Luận văn chế định thời hiệu pháp luật hình sự - Nguyễn Thị Thanh Hoa

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu chế định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và thời hiệu thi hành bản án theo Bộ luật hình sự Việt Nam 1999.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2009

75
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Chế định thời hiệu theo pháp luật hình sự Việt Nam là gì

Chế định thời hiệu theo pháp luật hình sự Việt Nam là một quy phạm pháp lý quan trọng, xác định thời hạn mà sau đó cơ quan có thẩm quyền không còn quyền truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc thi hành bản án kết tội đối với người phạm tội. Theo Điều 27 và Điều 30 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), chế định này bao gồm hai nội dung chính: thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sựthời hiệu thi hành án hình sự. Mục đích của chế định này là bảo đảm tính ổn định trong quan hệ pháp luật, tránh kéo dài tình trạng bất an cho người bị nghi ngờ phạm tội, đồng thời thúc đẩy hiệu quả hoạt động của các cơ quan tư pháp. Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thanh Hoa (2009) nhấn mạnh rằng việc áp dụng đúng đắn chế định thời hiệu sẽ nâng cao niềm tin của nhân dân vào công lý và sức mạnh của pháp luật. Trong bối cảnh cải cách tư pháp hiện nay, hiểu rõ và vận dụng chính xác chế định này là yêu cầu thiết yếu đối với cả cán bộ tư pháp và công dân.

1.1. Khái niệm và căn cứ pháp lý của chế định thời hiệu

Chế định thời hiệu được quy định rõ trong Bộ luật Hình sự năm 2015, cụ thể tại Điều 27 (thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự) và Điều 30 (thời hiệu thi hành án). Thời hiệu bắt đầu tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu trong thời hạn này, người phạm tội cố tình trốn tránh hoặc có hành vi cản trở điều tra, thời gian trốn tránh không tính vào thời hiệu. Căn cứ pháp lý này kế thừa và phát triển từ Bộ luật Hình sự 1999, nhằm đáp ứng yêu cầu của pháp chế hình sự hiện đại.

1.2. Phân loại chế định thời hiệu trong luật hình sự

Chế định thời hiệu chia thành hai loại: (1) Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự – thời hạn để khởi tố vụ án; (2) Thời hiệu thi hành án hình sự – thời hạn để thi hành bản án đã có hiệu lực pháp luật. Mỗi loại có thời hạn khác nhau tùy theo mức độ nghiêm trọng của tội phạm, từ 5 năm đến 30 năm hoặc không có thời hiệu đối với tội đặc biệt nghiêm trọng như phản quốc, khủng bố.

II. Những thách thức khi áp dụng chế định thời hiệu trong thực tiễn

Mặc dù chế định thời hiệu được quy định rõ ràng trong Bộ luật Hình sự, việc áp dụng trên thực tế vẫn gặp nhiều khó khăn. Một trong những vấn đề nổi bật là xác định thời điểm bắt đầu tính thời hiệu, đặc biệt trong các vụ án có tính chất phức tạp, liên quan đến nhiều bị can hoặc kéo dài qua nhiều giai đoạn. Ngoài ra, hành vi trốn tránh của người phạm tội thường gây tranh cãi về việc có làm gián đoạn thời hiệu hay không. Theo nghiên cứu của TS. Trần Quang Tiệp (2006), nhiều vụ án hình sự bị đình chỉ oan do áp dụng sai thời hiệu, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của cả người bị hại và người bị buộc tội. Bên cạnh đó, sự thiếu thống nhất trong nhận thức giữa các cơ quan tiến hành tố tụng cũng dẫn đến bất cập trong thực tiễn thi hành pháp luật. Việc thiếu hướng dẫn cụ thể từ Tòa án nhân dân tối cao càng làm cho vấn đề này trở nên nan giải hơn trong bối cảnh cải cách tư pháp đang diễn ra mạnh mẽ.

2.1. Vướng mắc trong xác định thời điểm tính thời hiệu

Thời hiệu truy cứu bắt đầu tính từ ngày tội phạm được thực hiện, nhưng với tội phạm tiếp diễn hoặc liên tục, thời điểm này không dễ xác định. Nhiều vụ án kinh tế, tham nhũng kéo dài hàng chục năm khiến việc xác định mốc thời gian trở nên phức tạp. Thực tiễn xét xử cho thấy, có trường hợp cơ quan điều tra và viện kiểm sát không thống nhất quan điểm, dẫn đến đình chỉ vụ án không đúng pháp luật.

2.2. Tranh chấp về hành vi trốn tránh và gián đoạn thời hiệu

Theo Điều 27 BLHS 2015, nếu người phạm tội cố tình trốn tránh, thời gian trốn không tính vào thời hiệu. Tuy nhiên, “trốn tránh” chưa được giải thích rõ trong văn bản hướng dẫn. Có trường hợp người phạm tội đi làm ăn xa, không biết mình bị khởi tố, lại bị coi là trốn tránh. Điều này gây thiệt hại cho quyền con người và làm giảm niềm tin vào công lý.

III. Cách xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự chuẩn xác

Việc xác định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đòi hỏi sự kết hợp giữa kiến thức pháp lý và kỹ năng phân tích tình tiết vụ án. Trước tiên, cần xác định loại tội phạm theo khung hình phạt tương ứng: tội ít nghiêm trọng (thời hiệu 5 năm), tội nghiêm trọng (10 năm), tội rất nghiêm trọng (15 năm), và tội đặc biệt nghiêm trọng (20 năm). Tuy nhiên, với các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội chiến tranh, không áp dụng thời hiệu. Tiếp theo, phải xem xét có yếu tố gián đoạn thời hiệu hay không – tức là người phạm tội có hành vi trốn tránh hay không. Cuối cùng, cần kiểm tra xem trong thời hạn đó, cơ quan có thẩm quyền đã khởi tố vụ án hay chưa. Nếu đã khởi tố trước khi hết thời hiệu, thì việc truy cứu vẫn hợp pháp. Đây là nguyên tắc then chốt giúp đảm bảo công bằng pháp lý và tránh lạm dụng chế định thời hiệu để trốn tránh trách nhiệm.

3.1. Phân loại tội phạm để áp dụng thời hiệu phù hợp

Căn cứ theo Điều 9 BLHS 2015, mức độ nghiêm trọng của tội phạm quyết định thời hạn thời hiệu. Ví dụ, tội trộm cắp tài sản dưới 2 triệu đồng (ít nghiêm trọng) có thời hiệu 5 năm, trong khi tội giết người có tổ chức (đặc biệt nghiêm trọng) có thời hiệu 20 năm hoặc không có thời hiệu nếu thuộc diện đặc biệt nguy hiểm.

3.2. Các trường hợp làm gián đoạn thời hiệu truy cứu

Thời hiệu bị gián đoạn khi người phạm tội bỏ trốn sau khi biết mình bị khởi tố, hoặc có hành vi che giấu tội phạm. Khi đó, thời gian trốn tránh không tính vào thời hiệu. Sau khi người phạm tội ra đầu thú hoặc bị bắt, thời hiệu được tính lại từ thời điểm đó. Tuy nhiên, cần có chứng cứ rõ ràng để chứng minh ý định trốn tránh.

IV. Phương pháp áp dụng thời hiệu thi hành án hình sự hiệu quả

Thời hiệu thi hành án hình sự là thời hạn mà sau đó, cơ quan thi hành án không còn quyền cưỡng chế người bị kết án phải chấp hành hình phạt. Theo Điều 30 BLHS 2015, thời hiệu này dao động từ 5 đến 20 năm tùy theo mức hình phạt. Tuy nhiên, nếu người bị kết án cố tình trốn tránh thi hành án, thời gian trốn không tính vào thời hiệu. Một vấn đề thực tiễn là nhiều bản án hình sự không được thi hành do người bị kết án bỏ trốn lâu năm, trong khi cơ quan thi hành án thiếu công cụ truy tìm. Để nâng cao hiệu quả, cần tăng cường phối hợp giữa cơ quan thi hành án, công an và chính quyền địa phương. Đồng thời, nên xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về người bị kết án chưa thi hành án để theo dõi liên tục. Nghiên cứu của Trịnh Tiến Việt (2003) cho thấy, việc thiếu cơ chế giám sát sau xét xử là nguyên nhân chính khiến thời hiệu thi hành án trở thành “lỗ hổng” trong thực thi công lý.

4.1. Thời hạn thi hành án theo loại hình phạt

Thời hiệu thi hành án phụ thuộc vào hình phạt chính được tuyên: phạt cảnh cáo (5 năm), cải tạo không giam giữ (5 năm), tù có thời hạn (10–15 năm), tù chung thân hoặc tử hình (20 năm). Tuy nhiên, nếu người bị kết án trốn tránh, thời hiệu tạm dừng và chỉ tiếp tục khi họ ra trình diện hoặc bị bắt.

4.2. Giải pháp nâng cao hiệu lực thi hành án

Cần số hóa hồ sơ thi hành án, kết nối dữ liệu giữa tòa án, viện kiểm sát và cơ quan thi hành án. Đồng thời, nên sửa đổi luật để cho phép kéo dài thời hiệu trong trường hợp đặc biệt, hoặc áp dụng biện pháp phong tỏa tài sản ngay sau khi bản án có hiệu lực, nhằm ngăn người bị kết án tẩu tán tài sản.

V. Ứng dụng thực tiễn và bài học từ các vụ án điển hình

Thực tiễn xét xử tại Việt Nam đã ghi nhận nhiều vụ án mà chế định thời hiệu đóng vai trò then chốt trong việc đình chỉ hoặc tiếp tục truy tố. Một ví dụ điển hình là vụ án tham nhũng kéo dài từ năm 2005 đến 2018, trong đó bị can trốn sang nước ngoài từ năm 2007. Đến năm 2020, khi bị dẫn độ về, cơ quan điều tra khẳng định thời hiệu chưa hết do thời gian trốn không tính. Ngược lại, có vụ án kinh tế năm 2002 chỉ bị phát hiện năm 2015, và do không có hành vi trốn tránh, thời hiệu đã hết, dẫn đến đình chỉ. Những trường hợp này cho thấy tầm quan trọng của việc ghi nhận đầy đủ hành vi trốn tránh trong hồ sơ điều tra. Theo luận văn của Nguyễn Thị Thanh Hoa (2009), các cơ quan tố tụng cần xây dựng quy trình chuẩn để đánh giá yếu tố trốn tránh, tránh chủ quan. Đồng thời, cần tăng cường đào tạo cho cán bộ điều tra, kiểm sát và thẩm phán về áp dụng chế định thời hiệu một cách thống nhất và chính xác.

5.1. Phân tích vụ án tham nhũng có yếu tố trốn tránh

Vụ án xảy ra tại một doanh nghiệp nhà nước, bị can bỏ trốn sang Lào từ năm 2008. Năm 2019, bị dẫn độ về. Cơ quan điều tra chứng minh được hành vi trốn tránh liên tục, nên thời hiệu truy cứu (15 năm cho tội rất nghiêm trọng) được kéo dài. Vụ án tiếp tục được xử lý, thể hiện hiệu lực của pháp luật ngay cả sau nhiều năm.

5.2. Bài học từ vụ án kinh tế bị đình chỉ do hết thời hiệu

Một vụ chiếm đoạt tài sản xảy ra năm 2004, chỉ bị phát hiện năm 2016. Do bị can không trốn tránh và sống công khai, thời hiệu 10 năm cho tội nghiêm trọng đã hết. Viện kiểm sát buộc phải đình chỉ. Vụ việc cho thấy cần phát hiện và xử lý kịp thời để tránh mất cơ hội truy cứu.

VI. Hướng hoàn thiện chế định thời hiệu trong luật hình sự Việt Nam

Để chế định thời hiệu phát huy tối đa hiệu lực, cần có những điều chỉnh mang tính hệ thống. Trước hết, nên bổ sung hướng dẫn chi tiết từ Hội đồng Thẩm phán TANDTC về khái niệm “trốn tránh”, “tội phạm tiếp diễn”, và “thời điểm thực hiện tội phạm”. Thứ hai, cần xem xét mở rộng phạm vi không áp dụng thời hiệu đối với các tội tham nhũng, buôn người, và tội phạm công nghệ cao – những loại tội phạm có xu hướng kéo dài và tinh vi. Thứ ba, nên tích hợp cơ chế giám sát sau xét xử vào hệ thống thi hành án, đảm bảo người bị kết án không thể lợi dụng thời hiệu để trốn tránh. Cuối cùng, cần nâng cao năng lực cán bộ tư pháp thông qua đào tạo chuyên sâu về thời hiệu, dựa trên các nghiên cứu học thuật như luận văn của Nguyễn Thị Thanh Hoa và các công trình của TS. Trần Quang Tiệp. Việc hoàn thiện này không chỉ đáp ứng yêu cầu pháp quyền hiện đại, mà còn góp phần xây dựng niềm tin xã hội vào công lý.

6.1. Đề xuất sửa đổi luật và hướng dẫn áp dụng

Nên ban hành Nghị quyết hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán về thời hiệu, làm rõ các khái niệm mơ hồ. Đồng thời, sửa đổi BLHS để rút ngắn thời hiệu với tội ít nghiêm trọng, nhưng kéo dài hoặc loại bỏ với tội phạm xuyên quốc gia, tham nhũng, và xâm hại trẻ em.

6.2. Tăng cường đào tạo và phối hợp liên ngành

Các học viện tư pháp cần đưa chuyên đề thời hiệu vào chương trình đào tạo. Cơ quan điều tra, viện kiểm sát và tòa án nên tổ chức hội nghị chuyên đề định kỳ để thống nhất cách hiểu và áp dụng, tránh mâu thuẫn trong thực tiễn xử lý vụ án.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Luận văn những vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định thời hiệu theo pháp luật hình sư việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Một số vẫn đề lý luận cơ bản về chế định thời hiệu trong luật | 12 hình sự Việt Nam. Sơ lược lịch sử xuất hiện chế định thời hiệu trong luật hình sự Việt 12 Ram 1. Khái niêm, bản chất pháp lý và các đặc điểm cơ bản của chế định 14 thời hiệu trong luật hình sự Việt Nam 1.

Bản chất pháp lý của hai phạm trủ “hết thời hiệu truy cứu trách 17 nhiệm hình sự” và "hết thời hiệu thi hành bán ản kết tội” Chương 2. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và thời hiệu thị hành | 27 ban án kết tôi trong luật hình sự Việt Nam 2.1-Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự trang luật hình sự Việt Nam. Thời hiều thi hành ban án kết tôi trong luật hình sự Việt Nam. Phân biệt thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự vả thời hiệu thi 96 hành bản án kết tôi trong luật hình sự Việt Nam Chương 3.

Hoàn thiện chế định thời hiệu trong Bộ luật hình sự Việt 100 Nam nim 1999 3. Nhận xét chung về chế định thời hiệu trong Bộ luật hình sự Việt 100 am năm 1999 dưởi góc độ so sánh với Bộ luật hình sự Việt Nam năm ngành Toà án rất coi trọng và quan Lâm đến vấn đề. áp dụng hiệu quả chế đỉnh thởi hiệu được ghi nhận tại bến điều luật trong Bộ luật hình sự năm 1999. Đây cũng chính là yêu cầu đặt ra cho chúng ta cần phải nghiên cứu một cách nghiém tic và sâu sắc chế định thời hiệu (bao pồm hai chế định nhỏ thuộc nd là chế định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và chế định thời hiệu thi hành bản án kết tội) Việc áp dụng đúng đắn và hiệu quả các quy phạm của chế định thời hiệu trong Độ luật hình sự năm 1999 vào thực tiễn sẽ mang lại những lợi ích thiết thân cho Nhà nước, cho mỗi céng din và cho toàn xã hội.

Tối với Nhà nước, mả trực tiếp là các cơ quan Lư pháp hình sự có thâm quyền sẽ nâng cao uy tin của mình trước nhân dân, làm cho nhân dân tin vào tỉnh công mình và. sức mạnh của pháp luật, qua đó khuyến khích người dân tham gia tích cực vào công cuộc dấu tranh phỏng chẳng tội phạm. Đổi với mỗi công dân, mỗi khi gặp chuyện “bắt bình” sẽ an tâm về hiệu quả hoạt động của các co quan tw pháp hình sự có thẩm quyền mà loàn tâm loàn ý hỗ trợ, cùng với các cơ quan. tư pháp nảy giải quyết thấu đáo, triệt để vấn đề.

Còn đối với toàn xã hội sẽ có được một pháp chế vững mạnh và chắc chắn - đó chính là nén tang cơ bản để chúng L¿ xây dựng thành công một Nhà nước Pháp qui on. Tình hình nghiền cứu Nghiên cứu chế dịnh thời hiệu ở các mức độ khác nhau đã được một số nhà khoa học, luật gia quan tâm, nghiên cửu và được dễ p trong các công trình, trong các tạp chí, trong một số sách chuyên khảo và giáo trình. 'lrong các công trình, tạp chí, sách chuyên khảo và giáo trình này bước đầu phân tích và làm rõ những vấn đề xung quanh chế định thời hiệu trong Bộ luật hình sự năm 1999 hiện hành, đồng thời dưa ra rô hình lý luận của kiến pham va da i pham) ra sao (9), vv.) do thar hai, day 1a pham tra lién quan déng thời đến cả hai ngành luật: luật hình sự vả luậttế tụng hình sự, do đó việc làm rõ phạm trủ này cần phải có sự phối kết hợp đồng bộ của các phạm trủ có liên quan như: Phạm trủ về phân dịnh tội phạm, khái niệm, bản chất của các đạng, loại tội phạm, phạm trà về quá trình truy cứu trách nhiệm. hình sự, phạm trừ về quả trình thả hành án hình sự, v.Tuy nhiên, trở ngại dt ra la các phạm tri nay lại chưa có sự thống nhất về mit quan diém cing như sự nghiên cứu rõ rang của các nhả lý luận.

Vì vậy, chúng ta phải khẳng dịnh rằng nghiên cứu chế dịnh thời hiệu lá rất cần thiết, nhưng cũng không thể có sự hoàn thiện ngay bởi điều đó cần đến sự giúp đỡ đồng bộ và toản điện của các phạm trù có liên quan nữa. Về mặt lập pháp: Chế định thời hiện chính là sự thể hiện nguyên tắc nhân đạo vỉ sự tồn tại của chế định này đã khuyến cáo cho những người thực hiện tội phạm và những người bị kết án về những quyển lợi mà họ có thế có được (ví dụ: không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của minh, hay không phải chấp hành bản án kết tội đã tuyên) nếu như hội đủ căn cứ pháp lý chung có tính chất bắt buộc và các điều kiện cần và đủ theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999. Đẳng thời, chế dịnh thời hiệu trong luật hình sự góp phần dam baa cho việc thực hiện nguyên tắc không tránh khỏi trách nhiệm hình sự, mà nội dung, cơ bản của ngưyên tắc này là: những người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo các quy dịnh của luật hình sự, mọi hành vi phạm tôi phải dược phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng và công minh theo đủng pháp luật với phuong chim. “khang bé lot tội phạm và người phạm tội, irénh lam oan người võ tội”.

ta ngành Toà án rất coi trọng và quan Lâm đến vấn đề. áp dụng hiệu quả chế đỉnh thởi hiệu được ghi nhận tại bến điều luật trong Bộ luật hình sự năm 1999. Đây cũng chính là yêu cầu đặt ra cho chúng ta cần phải nghiên cứu một cách nghiém tic và sâu sắc chế định thời hiệu (bao pồm hai chế định nhỏ thuộc nd là chế định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và chế định thời hiệu thi hành bản án kết tội) Việc áp dụng đúng đắn và hiệu quả các quy phạm của chế định thời hiệu trong Độ luật hình sự năm 1999 vào thực tiễn sẽ mang lại những lợi ích thiết thân cho Nhà nước, cho mỗi céng din và cho toàn xã hội. Tối với Nhà nước, mả trực tiếp là các cơ quan Lư pháp hình sự có thâm quyền sẽ nâng cao uy tin của mình trước nhân dân, làm cho nhân dân tin vào tỉnh công mình và.

sức mạnh của pháp luật, qua đó khuyến khích người dân tham gia tích cực vào công cuộc dấu tranh phỏng chẳng tội phạm. Đổi với mỗi công dân, mỗi khi gặp chuyện “bắt bình” sẽ an tâm về hiệu quả hoạt động của các co quan tw pháp hình sự có thẩm quyền mà loàn tâm loàn ý hỗ trợ, cùng với các cơ quan. tư pháp nảy giải quyết thấu đáo, triệt để vấn đề. Còn đối với toàn xã hội sẽ có được một pháp chế vững mạnh và chắc chắn - đó chính là nén tang cơ bản để chúng L¿ xây dựng thành công một Nhà nước Pháp qui on.

