Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT THẢI CHĂN NUÔI VÀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG 1. Cơ sở lý luận về chất thải chăn nuôi và quản lý chất thải chăn nuôi 1. Các khái niệm Hộ nông dân: là hộ gia đình mà hoạt động sản xuất chủ yếu của họ là nông nghiệp. Ngoài các hoạt động nông nghiệp, hộ nông dân còn có thể tiến hành thêm các hoạt động khác, tuy nhiên đó chỉ là các hoạt động phụ.
Kinh tế nông hộ: là loại hình kinh tế trong đó các hoạt động sản xuất chủ yếu dựa vào lao động gia đình (lao động không thuê) và mục đích của loại hình kinh tế này trước hết nhằm đáp ứng nhu cầu của hộ gia đình (không phải mục đích chính là sản xuất hàng hoá để bán). Tuy nhiên, cũng cần có sự chú ý ở đây là các hộ gia đình cũng có thể sản xuất để trao đổi nhưng ở mức độ hạn chế. Môi trường: là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật. Ô nhiễm môi trường: là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật.
Đặc điểm của chất thải trong chăn nuôi Ngày nay, vấn đề ô nhiễm môi trường ngày càng được quan tâm nhiều trong ngành nông nghiệp nhất là ngành chăn nuôi. Chất thải chăn nuôi là nguồn gây ô nhiễm nhiều nhất đối với môi trường sống của con người và vật nuôi. Chất thải chăn nuôi có thành phần phức tạp, giàu hữu cơ và là nguồn ô nhiễm tiềm tàng. Trong quá trình lưu trữ hàng trăm chất được tạo thành do quá trình phân hủy vi sinh vật tạo nên các chất ô nhiễm không khí, đất và nguồn nước.
Đây là môi trường thuận lợi cho vi sinh gây bệnh truyền bệnh cho người và vật nuôi. Nguồn phát sinh chất thải chăn nuôi Chăn nuôi được xác định là một trong những ngành sản xuất tạo ra một lượng chất thải nhiều nhất ra môi trường. Chất thải chăn nuôi là một tập hợp phong phú 6 bao gồm các chất ở tất cả các dạng rắn, lỏng hay khí phát sinh trong quá trình chăn nuôi, lưu trữ, chế biến hay sử dụng chất thải. Trong quá trình chăn nuôi, chất thải chăn nuôi phát sinh ra bao gồm: Chất thải do bản thân vật nuôi: phân, nước tiểu, lông, vẩy da; Nước: từ quá trình tắm rửa gia súc, vệ sinh chuồng trại, vệ sinh vật dụng trong chăn nuôi; Thức ăn thừa, thức ăn rơi vãi, vật dụng chăn nuôi, vật phẩm thú y, vỏ bao đựng thức ăn; Xác vật nuôi chết; Khí thải từ chuồng nuôi; từ hố chứa phân, nước thải; nơi chế biến thức ăn cho gia súc; Tiếng ồn phát sinh chủ yếu từ chuồng nuôi gia súc.
Khối lượng chất thải chăn nuôi Chăn nuôi được xác định là một trong những ngành sản xuất tạo ra một lượng chất thải nhiều nhất ra môi trường. Chất thải chăn nuôi là một tập hợp phong phú bao gồm các chất ở tất cả các dạng rắn, lỏng hay khí phát sinh trong quá trình chăn nuôi, lưu trữ, chế biến hay sử dụng chất thải. Theo Lochr (1984), khối lượng chất thải sinh ra từ vật nuôi trong 24 giờ tùy thuộc vào chủng loại, loài, giai đoạn sinh trưởng, chế độ dinh dưỡng, trọng lượng gia súc, phương thức vệ sinh chuồng trại.1: Lượng phân các loại vật nuôi thải ra môi trường trong 24 giờ dựa theo thể trọng Loại vật nuôi Lượng phân mỗi ngày (% thể trọng) Heo 6-8 Bò sữa 7-8 Bò thịt 5-8 Gà 5 Theo Hill và Toller (1974), lượng phân và nước tiểu thải ra trung bình trong một ngày đêm của một số loài vật nuôi được nêu trong bảng 1.2: Lượng phân và nước tiểu của một số vật nuôi thải ra trung bình trong một ngày đêm Lượng phân Nước tiểu Loại gia súc trung bình/ngày đêm trung bình/ngày đêm Trâu (kg/ngày. 18-25đêm) (kg/ngày.
