CHẾ ĐỘ GIAM GIỮ PHẠM NHÂN LÀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI: NGHIÊN CỨU SO SÁNH VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM

Nghiên cứu về chế độ giam giữ phạm nhân dưới 18 tuổi tại Việt Nam. So sánh với pháp luật quốc tế và kinh nghiệm từ các quốc gia khác.

Chuyên ngành

Tố tụng hình sự và Thi hành án hình sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Công trình dự thi nghiên cứu khoa học

2022-2023

82
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

BẢNG GIẢI THÍCH TỪ VIẾT TẮT

PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết

1.2. Tình hình nghiên cứu

1.3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

1.3.1. Đối tượng nghiên cứu

1.3.2. Phạm vi nghiên cứu

1.4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

1.4.1. Mục đích nghiên cứu

1.4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

1.5. Phương pháp nghiên cứu

1.6. Kết cấu đề tài

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỘ GIAM GIỮ PHẠM NHÂN LÀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI

1.1. Khái niệm về chế độ giam giữ phạm nhân là người dưới 18 tuổi

1.1.1. Phạm nhân

1.1.2. Người dưới 18 tuổi

2. CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ, PHÁP LUẬT MỘT SỐ QUỐC GIA VÀ PHÁP LUẬT THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ CHẾ ĐỘ GIAM GIỮ PHẠM NHÂN LÀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI

2.1. Pháp luật quốc tế về việc quy định chế độ giam giữ phạm nhân là người dưới 18 tuổi

2.1.1. Công ước của Liên hợp quốc về Quyền trẻ em (1989) (CRC)

2.1.2. Các Quy tắc của Liên hợp quốc về bảo vệ người chưa thành niên bị tước tự do, 1990 (Quy tắc Havana)

2.1.3. Các quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về hoạt động tư pháp đối với người chưa thành niên năm 1985 (Quy tắc Bắc Kinh)

2.1.4. Bình luận chung số 24 (2019) về quyền trẻ em trong hệ thống tư pháp trẻ em

2.1.5. Các quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu về đối xử với tù nhân, 1955

2.2. Pháp luật một số quốc gia trong quy định chế độ giam giữ phạm nhân là người dưới 18 tuổi

2.2.1. Pháp luật nước Áo về chế độ giam giữ phạm nhân là người dưới 18 tuổi

2.2.2. Pháp luật nước Ba Lan về chế độ giam giữ phạm nhân là người dưới 18 tuổi

2.2.3. Pháp luật nước Nhật Bản về chế độ giam giữ phạm nhân là người dưới 18 tuổi

2.3. Pháp luật Thi hành án hình sự Việt Nam quy định chế độ giam giữ phạm nhân là người dưới 18 tuổi

2.4. Quy định về chế độ giam giữ phạm nhân là người dưới 18 của pháp luật Việt Nam với Pháp luật quốc tế và pháp luật một số nước trên thế giới

2.4.1. So sánh với các chuẩn mực quốc tế

2.4.2. Đánh giá so sánh với pháp luật của các nước

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỘ GIAM GIỮ PHẠM NHÂN LÀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI

3.1. Thực trạng áp dụng thi hành giam giữ phạm nhân là người dưới 18 tuổi

3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật Hình sự về vấn đề thi hành giam giữ phạm nhân là người dưới 18 tuổi

3.2.1. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam về chế độ giam giữ phạm nhân là người dưới 18 tuổi

3.2.2. Một số kiến nghị khác

PHẦN KẾT LUẬN CHUNG

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Chế Độ Giam Giữ Phạm Nhân Dưới 18 Tuổi 55

Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên phê chuẩn Công ước của Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em. Việc bảo vệ trẻ em, đặc biệt là phạm nhân dưới 18 tuổi, luôn được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm. Các biện pháp xử lý hình sự, bao gồm chế độ giam giữ, cần được thực hiện một cách nhân văn, phù hợp với lứa tuổi và đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các em. Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích, đánh giá chế độ giam giữ hiện hành, so sánh với các tiêu chuẩn quốc tế và kinh nghiệm của các quốc gia khác, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam. Tình trạng xâm phạm trẻ em gia tăng, đòi hỏi cần tăng cường phòng ngừa, ngăn chặn, đặc biệt với đối tượng vị thành niên phạm tội. Pháp luật hiện hành quy định các chế độ giam giữ khác nhau đối với các đối tượng phạm tội khác nhau như phụ nữ có thai, phụ nữ nuôi con nhỏ và người dưới 18 tuổi. Biện pháp giam giữ thể hiện sự kế thừa, bổ sung và phát triển qua nhiều giai đoạn lịch sử.

