CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỘ GIAM GIỮ PHẠM NHÂN LÀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI. Thời gian qua, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm nội luật hóa quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em và tạo hành lang pháp lý xử lí những hành vi xâm hại đến quyền trẻ em. Để quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng được bảo đảm một cách tốt nhất thì chúng ta cần quan tâm toàn diện, bao quát mọi lĩnh vực có liên quan đến đối tượng họ.
Đặc biệt khi người dưới 18 tuổi tham gia vào tư pháp hình sự người chưa thành niên với tư cách phạm nhân, họ phải tiếp xúc trực tiếp với các cơ quan quyền lực nhà nước và những quy định pháp luật cụ thể. Khi đó, họ là người yếu thế, cần có những quy định cụ thể tạo hành lang pháp lý để đảm bảo những quyền lợi tối thiểu của phạm nhân là người dưới 18 tuổi một cách tối đa trong quá trình chấp hành án tại cơ sở giam giữ 1. Khái niệm về chế độ giam giữ phạm nhân là người dưới 18 tuổi. Phạm nhân Phạt tù là tước quyền tự do của người bị kết án, buộc họ phải cách ly khỏi xã hội trong một thời gian nhất định (tù có thời hạn) hoặc không có thời hạn (tù chung thân).
Tù có thời hạn là hình phạt buộc người bị kết án phải bị giam trong thời gian từ ba tháng đến hai mươi năm. Tòa án chỉ được tuyên hình phạt tù trong giới hạn tối thiểu và tối đa mà điều luật về tội phạm quy định. Nhưng khi xét thấy có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất mà điều luật đã quy định hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Tù chung thân là hình phạt không thời hạn được áp dụng đối với người phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng nhưng chưa đến mức bị xử phạt tử hình.
Tù chung thân không áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội. Về nguyên tắc, tù chung thân là tù suốt đời, nhưng theo Điều 49 - Bộ luật hình sự nếu người bị kết án tù chung thân, trong quá trình thụ hình đã chứng tỏ được quyết tâm cải tạo thì có thể được xét để giảm thời hạn chấp hành án và có thể được giảm nhiều lần, lần đầu được giảm xuống 20 năm tù và dù được giảm nhiều lần cũng phải đảm bảo thời gian thực sự chấp hành hình phạt là 15 năm. 7 Thuật ngữ phạm nhân lần đầu xuất hiện ở Luật Thi hành án hình sự 2010, Luật Thi hành án hình sự 2019 đã kế thừa quy định về phạm nhân cụ thể, phạm nhân là người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, tù chung thân. Thi hành án hình sự là việc đưa quyết định, bản án đã có hiệu lực của tòa án vào áp dụng trên thực tế thông qua các hoạt động của các cơ quan thực thi pháp luật và các cá nhân , tổ chức có liên quan, còn thi hành án phạt tù là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc người bị kết án hình phạt tù chấp hành theo quyết định của bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực.
Người chấp hành hình phạt tù là người chấp hành án phạt tù có thời hạn hoặc là phạt tù chung thân hay còn có một tên gọi khác là phạm nhân. Theo đó, phạm nhân là: “Phạm nhân là người đã bị Tòa án tuyên án có tội phải chịu hình phạt tù và đang chấp hành bản án đó” 1. Người dưới 18 tuổi Theo các giai đoạn phát triển và theo lứa tuổi của con người được hiểu dưới góc độ thuật ngữ pháp lý thì chia thành người chưa thành niên (trong đó có trẻ em) và người đã thành niên. Người thành niên có thể hiểu là người thuộc về lứa tuổi trưởng thành cả về thể chất và tinh thần, về tâm lý lẫn sinh lý.
Theo từ điển tiếng Việt khái niệm người chưa thành niên là: “Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần cũng như chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân”. Công ước về quyền trẻ em (được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 20-11- 1989); Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về áp dụng pháp luật với trẻ em (gọi là Quy tắc Bắc Kinh ngày 29-11-1985); Hướng dẫn của Liên hợp quốc về phòng ngừa phạm pháp ở trẻ em (Hướng dẫn Ri-át ngày 14-12-1990). thì trẻ em được xác định là người dưới 18 tuổi. Còn các văn kiện của một số tổ chức thuộc Liên hợp quốc như: Quỹ dân số thế giới (UNFPA).
Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) quy định trẻ em là người dưới 15 tuổi Như vậy, theo pháp luật quốc tế người dưới 18 tuổi được coi là trẻ em. Pháp luật ở mỗi quốc gia quy định độ tuổi cụ thể của người chưa thành niên. Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên Hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989 có ghi: “Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm hơn”. Bên cạnh đó, các văn bản pháp luật quốc tế liên quan đến người chưa thành niên như: Công ước về Quyền trẻ em (United Nations Convention on the Rights of the Child) được 8 Đại hội đồng Liên Hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989; Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về áp dụng pháp luật với người chưa thành niên (United Nations Standard Minimum Rules for the Administration of Juvenile Justice /Beijing Rules) ngày 29/11/1985; Hướng dẫn của Liên Hợp quốc về phòng ngừa phạm pháp ở người chưa thành niên (United Nations Guidelines for the Prevention of Juvenile delinquency/ Riyadh Guidelines) ngày 14/12/1990.