8-12 đêm) Bò 15-20 6-10 Ngựa 12-18 4-6 Heo < 10 kg 0,5-1 0,3-0,7 Heo 15 - 45 kg 1-3 0,7-2 Heo 45 -100 kg 3-5 2-4 Dê 1,5-2,5 0,6-10 Gà, vịt 0,02 - 0,05 - Ngoài phân và nước tiểu, lượng thức ăn thừa, ổ lót, xác súc vật chết, các vật dụng chăm sóc, nước tắm gia súc và vệ sinh chuồng nuôi cũng đóng góp đáng kể làm tăng khối lượng chất thải. Đây là nguồn ô nhiễm và lan truyền dịch bệnh rất nguy hiểm, vì vậy chúng cần được xử lý thích hợp trước khi trả lại cho môi trường. Các phương pháp xử lý chất thải chăn nuôi 1. Phương pháp xử lý phân gia súc Xử lý sinh học: - Sản xuất phân bón: phương pháp sản xuất phân bón hữu cơ từ phân heo nói riêng và từ phân gia súc nói chung dựa trên sự phân hủy các thành phần hữu cơ có trong phân dưới tác dụng của vi sinh vật có sẵn trong phân.
Tuỳ theo chế độ hoạt động của vi sinh vật, ta có 3 phương pháp ủ sau: + Phương pháp ủ nóng: nhiệt độ trong đống phân ủ đạt đến 80 - 90oC. Phương pháp này nhanh chóng, đơn giản nhưng lại mất đi nhiều đạm. + Phương pháp ủ nguội: nhiệt độ trong đống phân ủ đạt khoảng 35 - 50oC. Phương pháp này có ưu điểm làm đạm ít mất đi nhưng thời gian ủ dài.
+ Phương pháp ủ hỗn hợp: khắc phục được nhược điểm của hai phương pháp trên. Tiến hành ủ nóng trước nguội sau, phân tươi được đổ đống, không nén, để 8 phân huỷ cho đến khi nhiệt độ trong đống phân đạt khoảng 50 - 60oC, sau đó nén chặt đống phân lại ủ nguội [5]. Phân heo tươi Biogas Hố ủ phân Nước rỉ Sân phơi Hệ thống xử lý nước thải Thùng sấy Phân hữu cơ thành phẩm Hình 1.1: Quy trình công nghệ xử lý phân heo phương pháp ủ (Nguồn: Trương Thanh Cảnh, 2006) Tuỳ vào quy mô, diện tích đất sẵn có mà công việc ủ phân thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Ở quy mô gia đình, ta có thể thực hiện ủ phân ngay trong vườn nhà.
Để tăng hiệu quả của quá trình ủ bằng các nguyên liệu như rơm rạ, tro bếp, đất, cây xanh. Ở quy mô công nghiệp, khi xử lý lượng lớn phân ta còn thu được một lượng lớn sản phẩm khí sinh học đáng kể sinh ra từ quá trình phân hủy kị khí của phân. Lượng Biogas này được sử dụng nguồn nhiệt cho nhiều mục đích khác nhau. Nước rỉ từ đống phân phải được thu lại đưa qua hệ thống xử lý nước thải.
- Sản xuất Biogas: Là quá trình sử dụng các vi sinh vật phân hủy kị khí các hợp chất hữu cơ phức tạp thành các chất hữu cơ đơn giản. Với hệ thống xử lý phân và nước thải chăn nuôi sản xuất Biogas, ta có thể thu được các sản phẩm hữu ích như: khí đốt, phân bón, thức ăn cho cá. 9 + Khí đốt: Biogas có thành phần gồm 60 - 75% CH4 và 25 - 40% CO2 là một loại nhiên liệu truyền thống trước đây như than, củi dầu… Khi cháy, nhiên liệu Biogas không để lại muội than và tro nên có hiệu suất sử dụng rất cao. Do đó, việc tận dụng Biogas trong đời sống người dân ở nông thôn cũng như sản xuất với vai trò làm một nguồn năng lượng phụ trợ thì có ý nghĩa thực tiễn rất lớn.