1.1. Khái niệm Phạm nhân dưới 18 tuổi và tầm quan trọng 58

Để hiểu rõ về chế độ giam giữ, cần định nghĩa rõ khái niệm phạm nhân dưới 18 tuổi. Phạm nhân là người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn hoặc tù chung thân. Người dưới 18 tuổi được coi là trẻ em theo Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em. Việc xác định rõ các khái niệm này là cơ sở để xây dựng các quy định pháp luật phù hợp, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của phạm nhân vị thành niên. Bảo vệ trẻ em là trách nhiệm của Nhà nước, gia đình và xã hội, đặc biệt khi các em vướng vào vòng lao lý.

1.2. Lịch sử phát triển pháp luật về giam giữ phạm nhân dưới 18 59

Pháp luật về chế độ giam giữ phạm nhân dưới 18 tuổi ở Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển. Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, các quy định pháp luật đã dần được hoàn thiện, bổ sung để phù hợp với tình hình thực tế và các tiêu chuẩn quốc tế. Nghiên cứu lịch sử phát triển giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những thành tựu và hạn chế của pháp luật hiện hành, từ đó đưa ra những đề xuất cải cách phù hợp. Các văn bản pháp luật đã dần nội luật hóa các quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em, tạo hành lang pháp lý để bảo vệ quyền trẻ em, đặc biệt là trong lĩnh vực tư pháp hình sự.

II. Thách Thức Bất Cập Trong Giam Giữ Phạm Nhân Dưới 18 59

Mặc dù đã có nhiều tiến bộ, chế độ giam giữ phạm nhân dưới 18 tuổi ở Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều bất cập. Các quy định pháp luật còn chồng chéo, chưa hoàn chỉnh, gây khó khăn cho các cơ quan thi hành án. Một số cán bộ còn chủ quan, chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, ảnh hưởng đến quyền lợi của người bị giam giữ. Ngoài ra, nguồn lực dành cho việc cải tạo, giáo dục phạm nhân vị thành niên còn hạn chế. Để công tác đấu tranh phòng chống tội phạm đạt hiệu quả, cần giải quyết triệt để những thách thức này. Vẫn còn tồn tại hạn chế về căn cứ, trình tự thủ tục, thẩm quyền hay chế độ đối với người bị giam giữ là người dưới 18 tuổi.

2.1. Thực trạng quản lý giam giữ và thiếu hụt cơ sở vật chất 57

Thực tế cho thấy, điều kiện giam giữ tại một số trại giam chưa đáp ứng được yêu cầu về tiêu chuẩn quốc tế. Cơ sở vật chất còn thiếu thốn, trang thiết bị lạc hậu, ảnh hưởng đến sinh hoạt, học tập và cải tạo của phạm nhân. Bên cạnh đó, số lượng cán bộ quản lý còn hạn chế, chưa đủ năng lực chuyên môn để xử lý các tình huống phát sinh. Việc đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất và nâng cao năng lực cho cán bộ là rất cần thiết để cải thiện chế độ giam giữ.

2.2. Thiếu hụt chương trình giáo dục tâm lý đặc thù 58

Chương trình giáo dục, cải tạo cho phạm nhân vị thành niên còn thiếu tính đặc thù, chưa phù hợp với tâm lý lứa tuổi. Việc thiếu các hoạt động tư vấn tâm lý, phục hồi chức năng khiến cho các em khó khăn trong việc nhận thức sai lầm, thay đổi hành vi và tái hòa nhập cộng đồng. Cần xây dựng các chương trình giáo dục mang tính nhân văn, sáng tạo, phù hợp với từng đối tượng, đồng thời tăng cường các hoạt động tư vấn tâm lý để giúp các em vượt qua khó khăn.