Theo quan niệm quốc tế thì trẻ em (Child) là người dưới 18 tuổi, người chưa thành niên (Juvenile) là người từ 15 đến 18 tuổi, thanh niên (Youth) là người từ 15 đến 24 tuổi, người trẻ tuổi (Young persons) bao gồm trẻ em, người chưa thành niên và thanh niên1. Nhận thấy rằng cụm từ “người chưa thành niên” là để phân biệt với cụm từ “người thành niên”; cụm từ “người lớn” phân biệt với “trẻ em”, “người dưới 18 tuổi” phân biệt với “người trên 18 tuổi”. Như vậy, để phân biệt người chưa thành niên và người thành niên cần lấy một ranh giới độ tuổi để xác định và độ tuổi đó là 18 tuổi. “Người dưới 18 tuổi” xuất hiện lần đầu tiên tại Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 với vai trò thay thế cho “Người chưa thành niên phạm tội” của Bộ luật hình sự năm 1985 và Bộ luật hình sự năm 1999.Theo quy định tại Điều 21 của Bộ luật dân sự 2015, người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám.
Pháp luật Việt Nam quy định chưa có sự thống nhất với nhau một cách cụ thể để xác định lứa tuổi nào là trẻ em, lứa tuổi nào là người chưa thành niên, cũng như phân biệt một cách rõ ràng khái niệm trẻ em, trẻ vị thành niên và Người chưa thành niên. Cụ thể, Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016 quy định: "Trẻ em là người dưới 16 tuổi. Tại Điều 21 Bộ luật dân sự năm 2015 “Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi”. Ở độ tuổi này họ chưa phát triển đầy đủ về nhân cách, về tâm sinh lí, mức độ nhận thức cũng như kinh nghiệm sống của họ còn hạn chế, thiếu những điều kiện về bản lĩnh và tính tự lập, khả năng tự kiềm chế chưa cao nên thường dễ bị kích động, dễ bị lôi kéo vào những hoạt động phiêu lưu, mạo hiểm.
Hiện nay, theo thống kê của Viện Sức khỏe tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai, tại Việt Nam, đã có khoảng 30% dân số có rối loạn tâm thần, trong đó tỉ lệ trầm cảm chiếm 25%. Đặc biệt, số lượng học sinh, sinh viên nói riêng và người trẻ nói chung rơi vào tình trạng 1 Đoàn Thị Ngọc Hải (2019), “Quyền của người chưa thành niên phạm tội theo pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam” [https://moj.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi. 9 trầm cảm chiếm đại đa số. Lứa tuổi học sinh thường gặp những áp lực mang tính đặc trưng cho giai đoạn lứa tuổi đó như học tập, quan hệ bạn bè, tình yêu nam nữ, khẳng định giá trị bản thân hoặc định hướng nghề nghiệp… Đa phần, cá nhân nào khi trải qua giai đoạn tuổi này cũng đều gặp những vấn đề liên quan (có thể tạo áp lực) và có cách giải quyết khác nhau.
Một số em dễ dàng vượt qua, một số em khó vượt qua, thậm chí một số em không thể vượt qua nên dẫn tới những hậu quả đáng tiếc như chúng ta từng chứng kiến2. Đặc biệt hơn, đối với học sinh, nhiều lúc các em lại chưa có kinh nghiệm hoặc chưa được chuẩn bị để vượt qua các áp lực cuộc sống đó, dẫn tới có cách giải quyết không phù hợp, sai hoặc có thể dẫn tới hệ quả tiêu cực. Sự phát triển của học sinh đều có sự đồng hành từ tuổi thơ đến khi trưởng thành của cha mẹ, người lớn. Vậy nên, để có thể tự giải quyết được các bài toán, áp lực của cuộc đời mình, các em một mặt phải tự trang bị và mặt khác cần được người lớn trang bị những kiến thức, năng lực để giải quyết các áp lực.
Nhận thấy rằng, chưa có quy định về rõ thế nào là người dưới 18 tuổi, nhưng thông qua pháp luật hiện tại, ta có thể hiểu rằng: “Người dưới 18 tuổi là định danh chung cho những người có độ tuổi từ dưới 18 tuổi trở xuống đến 0 tuổi”. Phạm nhân là người dưới 18 tuổi Dưới góc độ của pháp luật Tố tụng Hình sự theo Điều 61 BLTTHS 2015 quy định bị cáo là người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử tại phiên tòa, Căn cứ vào quy định này và quy định tại Điều 12 của BLHS về tuổi chịu TNHS, thì bị cáo dưới 18 tuổi là người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi ở thời điểm phạm tội, đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Có thể nhận thấy sự khác biệt trong việc xác định thời điểm tính tuổi của người phạm tội trong lĩnh vực hình sự với cách tính tuổi của bị cáo trong TTHS. Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm về người phạm tội dưới 18 tuổi như sau: Dưới góc độ TTHS, người phạm tội dưới 18 tuổi là người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi khi bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử.