Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ QUẢN TRỊ CÔNG TY 1. Khái niệm quản trị công ty và nhu cầu điều chỉnh pháp luật đối với quan hệ quản trị công ty 1. Khái niệm quản trị công ty Từ giác độ nhận thức và lý luận, có thể thấy rằng hiện nay trên thế giới, không có một định nghĩa thống nhất nào về Quản trị công ty (Corporate governance) có thể áp dụng cho mọi trường hợp và mọi thể chế. Những định nghĩa khác nhau về Quản trị công ty hiện hữu phần nhiều phụ thuộc vào các tác giả, thể chế cũng như quốc gia hay truyền thống pháp lý.
Về mặt ngôn ngữ, quản trị công ty có thể hiểu theo nghĩa rộng và hẹp. Theo nghĩa hẹp, quản trị công ty thường quan tâm đến các vấn đề của cấu trúc quản lý của công ty chẳng hạn như mối quan hệ giữa Hội đồng quản trị và Ban giám đốc; lợi ích hoặc các mục tiêu của các nhóm trong công ty. Theo nghĩa rộng, quản trị công ty thiết lập một tổ hợp các mối quan hệ giữa các bên tham gia vào công ty và các mục tiêu đầy đủ của quản trị công ty đó. Trong khoa học pháp lý, thuật ngữ “quản trị công ty” được vay mượn từ chữ “corporate governance” [26, tr.
Thuật ngữ “corporate governance” xuất hiện đầu tiên ở Mỹ vào năm 1920, với mục đích làm rõ sự phân chia giữa quyền sở hữu và quyền quản lý trong các công ty hiện đại, khi hình thức sở hữu hiện vật chuyển thành hình thức sở hữu cổ phần, còn các nhà quản trị chuyên nghiệp thay thế cho các kiểu quản trị gia đình [40, tr. Ngày nay, thuật ngữ “corporate governance” được cả giới khoa học pháp lý lẫn giới khoa học kinh tế sử dụng phổ biến như một trào lưu khoa học mới trong nghiên cứu cải cách các mô hình tổ chức quản lý công ty. Nội hàm của chúng chủ yếu cũng chỉ xoay quanh các quan hệ về tổ chức quản lý công ty, dù chúng được tiếp cận theo nhiều cách khác nhau. 7 z Theo Giáo sư Ira M.
Millstein, Trường Quản lý Yale, Hoa Kỳ, quản trị công ty là việc công ty áp dụng những phương pháp mang tính nội bộ để quản lý hoạt động của công ty. Nó được thể hiện qua những mối liên hệ nội bộ về cơ cấu quyền hạn và trách nhiệm giữa các chủ thể góp vốn, Hội đồng quản trị và các nhà quản lý [23, tr. Quan điểm này khá tương đồng với định nghĩa về quản trị công ty trong Luật Công ty của Vương quốc Anh năm 1985. Cụ thể là Luật này đã xác định, quản trị công ty là một thiết chế pháp lý về mối quan hệ giữa cổ đông, các nhà quản lý và Kiểm soát viên [29, tr.
Raymond Mallon, chuyên viên cao cấp của Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) thì định nghĩa, quản trị công ty được hiểu là các quy trình mà qua đó Hội đồng quản trị giám sát Tổng giám đốc công ty và những nhà quản lý khác chịu trách nhiệm quản lý công ty hàng ngày, qua đó thành viên Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm đối với các nhà đầu tư, chủ nợ doanh nghiệp và các bên có liên quan khác. Mục đích của quản trị công ty là bảo vệ lợi ích của các bên có liên quan chính trong công ty kinh doanh, mà trọng tâm tập trung vào bảo vệ lợi ích của người góp vốn vào công ty [22, tr. Còn John và Senbet lại quan niệm rằng, quản trị công ty là cơ chế mà theo đó cổ đông của một công ty thực hiện quyền kiểm soát đối với các thành viên nội bộ nhằm bảo vệ lợi ích của chính họ [20, tr. Ở mức độ khái quát, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) lại đưa ra định nghĩa, quản trị công ty là hệ thống mà thông qua đó công ty được chỉ đạo và kiểm soát.
Cơ cấu quản trị công ty quy định việc phân bổ quyền hạn và trách nhiệm giữa các thành viên tham gia khác nhau trong công ty như Hội đồng quản trị, các chức danh điều hành, cổ đông và các bên có quyền lợi liên quan khác; đồng thời đề ra các quy tắc và thủ tục ra quyết định đối với các công việc của công ty. Bằng cách này, nó tạo ra một cơ chế xác lập mục tiêu hoạt động, các phương tiện thực thi và giám sát thực thi các mục tiêu đó [43]. Cụ thể hóa định nghĩa này, OECD đưa ra một bộ các nguyên tắc mang tính khuyến nghị về quản trị công ty nhằm hướng đến đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư, của người có quyền lợi liên quan khác, tăng tính minh bạch và 8 z trách nhiệm của Hội đồng quản trị để thu hút các nguồn lực vào quá trình phát triển kinh tế, đảm bảo hiện thực hóa quyền tự do kinh doanh của các chủ thể pháp lý. Tiếp cận từ các quy phạm thực định, Ngân hàng thế giới (WB) định nghĩa, quản trị công ty là một hệ thống các yếu tố pháp luật, thể chế và thông lệ quản lý của công ty.