2.3. Quy định pháp luật chồng chéo và khó khăn trong thi hành 59

Hệ thống pháp luật liên quan đến chế độ giam giữ phạm nhân dưới 18 tuổi còn nhiều quy định chồng chéo, mâu thuẫn, gây khó khăn cho các cơ quan thi hành án trong quá trình áp dụng. Việc giải thích, áp dụng pháp luật không thống nhất cũng dẫn đến những sai sót, ảnh hưởng đến quyền lợi của người bị giam giữ. Cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật để đảm bảo tính đồng bộ, minh bạch và dễ thực hiện.

III. Nghiên Cứu So Sánh Mô Hình Giam Giữ Hiệu Quả Trên Thế Giới 59

Để tìm ra giải pháp tối ưu cho Việt Nam, cần nghiên cứu kinh nghiệm của các quốc gia có chế độ giam giữ phạm nhân dưới 18 tuổi hiệu quả. Nghiên cứu này tập trung vào việc so sánh pháp luật và thực tiễn của một số nước như Áo, Ba Lan, Nhật Bản với Việt Nam. Qua đó, rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu, có thể áp dụng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Các quốc gia trên thế giới đã có nhiều kinh nghiệm tốt trong việc xây dựng các cơ sở giáo dục, chương trình cải tạo phù hợp với lứa tuổi vị thành niên.

3.1. Kinh nghiệm giam giữ phạm nhân dưới 18 tuổi của Áo 59

Pháp luật Áo đặc biệt chú trọng đến việc bảo vệ quyền lợi của phạm nhân dưới 18 tuổi. Chế độ giam giữ được thiết kế phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, tập trung vào giáo dục, cải tạo và tái hòa nhập cộng đồng. Các em được tạo điều kiện học tập, vui chơi giải trí, đồng thời được tư vấn tâm lý và hỗ trợ pháp lý. Việc nghiên cứu kinh nghiệm của Áo giúp Việt Nam có thêm cơ sở để hoàn thiện pháp luật.

3.2. Tìm hiểu mô hình cải tạo phạm nhân vị thành niên ở Ba Lan 59

Ba Lan có hệ thống cải tạo phạm nhân vị thành niên khá hiệu quả, dựa trên sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Các em được tham gia vào các hoạt động lao động sản xuất, rèn luyện kỹ năng sống và phát triển nhân cách. Nhà nước có chính sách hỗ trợ đặc biệt cho các em sau khi mãn hạn tù, giúp các em tái hòa nhập cộng đồng thành công. Nghiên cứu kinh nghiệm của Ba Lan giúp Việt Nam có thêm gợi ý trong việc xây dựng các chương trình tái hòa nhập cộng đồng.

3.3. Phân tích chế độ giáo dục đặc biệt tại Nhật Bản 59

Nhật Bản có chế độ giáo dục đặc biệt dành cho phạm nhân vị thành niên, tập trung vào việc bồi dưỡng kiến thức văn hóa, đạo đức và kỹ năng nghề. Các em được học tập trong môi trường thân thiện, được khuyến khích phát huy khả năng sáng tạo. Nhà nước có chính sách hỗ trợ việc làm cho các em sau khi ra tù, giúp các em có cuộc sống ổn định. Nghiên cứu kinh nghiệm của Nhật Bản giúp Việt Nam có thêm kinh nghiệm trong việc xây dựng các chương trình giáo dục nghề.

IV. Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Giam Giữ Phù Hợp VN 60

Trên cơ sở phân tích thực trạng và kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu này đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về chế độ giam giữ phạm nhân dưới 18 tuổi. Các giải pháp tập trung vào việc sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật còn chồng chéo, xây dựng các chương trình giáo dục, cải tạo phù hợp với tâm lý lứa tuổi, tăng cường nguồn lực cho việc thi hành án hình sự và nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và gia đình để thực hiện các giải pháp này một cách hiệu quả.

4.1. Rà soát sửa đổi luật thi hành án hình sự liên quan 59

Cần rà soát, sửa đổi các quy định của Luật Thi hành án hình sự liên quan đến chế độ giam giữ phạm nhân dưới 18 tuổi, đảm bảo tính đồng bộ, minh bạch và phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế. Các quy định cần cụ thể hóa quyền và nghĩa vụ của người bị giam giữ, quy trình, thủ tục thi hành án và trách nhiệm của các cơ quan liên quan.

