Luận văn chế định đồng phạm Quốc triều hình luật - Dương Trung Kiên

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu chế định đồng phạm trong Quốc triều hình luật thời Lê và sự kế thừa trong Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ Luật học

2018

75
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Danh mục các từ viết tắt

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẾ ĐỊNH ĐỒNG PHẠM TRONG QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT

1.1. Giới thiệu khái quát về Quốc triều hình luật

1.1.1. Sự ra đời và phát triển của Quốc triều hình luật

1.2. Đồng phạm trong Quốc triều hình luật

1.3. Các giá trị lập pháp trong chế định đồng phạm của Quốc triều hình luật

1.4. Kết luận Chương 1

2. CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHẾ ĐỊNH ĐỒNG PHẠM TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015 (SỬA ĐỔI, BỔ SUNG NĂM 2017)

2.1. Khái niệm đồng phạm và các hình thức đồng phạm

2.1.1. Khái niệm đồng phạm

2.1.2. Các hình thức đồng phạm

2.2. Những loại người đồng phạm

2.2.1. Người thực hành

2.2.2. Người tổ chức

2.2.3. Người xúi giục

2.2.4. Người giúp sức

2.3. Một số vấn đề về trách nhiệm hình sự của những người đồng phạm

2.3.1. Nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự đối với những người đồng phạm trong trường hợp đồng phạm hoàn thành

2.3.2. Một số vấn đề liên quan đến TNHS của những người đồng phạm

3. CHƯƠNG 3: VẤN ĐỀ KẾ THỪA NHỮNG GIÁ TRỊ TỪ CHẾ ĐỊNH ĐỒNG PHẠM TRONG QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT VÀ ĐỊNH HƯỚNG TIẾP TỤC HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH NÀY TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015

3.1. So sánh chế định đồng phạm trong Quốc triều hình luật với Bộ luật hình sự năm 2015, đánh giá những thành tựu lập pháp của chế định này trong Quốc triều hình luật được kế thừa trong Bộ luật hình sự năm 2015

3.2. Những vấn đề đặt ra để hoàn thiện chế định đồng phạm trong Bộ luật hình sự năm 2015

3.2.1. Những hạn chế của BLHS

3.2.2. Định hướng tiếp tục hoàn thiện BLHS về chế định đồng phạm trong tương lai

3.3. Kết luận Chương 3

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Cách so sánh chế định đồng phạm Quốc triều hình luật và BLHS 2015

Chế định đồng phạm là một trong những nội dung cốt lõi trong pháp luật hình sự Việt Nam qua các thời kỳ. Việc so sánh chế định đồng phạm Quốc triều hình luật với Bộ luật Hình sự năm 2015 (BLHS 2015) không chỉ mang ý nghĩa học thuật mà còn góp phần làm rõ sự kế thừa và phát triển của hệ thống pháp luật Việt Nam. Quốc triều hình luật, hay còn gọi là Hồng Đức thiện chính thư, được ban hành dưới triều vua Lê Thánh Tông (thế kỷ XV), là bộ luật hình sự đầu tiên có hệ thống và đầy đủ nhất của nhà nước phong kiến Việt Nam. Trong khi đó, BLHS 2015 là văn bản pháp lý hiện đại, phản ánh tư duy pháp lý tiến bộ, phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Dù cách nhau hàng thế kỷ, cả hai văn bản đều quy định rõ ràng về trách nhiệm hình sự trong trường hợp nhiều người cùng tham gia thực hiện một tội phạm. Theo luận văn thạc sĩ của Dương Trung Kiên (2018), chế định đồng phạm trong Quốc triều hình luật đã thể hiện tư duy pháp lý nhân văn, phân biệt vai trò người chủ mưu, người thực hành, người xúi giục – điều mà BLHS 2015 cũng kế thừa và phát triển dưới hình thức người tổ chức, người thực hành, người xúi giục và người giúp sức. Việc phân tích sâu sắc hai chế định này giúp làm rõ giá trị lập pháp truyền thốngxu hướng hoàn thiện pháp luật hình sự hiện đại.

