau (cá nhân riêng biệt, nhóm xã hội, nhà nước). Đối tượng sở hữu là toàn bộ những đồ vật lệ thuộc vào chủ thể nhất định (người sở hữu), nghĩa là tài sản phù hợp với thể nhân, vì thế quan hệ sở hữu cũng gọi là quan hệ tài sản, trong đó sở hữu về tư liệu sản xuất có ý nghĩa quyết định.
Các tác gia kinh điển của chủ nghĩa Mac- Lênin dùng hai cụm từ “chế độ sở hữu” và “hình thức sở hữu” đều đề cập đến điều cốt lõi: ai làm chủ tư liệu sản xuất. Chế độ sở hữu thường được dùng để chỉ hình thức sở hữu phổ biến, thống trị trong xã hội; còn hình thức sở hữu dùng để chỉ hình thức biểu hiện cụ thể của chế độ xã hội. Trong lịch sử, chung quy lại chỉ có hai chế độ sở hữu: chế độ công hữu và chế độ tư hữu; trong mỗi chế độ rất khái quát đó lại bao gồm các hình thức sở hữu cụ thể. Hình thức sở hữu thể hiện đặc điểm quan trọng và cơ bản của một kiểu quan hệ giữa người và người trong việc nắm giữ tư liệu sản xuất hay của cải vật chất.
Hình thức sở hữu tư liệu sản xuất phản ánh đặc trưng của một kiểu quan hệ sản xuất. Xã hội loài người đã trải qua năm hình thái kinh tế xã hội khác nhau, tương ứng có năm hình thức sở hữu đặc trưng: sở hữu cộng sản nguyên thuỷ, sở hữu nô lệ, sở hữu phong kiến, sở hữu tư bản và sở hữu công cộng xã hội chủ nghĩa. Các hình thức sở hữu luôn luôn vận động và phát triển, không cố định về số lượng. Các tác gia kinh điển của chủ nghĩa Mac- Lênin còn cho rằng, nền kinh tế xã hội chủ nghĩa chỉ được xây dựng trên cơ sở chế độ công hữu tư liệu sản xuất đơn nhất, không có vấn đề cơ cấu sở hữu tư liệu sản xuất và hình thức kinh tế nhiều thành phần.
Nhưng thực tiễn cho thấy, dưới chủ nghĩa xã hội, không chỉ tồn tại chế độ công hữu có hình thức khác nhau mà còn tồn tại hình thức kinh tế của chế độ sở hữu phi xã hội chủ nghĩa, nhất là ở những nước mà trình độ lực lượng sản xuất còn lạc hậu như Việt Nam.