4.2. Xây dựng chương trình giáo dục và tái hòa nhập đặc thù 60

Cần xây dựng các chương trình giáo dục, cải tạotái hòa nhập cộng đồng mang tính đặc thù, phù hợp với tâm lý lứa tuổi và nhu cầu của phạm nhân vị thành niên. Các chương trình cần tập trung vào việc bồi dưỡng kiến thức văn hóa, đạo đức, kỹ năng sống và nghề nghiệp. Cần có sự tham gia của các chuyên gia tâm lý, giáo dục và xã hội trong quá trình xây dựng và triển khai các chương trình.

4.3. Tăng cường nguồn lực và nâng cao năng lực cán bộ 60

Cần tăng cường nguồn lực cho việc thi hành án hình sự, bao gồm cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân lực. Cần nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý thông qua các khóa đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ. Cần có chế độ đãi ngộ phù hợp để thu hút và giữ chân những cán bộ giỏi, tâm huyết với công việc.

V. Kết Luận Tầm Quan Trọng Của Giam Giữ Nhân Văn 60

Chế độ giam giữ phạm nhân dưới 18 tuổi có vai trò quan trọng trong công tác phòng chống tội phạm và bảo vệ quyền trẻ em. Việc xây dựng một chế độ giam giữ nhân văn, phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế là trách nhiệm của Nhà nước, gia đình và xã hội. Nghiên cứu này hy vọng sẽ góp phần vào quá trình hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề này, tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của thế hệ trẻ. Vì lợi ích trăm năm trồng người

5.1. Tái khẳng định mục tiêu giáo dục cải tạo phạm nhân vị thành niên 58

Mục tiêu cao nhất của chế độ giam giữgiáo dục, cải tạo phạm nhân vị thành niên, giúp các em nhận thức được sai lầm, thay đổi hành vi và trở thành người có ích cho xã hội. Mọi biện pháp thi hành án cần hướng đến mục tiêu này, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người bị giam giữ và tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của các em.

5.2. Hướng đến hệ thống tư pháp thân thiện với trẻ em 60

Cần xây dựng một hệ thống tư pháp thân thiện với trẻ em, đảm bảo quyền được bảo vệ, được lắng nghe và được tham gia vào quá trình giải quyết các vấn đề liên quan đến các em. Các cơ quan tư pháp cần có sự phối hợp chặt chẽ với các tổ chức xã hội và gia đình để hỗ trợ trẻ em trong quá trình thi hành ántái hòa nhập cộng đồng.

27/04/2025
Chế độ giam giữ phạm nhân là người dưới 18 tuổi nghiên cứu so sánh và kinh nghiệm cho việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỘ GIAM GIỮ PHẠM NHÂN LÀ NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI. Thời gian qua, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm nội luật hóa quy định của Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em và tạo hành lang pháp lý xử lí những hành vi xâm hại đến quyền trẻ em. Để quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng được bảo đảm một cách tốt nhất thì chúng ta cần quan tâm toàn diện, bao quát mọi lĩnh vực có liên quan đến đối tượng họ.

Đặc biệt khi người dưới 18 tuổi tham gia vào tư pháp hình sự người chưa thành niên với tư cách phạm nhân, họ phải tiếp xúc trực tiếp với các cơ quan quyền lực nhà nước và những quy định pháp luật cụ thể. Khi đó, họ là người yếu thế, cần có những quy định cụ thể tạo hành lang pháp lý để đảm bảo những quyền lợi tối thiểu của phạm nhân là người dưới 18 tuổi một cách tối đa trong quá trình chấp hành án tại cơ sở giam giữ 1. Khái niệm về chế độ giam giữ phạm nhân là người dưới 18 tuổi. Phạm nhân Phạt tù là tước quyền tự do của người bị kết án, buộc họ phải cách ly khỏi xã hội trong một thời gian nhất định (tù có thời hạn) hoặc không có thời hạn (tù chung thân).

Tù có thời hạn là hình phạt buộc người bị kết án phải bị giam trong thời gian từ ba tháng đến hai mươi năm. Tòa án chỉ được tuyên hình phạt tù trong giới hạn tối thiểu và tối đa mà điều luật về tội phạm quy định. Nhưng khi xét thấy có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất mà điều luật đã quy định hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Tù chung thân là hình phạt không thời hạn được áp dụng đối với người phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng nhưng chưa đến mức bị xử phạt tử hình.

Tù chung thân không áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội. Về nguyên tắc, tù chung thân là tù suốt đời, nhưng theo Điều 49 - Bộ luật hình sự nếu người bị kết án tù chung thân, trong quá trình thụ hình đã chứng tỏ được quyết tâm cải tạo thì có thể được xét để giảm thời hạn chấp hành án và có thể được giảm nhiều lần, lần đầu được giảm xuống 20 năm tù và dù được giảm nhiều lần cũng phải đảm bảo thời gian thực sự chấp hành hình phạt là 15 năm. 7 Thuật ngữ phạm nhân lần đầu xuất hiện ở Luật Thi hành án hình sự 2010, Luật Thi hành án hình sự 2019 đã kế thừa quy định về phạm nhân cụ thể, phạm nhân là người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, tù chung thân. Thi hành án hình sự là việc đưa quyết định, bản án đã có hiệu lực của tòa án vào áp dụng trên thực tế thông qua các hoạt động của các cơ quan thực thi pháp luật và các cá nhân , tổ chức có liên quan, còn thi hành án phạt tù là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền buộc người bị kết án hình phạt tù chấp hành theo quyết định của bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực.

Người chấp hành hình phạt tù là người chấp hành án phạt tù có thời hạn hoặc là phạt tù chung thân hay còn có một tên gọi khác là phạm nhân. Theo đó, phạm nhân là: “Phạm nhân là người đã bị Tòa án tuyên án có tội phải chịu hình phạt tù và đang chấp hành bản án đó” 1. Người dưới 18 tuổi Theo các giai đoạn phát triển và theo lứa tuổi của con người được hiểu dưới góc độ thuật ngữ pháp lý thì chia thành người chưa thành niên (trong đó có trẻ em) và người đã thành niên. Người thành niên có thể hiểu là người thuộc về lứa tuổi trưởng thành cả về thể chất và tinh thần, về tâm lý lẫn sinh lý.

Theo từ điển tiếng Việt khái niệm người chưa thành niên là: “Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần cũng như chưa có đầy đủ quyền và nghĩa vụ công dân”. Công ước về quyền trẻ em (được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 20-11- 1989); Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về áp dụng pháp luật với trẻ em (gọi là Quy tắc Bắc Kinh ngày 29-11-1985); Hướng dẫn của Liên hợp quốc về phòng ngừa phạm pháp ở trẻ em (Hướng dẫn Ri-át ngày 14-12-1990). thì trẻ em được xác định là người dưới 18 tuổi. Còn các văn kiện của một số tổ chức thuộc Liên hợp quốc như: Quỹ dân số thế giới (UNFPA).

Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) quy định trẻ em là người dưới 15 tuổi Như vậy, theo pháp luật quốc tế người dưới 18 tuổi được coi là trẻ em. Pháp luật ở mỗi quốc gia quy định độ tuổi cụ thể của người chưa thành niên. Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ em được Đại hội đồng Liên Hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989 có ghi: “Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm hơn”. Bên cạnh đó, các văn bản pháp luật quốc tế liên quan đến người chưa thành niên như: Công ước về Quyền trẻ em (United Nations Convention on the Rights of the Child) được 8 Đại hội đồng Liên Hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989; Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về áp dụng pháp luật với người chưa thành niên (United Nations Standard Minimum Rules for the Administration of Juvenile Justice /Beijing Rules) ngày 29/11/1985; Hướng dẫn của Liên Hợp quốc về phòng ngừa phạm pháp ở người chưa thành niên (United Nations Guidelines for the Prevention of Juvenile delinquency/ Riyadh Guidelines) ngày 14/12/1990.

Theo quan niệm quốc tế thì trẻ em (Child) là người dưới 18 tuổi, người chưa thành niên (Juvenile) là người từ 15 đến 18 tuổi, thanh niên (Youth) là người từ 15 đến 24 tuổi, người trẻ tuổi (Young persons) bao gồm trẻ em, người chưa thành niên và thanh niên1. Nhận thấy rằng cụm từ “người chưa thành niên” là để phân biệt với cụm từ “người thành niên”; cụm từ “người lớn” phân biệt với “trẻ em”, “người dưới 18 tuổi” phân biệt với “người trên 18 tuổi”. Như vậy, để phân biệt người chưa thành niên và người thành niên cần lấy một ranh giới độ tuổi để xác định và độ tuổi đó là 18 tuổi. “Người dưới 18 tuổi” xuất hiện lần đầu tiên tại Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 với vai trò thay thế cho “Người chưa thành niên phạm tội” của Bộ luật hình sự năm 1985 và Bộ luật hình sự năm 1999.Theo quy định tại Điều 21 của Bộ luật dân sự 2015, người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám.