Nó cho phép công ty có thể thu hút các nguồn tài chính và nhân lực, hoạt động có hiệu quả, và nhờ đó tạo ra giá trị kinh tế lâu dài cho các cổ đông, trong khi nó vẫn tôn trọng quyền lợi của những người có lợi ích liên quan và của xã hội. Theo đó, đặc điểm cơ bản nhất của quản trị công ty là: (i) tính minh bạch của các thông tin tài chính, kinh doanh và quá trình giám sát nội bộ đối với hoạt động quản lý, (ii) bảo đảm thực thi các quyền của tất cả các cổ đông, (iii) các thành viên của Hội đồng quản trị có thể hoàn toàn độc lập trong việc thông qua các quyết định, phê chuẩn kế hoạch kinh doanh, tuyển dụng người quản lý, giám sát tính trung thực và hiệu quả của hoạt động quản lý, miễn nhiệm người quản lý khi cần thiết [26, tr. Tương tự cách tiếp cận của WB, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) xác định, quản trị công ty bao gồm một hệ thống các quy chế xác định rõ mối quan hệ giữa các cổ đông, các chức danh quản lý, các chủ nợ và những người có liên quan khác cũng như hệ thống các cơ chế đảm bảo thực hiện các quy định trên [26, tr. Đối chiếu với thực tại pháp lý của một số nước phát triển trên thế giới, có thể thấy rằng, các quan điểm trên của WB, ADB và OECD gần như trở thành tiền đề lý luận chung cho hoạt động lập pháp của các nước.
Chúng đã tác động sâu rộng và mạnh mẽ đến tư tưởng lập pháp của mỗi quốc gia, đặc biệt là các nước thành viên của OECD và các nước nhận sự hỗ trợ về kỹ thuật lập pháp của WB. Điển hình là Luật Quản trị Công ty của Vương quốc Bỉ năm 2004 (The Belgian Code on Corporate Governance 2004) xác định ngay trong lời nói đầu của mình rằng, quản trị công ty là một tập hợp các quy tắc và cách xử sự mà theo đó công ty được quản lý và kiểm soát. Theo đó, nội dung của 9 z luật này không gì khác hơn là điều chỉnh pháp luật về các vấn đề mà OECD, WB, ADB đã nêu. Ở Việt Nam, thuật ngữ “quản trị công ty” còn tương đối mới mẻ, chưa được sử dụng như một thuật ngữ pháp lý chính thức và thống nhất về nội dung.
Khi nghiên cứu về vấn đề này vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau. Có quan điểm vì đồng nhất thuật ngữ “quản trị” với thuật ngữ “quản lý” nên cho rằng “quản trị công ty” bao gồm “quản trị nhà nước” đối với công ty (quan hệ quản lý nhà nước theo chiều dọc mang tính áp đặt, mệnh lệnh) và quản trị quan hệ nội bộ công ty (quản lý nội bộ công ty). Tuy nhiên cách sử dụng này không mang tính phổ biến. Trên thực tế, từ “quản trị” không được dùng như một thuật ngữ phổ dụng trong quan hệ hành chính giữa nhà nước và doanh nghiệp, mà chủ yếu dùng từ “quản lý”, hay chính xác hơn là cụm từ “quản lý nhà nước” để chỉ mối quan hệ này.
Trái lại, thuật ngữ “quản trị” trở nên phổ dụng hơn khi xem xét mối quan hệ nội bộ công ty. Với cách dùng này thì “quản trị” được hiểu như là một hoạt động cần thiết phải được thực hiện khi con người kết hợp với nhau trong một tổ chức nhằm đạt được những mục tiêu chung [18, tr. Theo luật gia Nguyễn Ngọc Bích, quản trị công ty (lèo lái công ty- corporate governance) là một tập hợp các cơ chế liên quan đến việc điều hành và kiểm soát công ty. Nó đề ra cách phân chia quyền hạn và nghĩa vụ giữa cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban giám đốc và những người có lợi ích liên quan khác như người lao động, nhà cung cấp [9, tr.
Cách tiếp cận này tương đồng với quan điểm của OECD. Trong khi đó, Tiến sĩ Luật học Ngô Viễn Phú chỉ cho rằng, ở giác độ pháp lý, quản trị công ty là phương cách tổ chức các cơ quan quyền lực của công ty và mối quan hệ chế ước quyền lực giữa các cơ quan đó [29, tr. Quan điểm này thể hiện sự phân chia quyền lực trong công ty giống như quyền lực nhà nước. Tuy nhiên, do quá nhấn mạnh tính phân chia quyền lực giữa các cơ quan, định nghĩa trên đã bỏ quên trách nhiệm của Hội đồng quản trị trước chủ 10 z đầu tư, vai trò và quyền lợi của những người có quyền lợi liên quan khác, đặc biệt là những chủ thể ít có khả năng tự bảo vệ lợi ích của mình (các cổ đông thiểu số, người lao động,.), cũng như thiếu vắng nhu cầu đảm bảo sự bình đẳng giữa các chủ đầu tư và cơ chế đảm bảo thực hiện nó.
Tiến sĩ Đinh Văn Ân, Viện trưởng Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương thì cho rằng, quản trị công ty theo nghĩa hẹp là cơ chế quản lý - giám sát của chủ sở hữu đối với người quản lý công ty theo những mục tiêu và định hướng của chủ sở hữu [39]. Theo nghĩa rộng hơn, quản trị doanh nghiệp gắn chặt với quyền lợi của chủ sở hữu cũng như các chủ nợ, người cung cấp, người lao động, thậm chí khách hàng của công ty. Về mặt tổ chức, quản trị công ty là tập hợp các mối quan hệ giữa chủ sở hữu, Hội đồng quản trị và các bên có liên quan nhằm xác định mục tiêu, hình thành các công cụ để đạt được mục tiêu và giám sát việc thực hiện mục tiêu của công ty [39].