1.1. Khái niệm đồng phạm trong Quốc triều hình luật

Quốc triều hình luật không sử dụng thuật ngữ “đồng phạm” như hiện nay, nhưng đã có những quy định cụ thể về hành vi của nhiều người cùng phạm tội. Các điều luật phân biệt rõ ràng giữa người chủ mưu, người thực hành, và người xúi giục. Ví dụ, Điều 103 QTHL quy định: “Kẻ nào xúi giục người khác phạm tội thì xử như người phạm tội ấy”. Điều này cho thấy tư duy pháp lý đã chú trọng đến mức độ tham giaý chí phạm tội của từng cá nhân. Đây là nền tảng đầu tiên cho chế định đồng phạm trong pháp luật hình sự Việt Nam.

1.2. Khái niệm đồng phạm trong BLHS 2015

BLHS 2015 quy định tại Điều 17: “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”. Luật phân chia đồng phạm thành bốn loại: người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, và người giúp sức. Mỗi vai trò có mức độ trách nhiệm hình sự khác nhau, phản ánh nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm. Đây là bước tiến lớn so với các bộ luật trước, thể hiện sự tiếp thu chuẩn mực pháp lý quốc tếkinh nghiệm thực tiễn trong đấu tranh phòng, chống tội phạm.

II. Những thách thức khi áp dụng chế định đồng phạm hiện nay

Mặc dù BLHS 2015 đã có nhiều cải tiến, việc áp dụng chế định đồng phạm trong thực tiễn xét xử vẫn gặp không ít thách thức pháp lýkhó khăn thực tiễn. Một trong những vấn đề nổi cộm là xác định vai trò cụ thể của từng người trong vụ án đồng phạm, đặc biệt trong các vụ án có tổ chức, phức tạp, hoặc có yếu tố xuyên quốc gia. Nhiều vụ án cho thấy sự mơ hồ trong phân loại giữa người giúp sứcngười xúi giục, dẫn đến bất cập trong xử lý hình sự. Ngoài ra, tính liên đới trách nhiệm giữa các đồng phạm cũng gây tranh cãi, nhất là khi một số người phạm tội đã hoàn thành hành vi, trong khi người khác chưa thực hiện xong hoặc tự ý chấm dứt hành vi phạm tội. Theo TSKH Lê Cảm (1988), sự thiếu rõ ràng trong cơ sở lý luậnhướng dẫn áp dụng khiến tư pháp hình sự gặp khó trong việc đảm bảo công bằng và chính xác. Bên cạnh đó, sự kế thừa có chọn lọc từ Quốc triều hình luật chưa được khai thác triệt để, dẫn đến mất mát giá trị pháp lý truyền thống trong bối cảnh hiện đại hóa pháp luật.

2.1. Khó khăn trong xác định vai trò đồng phạm

Trong nhiều vụ án, vai trò của từng đồng phạm không được làm rõ do thiếu chứng cứ, mâu thuẫn lời khai, hoặc ý đồ che giấu của các bị can. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến mức hình phạttính răn đe của pháp luật. Việc phân loại đồng phạm theo BLHS 2015 đòi hỏi bằng chứng khách quan, nhưng thực tiễn xét xử cho thấy tư pháp hình sự đôi khi phải dựa vào suy luận chủ quan, gây rủi ro oan sai.

2.2. Mâu thuẫn giữa lý luận và thực tiễn xét xử

Nhiều học giả như Trần Quang Tiệp (2000) chỉ ra rằng lý luận pháp lý về đồng phạm trong BLHS 2015 chưa đồng bộ với thực tiễn xét xử. Ví dụ, người giúp sức đôi khi bị xử lý như người thực hành, dù vai trò của họ chỉ mang tính hỗ trợ gián tiếp. Điều này làm giảm tính công bằngvi phạm nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự – một nguyên tắc cốt lõi trong pháp luật hình sự hiện đại.

III. Phương pháp kế thừa giá trị đồng phạm từ Quốc triều hình luật

Việc kế thừa giá trị pháp lý từ Quốc triều hình luật vào BLHS 2015 không phải là sao chép máy móc, mà là lựa chọn có phê phán những nguyên tắc phù hợp với bối cảnh xã hội hiện đại. Quốc triều hình luật đã thể hiện tư duy phân biệt trách nhiệm dựa trên vai trò và mức độ tham gia, điều mà BLHS 2015 tiếp nối và phát triển. Một phương pháp hiệu quảso sánh hệ thống, qua đó làm rõ điểm tương đồng và khác biệt giữa hai chế định. Ví dụ, nguyên tắc xử lý người chủ mưu nặng hơn người thực hành trong QTHL đã được chuyển hóa thành người tổ chức chịu trách nhiệm chính trong BLHS 2015. Ngoài ra, tư tưởng nhân văn trong QTHL – như việc xét giảm án cho người phạm tội lần đầu hoặc tự thú – cũng được BLHS 2015 tiếp thu qua các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Theo Lương Văn Tuấn (2017), giá trị nhân văntính hệ thống của QTHL là di sản pháp lý quý báu, cần được phát huy trong cải cách tư pháp hiện nay.

3.1. So sánh hệ thống vai trò đồng phạm

Cả Quốc triều hình luậtBLHS 2015 đều phân chia người phạm tội thành nhiều vai trò khác nhau dựa trên hành vi và ý chí. Tuy nhiên, BLHS 2015 chi tiết hóa hơn với bốn loại đồng phạm, trong khi QTHL chủ yếu tập trung vào ba nhóm: chủ mưu, thực hành, xúi giục. Sự phát triển này phản ánh yêu cầu đấu tranh tội phạm hiện đại, nơi hành vi hỗ trợ ngày càng tinh vi và đa dạng.

3.2. Kế thừa nguyên tắc nhân văn trong xử lý đồng phạm

Quốc triều hình luật đề cao tư tưởng Nho giáo, nhấn mạnh lòng nhân trong xét xử. BLHS 2015 tiếp nối tinh thần này qua các tình tiết giảm nhẹ, như ăn năn hối cải, tự thú, hoặc giúp cơ quan chức năng điều tra. Đây là minh chứng cho sự kế thừa có chọn lọc, giúp pháp luật hình sự vừa nghiêm minh, vừa nhân đạo.

IV. Ứng dụng thực tiễn từ nghiên cứu chế định đồng phạm

Nghiên cứu chế định đồng phạm trong Quốc triều hình luậtBLHS 2015 không chỉ có giá trị lý luận mà còn mang lại ứng dụng thực tiễn sâu sắc. Trước hết, nó giúp hoàn thiện kỹ năng áp dụng pháp luật cho thẩm phán, kiểm sát viên, và luật sư trong các vụ án có yếu tố đồng phạm. Thứ hai, nghiên cứu này cung cấp cơ sở khoa học để sửa đổi, bổ sung BLHS trong tương lai, đặc biệt là làm rõ khái niệm “người giúp sức”quy định về chấm dứt đồng phạm. Theo Nguyễn Trung Thành (2002), việc cá thể hóa trách nhiệm trong đồng phạm là yêu cầu cấp thiết để đảm bảo công lý và hiệu quả đấu tranh tội phạm. Ngoài ra, giá trị pháp lý truyền thống từ QTHL có thể được tích hợp vào giáo trình đào tạo luật, giúp sinh viên hiểu sâu sắc lịch sử pháp luật Việt Namphát triển tư duy pháp lý độc lập.

4.1. Hỗ trợ công tác xét xử và tranh tụng

Việc hiểu rõ nguồn gốc và phát triển của chế định đồng phạm giúp cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng pháp luật chính xác hơn, tránh áp đặt hình phạt đồng đều cho mọi đồng phạm. Điều này đặc biệt quan trọng trong các vụ án kinh tế, ma túy, hoặc tội phạm công nghệ cao, nơi vai trò của từng bị can thường không đồng nhất.

4.2. Góp phần cải cách giáo dục pháp luật

Nghiên cứu so sánh giữa Quốc triều hình luậtBLHS 2015 nên được đưa vào chương trình giảng dạy tại các trường luật. Điều này không chỉ nâng cao nhận thức lịch sử, mà còn rèn luyện kỹ năng phân tích pháp lý cho sinh viên, giúp họ tiếp cận pháp luật một cách toàn diện và có chiều sâu.

V. Định hướng hoàn thiện chế định đồng phạm trong BLHS tương lai

Để chế định đồng phạm trong BLHS ngày càng hiệu quả và công bằng, cần có định hướng hoàn thiện rõ ràng dựa trên kế thừa giá trị truyền thốngtiếp thu kinh nghiệm quốc tế. Trước hết, cần làm rõ khái niệm “người giúp sức” để tránh hiểu lầm trong áp dụng pháp luật. Thứ hai, cần bổ sung quy định về “chấm dứt đồng phạm”, tương tự như người phạm tội tự ý chấm dứt hành vi trong QTHL. Thứ ba, cần hướng dẫn cụ thể về mức độ trách nhiệm giữa các loại đồng phạm, đặc biệt trong tội phạm có tổ chức. Theo Dương Trung Kiên (2018), BLHS tương lai nên kết hợp hài hòa giữa nguyên tắc pháp lý hiện đạitư tưởng nhân văn truyền thống, tạo nên hệ thống pháp luật hình sự đặc sắc mang bản sắc Việt Nam.

5.1. Làm rõ vai trò người giúp sức

Người giúp sức trong BLHS 2015 hiện chưa có tiêu chí cụ thể, dẫn đến áp dụng tùy tiện. Cần quy định rõ hành vi giúp sức phải có tính thiết yếuliên quan trực tiếp đến việc thực hiện tội phạm, tránh mở rộng trách nhiệm hình sự một cách chủ quan.

5.2. Bổ sung quy định về chấm dứt đồng phạm

Quốc triều hình luật đã có tư tưởng giảm nhẹ cho người tự ý từ bỏ hành vi phạm tội. BLHS 2015 nên bổ sung điều luật về chấm dứt đồng phạm, theo đó người chủ động rút lui và ngăn chặn hậu quả được miễn hoặc giảm trách nhiệm hình sự, tương tự như tình tiết giảm nhẹ hiện hành.

VI. Câu hỏi thường gặp về đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam

Người đọc thường tìm kiếm thông tin về chế định đồng phạm qua các câu hỏi mang tính thực tiễn và học thuật. Các câu hỏi phổ biến bao gồm: “Đồng phạm là gì theo BLHS 2015?”, “Quốc triều hình luật có quy định về đồng phạm không?”, “Người giúp sức có bị xử lý hình sự không?”, “Làm sao phân biệt người tổ chức và người xúi giục?”, và “Tội phạm có tổ chức có phải là đồng phạm không?”. Những câu hỏi này phản ánh nhu cầu hiểu biết pháp luật của công chúng và yêu cầu minh bạch hóa pháp lý trong xã hội hiện đại. Việc trả lời rõ ràng, chính xác các câu hỏi này không chỉ nâng cao ý thức pháp luật, mà còn giảm thiểu rủi ro pháp lý cho cá nhân và tổ chức.

6.1. Đồng phạm theo BLHS 2015 được hiểu như thế nào

Theo Điều 17 BLHS 2015, đồng phạm là trường hợp hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm. Đồng phạm bao gồm bốn vai trò: người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, và người giúp sức. Mỗi vai trò có mức độ trách nhiệm hình sự khác nhau, tùy theo tính chất và mức độ tham gia.