Pháp luật Việt Nam quy định chưa có sự thống nhất với nhau một cách cụ thể để xác định lứa tuổi nào là trẻ em, lứa tuổi nào là người chưa thành niên, cũng như phân biệt một cách rõ ràng khái niệm trẻ em, trẻ vị thành niên và Người chưa thành niên. Cụ thể, Điều 1 Luật Trẻ em năm 2016 quy định: "Trẻ em là người dưới 16 tuổi. Tại Điều 21 Bộ luật dân sự năm 2015 “Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi”. Ở độ tuổi này họ chưa phát triển đầy đủ về nhân cách, về tâm sinh lí, mức độ nhận thức cũng như kinh nghiệm sống của họ còn hạn chế, thiếu những điều kiện về bản lĩnh và tính tự lập, khả năng tự kiềm chế chưa cao nên thường dễ bị kích động, dễ bị lôi kéo vào những hoạt động phiêu lưu, mạo hiểm.

Hiện nay, theo thống kê của Viện Sức khỏe tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai, tại Việt Nam, đã có khoảng 30% dân số có rối loạn tâm thần, trong đó tỉ lệ trầm cảm chiếm 25%. Đặc biệt, số lượng học sinh, sinh viên nói riêng và người trẻ nói chung rơi vào tình trạng 1 Đoàn Thị Ngọc Hải (2019), “Quyền của người chưa thành niên phạm tội theo pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam” [https://moj.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi. 9 trầm cảm chiếm đại đa số. Lứa tuổi học sinh thường gặp những áp lực mang tính đặc trưng cho giai đoạn lứa tuổi đó như học tập, quan hệ bạn bè, tình yêu nam nữ, khẳng định giá trị bản thân hoặc định hướng nghề nghiệp… Đa phần, cá nhân nào khi trải qua giai đoạn tuổi này cũng đều gặp những vấn đề liên quan (có thể tạo áp lực) và có cách giải quyết khác nhau.

Một số em dễ dàng vượt qua, một số em khó vượt qua, thậm chí một số em không thể vượt qua nên dẫn tới những hậu quả đáng tiếc như chúng ta từng chứng kiến2. Đặc biệt hơn, đối với học sinh, nhiều lúc các em lại chưa có kinh nghiệm hoặc chưa được chuẩn bị để vượt qua các áp lực cuộc sống đó, dẫn tới có cách giải quyết không phù hợp, sai hoặc có thể dẫn tới hệ quả tiêu cực. Sự phát triển của học sinh đều có sự đồng hành từ tuổi thơ đến khi trưởng thành của cha mẹ, người lớn. Vậy nên, để có thể tự giải quyết được các bài toán, áp lực của cuộc đời mình, các em một mặt phải tự trang bị và mặt khác cần được người lớn trang bị những kiến thức, năng lực để giải quyết các áp lực.

Nhận thấy rằng, chưa có quy định về rõ thế nào là người dưới 18 tuổi, nhưng thông qua pháp luật hiện tại, ta có thể hiểu rằng: “Người dưới 18 tuổi là định danh chung cho những người có độ tuổi từ dưới 18 tuổi trở xuống đến 0 tuổi”. Phạm nhân là người dưới 18 tuổi Dưới góc độ của pháp luật Tố tụng Hình sự theo Điều 61 BLTTHS 2015 quy định bị cáo là người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử tại phiên tòa, Căn cứ vào quy định này và quy định tại Điều 12 của BLHS về tuổi chịu TNHS, thì bị cáo dưới 18 tuổi là người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi ở thời điểm phạm tội, đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Có thể nhận thấy sự khác biệt trong việc xác định thời điểm tính tuổi của người phạm tội trong lĩnh vực hình sự với cách tính tuổi của bị cáo trong TTHS. Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm về người phạm tội dưới 18 tuổi như sau: Dưới góc độ TTHS, người phạm tội dưới 18 tuổi là người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi khi bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