Tình hình nghiền cứu Nghiên cứu chế dịnh thời hiệu ở các mức độ khác nhau đã được một số nhà khoa học, luật gia quan tâm, nghiên cửu và được dễ p trong các công trình, trong các tạp chí, trong một số sách chuyên khảo và giáo trình. 'lrong các công trình, tạp chí, sách chuyên khảo và giáo trình này bước đầu phân tích và làm rõ những vấn đề xung quanh chế định thời hiệu trong Bộ luật hình sự năm 1999 hiện hành, đồng thời dưa ra rô hình lý luận của kiến Mục lục Trang mẻ đầu 1 Chương 1. Một số vẫn đề lý luận cơ bản về chế định thời hiệu trong luật | 12 hình sự Việt Nam. Sơ lược lịch sử xuất hiện chế định thời hiệu trong luật hình sự Việt 12 Ram 1.

Khái niêm, bản chất pháp lý và các đặc điểm cơ bản của chế định 14 thời hiệu trong luật hình sự Việt Nam 1. Bản chất pháp lý của hai phạm trủ “hết thời hiệu truy cứu trách 17 nhiệm hình sự” và "hết thời hiệu thi hành bán ản kết tội” Chương 2. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự và thời hiệu thị hành | 27 ban án kết tôi trong luật hình sự Việt Nam 2.1-Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự trang luật hình sự Việt Nam. Thời hiều thi hành ban án kết tôi trong luật hình sự Việt Nam.

Phân biệt thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự vả thời hiệu thi 96 hành bản án kết tôi trong luật hình sự Việt Nam Chương 3. Hoàn thiện chế định thời hiệu trong Bộ luật hình sự Việt 100 Nam nim 1999 3. Nhận xét chung về chế định thời hiệu trong Bộ luật hình sự Việt 100 am năm 1999 dưởi góc độ so sánh với Bộ luật hình sự Việt Nam năm Mé dau 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu để tài Việc nghiên cứu đề tải: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định thời hiệu theo pháp luật hình sự Việt Nam là rất cần thiết và quan trọng trên ba phương diện chủ yêu dưới đây: Về mặt lý luận: Chế định thời hiều là một chễ định quan trong trong luật hình sự Việt Nam.

Việc nghiên cứu và làm rõ những vẫn để xưng quanh chế dịnh thời hiệu lả rất quan trọng và cần thiết. Hiện nay, trong khoa học pháp lý hình sự Việt Nam có không nhiễu bai viết để cập, phân tích những vấn để lý luận cơ bản cũng như thực liễn áp dụng các quy phạm của chế định thời hiểu được quy dịnh tại bốn diều luật là Điều 23, Điều 24, Điều 55 và Diều 56 của Bộ luật hình sự năm 1999, để rồi rút ra những mặt cần phải phát huy, cũng như những mặt cần phải khắc phục. Thực chất, đây là một công việc rất có ích về mặt lâu dài vi nó đóng vai trỏ cơ bán giúp cho các nhà lập pháp mỗi khi xây dựng hay sửa đổi nhằm hoản thiện luật, sẽ đưa ra những quyết định thực sự phủ hợp và thiết thực dến quyền lợi của Nhà nước và của nhân đân, đấy cũng chính là sự đóng góp không thể thiểu của chúng ta vào tiến trình đi đến mật Nhà nước Pháp quyên hoàn chỉnh va phat triển. Tuy nhiên, cần phải khẳng định rằng đây là một đối tượng nghiên cứu mang ban chất khó và phức tạp vỉ những lý do sau: 7,ý đo thứ nhất, bản thân chế định thời hiệu quy định trong pháp luật hình sự thực định của nước ta còn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