6.2. Quốc triều hình luật có quy định về đồng phạm không

Mặc dù không dùng thuật ngữ “đồng phạm”, Quốc triều hình luật đã có nhiều điều luật điều chỉnh hành vi của nhiều người cùng phạm tội, với sự phân biệt rõ ràng giữa người chủ mưu, người thực hành, và người xúi giục. Đây là nền tảng đầu tiên cho chế định đồng phạm trong pháp luật hình sự Việt Nam.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/03/2026
Luận văn chế định đồng phạm trong quốc triều hình luật và sự kế thừa chế định này trong bộ luật hình sự năm 2015

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 MỘT SỐ VAN DE CO BAN VE CHE BINH DONG PHAM TRONG QUOC TRIEU HiNH LUAT - 6 1. Giới thiệu khái quát về Quốc triều hình luật 6 1. Sự ra đời và phát triển của Quốc triều hình luật. Ping pham trong Quốc triều hình luật - - 15 1.

Các giá trị lập pháp trong chế định đồng phạm của Quốc triều hình luật. 22 Kết luận Chương L. 27 Chương 2 MỘT SỐ VĂN ĐỀ CƠ BẢN VẺ CHÈ ĐỊNH ĐỒNG PHAM. TRONG HỘ LUẬI HÌNH SỰ NAM 2015 (SUA DO1, BO SUNG NAM 2017) - - - 29 2.

Khái niệm đẳng pham va các hình thức đồng phạm - 29 2. Khái niệm đồng phạm 29 2. Các hình thức đồng phạm - 31 2. Những loại người đồng phạm.

Người thực hành. Người tổ chức. Người xúi giục. Người giúp sức - - 40 2.

Một số vấn dễ vẻ trách nhiệm hình sự của những người đồng pham. Nguyên tắc xác định trách nhiệm hình sự đối với những người đồng DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Kýhiệu — Nguyên nghĩa 1 |BLHS Bộ Mậthình sự GS Gido su NXB Nha xuat ban a] we] Q11 Quốc triêu hình luật PGs Thó giáo sư Ul TAND Toả án nhân dân a TNHS Trách nhiệm hình sự Ts “Tiến sĩ xe TSKH _ Tiến sĩkhoa học oD 2. Tỉnh hình nghiên cứu của đề tài Xung quanh việc nghiên cứu về Quốc triều hình luật cũng như nghiên cứu về chế dịnh dẳng phạm đã có nhiều học giã, luật gia, nhà khoa học nghiên cứu dưới các póc dộ khác nhau như Cáo công Irình nghiên cứu, sách, bài bảo, bài viết về những vấn dễ chung. nhất về sự ra đời và phát triển của nhà nước phong kiến cũng như pháp luật thời nảy, mà điển hình uũa nó là Quốc triều hình luật thời vua Lồ Thánh Tông: - T§ Lê Thị Sơn (chủ biên), Quốc triều hình luật lịch sử hình thành, nội dụng và giá trị (Sách chuyên khảo), NXB khoa học xã hội, 20041, - Bùi Xuân Đính, Nhà nước và pháp luật thời phong kiến Việt Nam Những sup ngẫm, N3XXB Tu pháp, 2005, - Lương Văn Tuấn, Các giả trị nhân vấn, tiễn bộ của Quốc triểu hình luật, NXB Chính trị quốc gia, 2017.

- Trần Quang Thành, Kỹ thuật lập pháp trong Quốc triển hình luật, Luận văn thạo sỹ luật học, Khoa luật- Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015, Hay một số công trình, bải báo nghiên cửu riêng về ẩn dề đẳng phạm trong BI.H8 hiện hành như: - Trần Quang Tiệp, Đẳng phạm trong Luật hình sự Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà. Nội, 2000, - Nguyễn Thị Trang Liên, Các bùn thức đẳng phạm trong Luật hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sỹ luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc Gia Ila NGi, 2007, Cũng như trong các bài viết trên tạp chí như: - TSKH Lê Cảm, Vả chế định đồng phạm trong luật hình sự Việt Nam (Mật sé van dé iy ludn & thực nén), TTạp chí Tỏa án nhân dan (LAND) của 'Tòa án nhần dân tối cao (LA NLYTC), số 2+3/1988, s MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, một trong những Bộ luật nồi tiếng, có ý nghĩa và giá trị phải kế đến Quốc triểu hình luật (hay còn gọi là "Luật hình triều Lê”, “Lê triều hình luật” hay "Luật Hồng I3úc”) là một trong những Bộ luật hoàn chỉnh nhất trong lịch sử pháp luật của các nhà nước phong kiến Việt Nam. Nói dến Quốc triểu hình luật người ta nphĩ ngay dến một BS luật có kĩ thuật lập pháp cao, nội dung phong phú, toản diện với nhiều giá trị nỗi bật trong lịch sử pháp luật Việt Nam thời kỳ phong kiến, Quốc triều hình luật không chỉ được đánh giá cáo hơn hẳn số với những thánh Lựu pháp luật của các triểu đại trước đó mà còn có nhiều ý nghĩa quan trọng đối với việc biên soạn nhiều Bộ luật khác của các triều đại phong kiến Việt Nam.