+ Phân bón: sau khi qua hệ thống Biogas, thành phần của cặn có các chất dinh dưỡng thích hợp để làm phân bón.3: Hiệu quả xử lý phân của hệ thống Biogas Chỉ tiêu Trước khi xử lý Sau khi xử lý pH 7.102 Trứng kí sinh trùng (trứng/g) 2750 105 - 175 (Nguồn: Nguyễn Thị Hoa Lý, 1994) + Thức ăn cho cá: phân và nước thải chăn nuôi sau khi qua xử lý ở bể Biogas vẫn có thể sử dụng cho cá ăn. Hệ thống Biogas còn góp phần giải quyết vấn đề mùi hôi cho cơ sở chăn nuôi. Xử lý hóa lý: Lượng phân thải ra hằng ngày với số lượng lớn nhất là ở các trại chăn nuôi tập trung. Nếu dùng các giải pháp xử lý sinh học có thể không kinh tế lắm vì thời gian xử lý dài, diện tích đất khu xử lý lớn, chi phí vận hành cao.
Qua đó, ta hãy tham khảo các quy trình đã được áp dụng ở các nước trên thế giới. Quy trình lọc và sấy: sản phẩm thu được là phân hữu cơ có giá trị dinh dưỡng cao. Tuy nhiên, các công đoạn xử lý cần một lượng nhiệt lớn, có thể tận dụng nhiệt từ Biogas khi xử lý nước thải. 10 Phân heo tươi Bổ sung acid Thiết bị lọc cơ học Cặn trên lọc Nước qua lọc Phần bay hơi Thiết bị cô đặc Hệ thống xử lý nước thải Phần cô đặc Nước thải đã Thiết bị sấy xử lý Phân bón Hình 1.2: Quy trình công nghệ xử lý phân heo phương pháp lọc và sấy (Nguồn: Trương Thanh Cảnh, 2006) Quy trình lọc và thiêu đốt: ngược lại với quy trình trên, ta có thể thu được lượng nhiệt rất lớn từ quy trình này nhưng sản phẩm thu được là tro, có giá trị dinh dưỡng rất thấp.
Phương pháp xử lý nước thải chăn nuôi Nước thải chăn nuôi là một trong những loại nước thải rất đặc trưng có khả năng gây ô nhiễm môi trường cao do hàm lượng chất hữu cơ, cặn lơ lửng và sinh vật gây bệnh. Trước khi thải ra môi trường nhất thiết phải qua xử lý. Phương pháp cơ học: có nhiệm vụ tách bớt các hạt rắn ở dạng vô cơ hoặc hữu cơ ra khỏi nước thải. Tách phân ra khỏi nước thải bằng phương pháp cơ học như sử dụng song chắn rác, lắng sơ bộ trước khi đưa nước thải vào các công trình xử lý tiếp theo, nhằm giảm nồng độ chất ô nhiễm.
Ngoài ra, để tách phần rắn và phần nước 11 trong phân heo có thể sử dụng phương pháp ly tâm hay lọc. Sau khi tách chất lỏng và rắn riêng, nước được đưa vào hệ thống xử lý, chất rắn dùng để ủ phân bón. Tuy nhiên, phương pháp này áp dụng đối với cơ sở chăn nuôi qui mô lớn, trang trại hay các hộ có điều kiện xây hệ thống xử lý. Phương pháp hóa lý: do trong nước thải chứa 1 chất có kích thước nhỏ, không thể tách bằng phương pháp cơ học.
Vì vậy mà để tách những chất này ra khỏi nguồn nước có thể dùng các chất keo tụ như: phèn sắt, phèn nhôm, chất trợ keo tụ. Phương pháp với mục đích sử dụng các chất keo tụ để tăng tính lắng của các hạt lơ lửng và hạt keo trong nước thải.