Bên cạnh đó, Quốc triều hình luật cũng chứa đựng những tư tướng tiển bộ và được xây đụng ở một trình độ lập pháp cao so với các văn bản pháp luật phong kiến trước đó vả sau này. lrong Quốc triều hình luật, vấn để Déng phạm chưa được quy định thành một chế định riêng như pháp luật ngảy này nhưng nó lại lả Bộ luật có thể nói là lần đầu tiên, khởi nguễn cho việc quy định đến vấn dễ mà ngày nay chúng ta gọi là đằng phạm. Tiên quan dến đồng phạm dã có nhiều học giả, luật gia nghiền cửu và có nhiều sách báo dưới nhiều góc độ khác nhau dễ cập đến vấn dé nay. Tuy nhiên, để tải “Chế định đồng phạm trong Quốc triều hình Luật và sự kế thừa chế dịnh này trong Bộ luật hình sự năm 2018” là một dễ tải mới, từ trước đến nay chưa có một công trình nào nghiên cửu chuyển sâu ví xảy.

Do đó, việc nghiên cứu để tài này lả hết sức cần thiết MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, một trong những Bộ luật nồi tiếng, có ý nghĩa và giá trị phải kế đến Quốc triểu hình luật (hay còn gọi là "Luật hình triều Lê”, “Lê triều hình luật” hay "Luật Hồng I3úc”) là một trong những Bộ luật hoàn chỉnh nhất trong lịch sử pháp luật của các nhà nước phong kiến Việt Nam. Nói dến Quốc triểu hình luật người ta nphĩ ngay dến một BS luật có kĩ thuật lập pháp cao, nội dung phong phú, toản diện với nhiều giá trị nỗi bật trong lịch sử pháp luật Việt Nam thời kỳ phong kiến, Quốc triều hình luật không chỉ được đánh giá cáo hơn hẳn số với những thánh Lựu pháp luật của các triểu đại trước đó mà còn có nhiều ý nghĩa quan trọng đối với việc biên soạn nhiều Bộ luật khác của các triều đại phong kiến Việt Nam. Bên cạnh đó, Quốc triều hình luật cũng chứa đựng những tư tướng tiển bộ và được xây đụng ở một trình độ lập pháp cao so với các văn bản pháp luật phong kiến trước đó vả sau này.

lrong Quốc triều hình luật, vấn để Déng phạm chưa được quy định thành một chế định riêng như pháp luật ngảy này nhưng nó lại lả Bộ luật có thể nói là lần đầu tiên, khởi nguễn cho việc quy định đến vấn dễ mà ngày nay chúng ta gọi là đằng phạm. Tiên quan dến đồng phạm dã có nhiều học giả, luật gia nghiền cửu và có nhiều sách báo dưới nhiều góc độ khác nhau dễ cập đến vấn dé nay. Tuy nhiên, để tải “Chế định đồng phạm trong Quốc triều hình Luật và sự kế thừa chế dịnh này trong Bộ luật hình sự năm 2018” là một dễ tải mới, từ trước đến nay chưa có một công trình nào nghiên cửu chuyển sâu ví xảy. Do đó, việc nghiên cứu để tài này lả hết sức cần thiết vào việu hoàn thiện quy định luật hình sự Việt Nam còn hạn chế, khiến củ G quy định luật hình sự vừa thể hiện được tính nhân đạo của nhà nước mà vẫn tạo được sự răn đe với người phạm tội.

Nhiệm vụ nghiên cứu 8 dat được mục đích trên, tác giá đặt ra cho mình nhiệm vụ: Nghiên cứu chế dịnh về dỗng phạm trong Quốc triểu hình luật như: sự ra đời, hình thành và phát triển của Quốc triều hình luật, các nội dung cơ bản của Québec triểu hình luật cũng như đẳng phạm trong Quấc triểu hình luật để từ đỏ tìm ra các giá trị lập pháp trong các quy định về đồng phạm. Nghiên cứu chế dịnh đồng phạm trong HI.HS năm 2015 như khái niệm, đặc diểm của đồng phạm, quy định về déng phạm trong BLHS nam 2015 Sau những nghiên cửu về chế định về đồng phạm trong Quốc triều hình luật và BLHS năm 2015, có sự sử sánh giữa 2 Bộ luật, chỉ ra được những điểm hạn chế cần khắc phục cũng như những giá trị cần kế thừa, đã và cần được ghi nhận trong BLH5 Việt Nam năm 2015 3. Phạm vi nghiên cứu Luin vin tập trưng nghiên cứu chế định dồng phạm trong Quốc triểu hình luật và BLHS năm 2015 (sửa đổi, bố sung nằm 2017), sau đây gọi là BLHS ném 2015. Do số trang của luận văn bị giới hạn nên tác giả chỉ đi vào tim hiểu, nghiên cứu đồng phạm phần chung đối với cả nhân, côn đồng phạm pháp nhân tác giả không đề cập.

‘rén cơ sở phân tích các quy định trên, luận văn tập trung lảm rõ những điểm kế thừa và đưa ra những định hưởng tiếp tục hoàn hiện BLHS trong tương lai 4. Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chúng vả chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời những chính sách của Dâng, Nhà nước ta về đâu tranh phỏng chống tôi phạm nói chung, một số phương pháp nghiên - Đuàn Văn Tường, Dòng phạm và một số vẫn đề về thực tiễn xót xử, Tạp chí TAND, số 4/2003; - T5 Lê Thị Sơn, Vẻ cáe giai đoạn thực lộn hành vì đồng phạm, Tạp chí Luật hạc, số 3/1998; - Nguyễn Trung Thành, Cơ sở vả những nguyên tắc truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp phạm lội có IỖ chức, Tạp chỉ Nhà nước và pháp luật, số 6/2002;. Song bên cạnh đó, những kết quả nghiên cứu trên vẫn chưa nhiều va cũng chưa co một sự liên kết, dảnh giá dược hết các giả trị trong các Bộ luật cỗ xưa để so sánh với BLHS hiện hành. Dặc biệt là chưa có những kết quả nghiên cứu cụ thể đối với vấn để đồng phạm trong Quốc triều hình luật.

Mà trong xu thể hội nhập như hiện nay, vẫn dé déng phạm diễn ra ngày các phức tap với quy mô mở rộng. BLIIS năm 2015 mới ra đời nhưng vẫn còn một số bắt cập chưa khắc phục được. Do đó việc tiếp tục nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về lý luận và thực tiễn đối với vẫn để này trong sự so sánh đánh giá giữa pháp luật hình sự phong kiến, mà điển hình là Quốc triều hình luật và BLHS Việt Nam hiện hành không chỉ đóng góp đáng kế cho việu khai thác và phát huy các đi sản văn hóa dân tộc, truyền thống pháp luật của nhà nước Việt Nam gỗ xưa mà củn có thé đáp ứng được những đôi hải của thực tiễn và yêu câu của cuộc dau tranh phòng, chồng tôi phạm. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu của luận văn 3.

Mục đích nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của bất kỳ công trình nghiên cửu khoa học nào cũng dễu trả lời cho câu hỏi: việc thực hiện công trình nghiền cửu nhằm vào cái gi? Đây cũng chính lả ý nghĩa thực tiễn của kết quả nghiên cứu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