Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng tín dụng. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thi công xây lắp tại BIDV Tuyên Quang Chương 4: Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thi công xây lắp tại BIDV Tuyên Quang 7 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG TÍN DỤNG Cơ sở lý thuyết là nền tảng cho toàn bộ quá trình nghiên cứu. Với đề tài nghiên cứu liên quan đến chất lượng tín dụng đối với một đối tượng cụ thể tại một ngân hàng thương mại, tác giả tiến hành đưa ra lý thuyết về chất lượng tín dụng để làm cơ sở phân tích thực trạng tại một ngân hàng cụ thể. Trên cơ sở tìm hiểu về khái niệm, tác giả sẽ tiến hành nêu ra lý do cần thiết để nghiên cứu và sẽ đưa ra lý thuyết trên từng góc độ liên quan đến vấn đề nghiên cứu bao gồm: một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng xét trên cả chỉ tiêu định tính, định lượng để đánh giá được tình hình chất lượng tín dụng và các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng để hiểu rõ được nguyên nhân từ mọi giác độ.
Khái niệm chất lƣợng tín dụng Chất lượng được đo bởi sự thoải mãn nhu cầu. Nếu một sản phẩm vì lý do nào đó mà không được nhu cầu chấp nhận thì phải bị coi là chất lượng kém, cho dù trình độ công nghệ để chế tạo ra sản phẩm đó có thể rất hiện đại. Đây là một kết luận then chốt và là cơ sở để các nhà chất lượng định ra chính sách, chiến lược kinh doanh của mình. Do chất lượng được đo bởi sự thoả mãn nhu cầu, mà nhu cầu luôn luôn biến động nên chất lượng cũng luôn luôn biến động theo thời gian, không gian và điều kiện sử dụng.
Chất lượng tín dụng là đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng đồng thời đáp ứng các yêu cầu hợp lý của khách hàng và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế xã hội. Nói cách khác, chất lượng tín dụng là một chỉ tiêu tổng hợp phản ánh mức độ thích nghi của ngân hàng trong quá trình cạnh tranh để tồn tại. Cũng như các sản phẩm và dịch vụ khác cung ứng trên thị trường, để đánh giá chất lượng dịch vụ ngân hàng cần có một số chỉ tiêu nhất định vừa có tính chất định tính vừa có tính chất định lượng: - Thỏa mãn sự hài lòng của KH là quan trọng nhất. Dịch vụ ngân hàng do NH cung ứng là để đáp ứng nhu cầu của KH.
Nếu như chất lượng của dịch vụ ngày càng hoàn hảo, có chất lượng cao thì KH sẽ gắn bó lâu dài và chấp nhận ngân hàng. 8 z - Sự hoàn hảo của dịch vụ: nó được hiểu là giảm thiểu các sai sót trong giao dịch với khách hàng và rủi ro trong kinh doanh dịch vụ của ngân hàng. - Quy mô và tỷ trọng thu nhập từ dịch vụ của ngân hàng không những tăng lên, đây là kết quả tổng hợp của sự đa dạng dịch vụ, sự phát triển dịch vụ và đương nhiên là cả chất lượng dịch vụ của ngân hàng tăng lên. - Một số các chỉ tiêu khác: đó là khả năng cạnh tranh, thị phần của từng loại dịch vụ không ngừng được giữ vững và tăng lên.
Chất lượng dịch vụ sẽ tạo lên danh tiếng, uy tín lâu dài cho ngân hàng, thu hút khách hàng. Khi đánh giá chất lượng của một đối tượng, ta phải xét và chỉ xét đến mọi đặc tính của đối tượng có liên quan đến sự thoả mãn nhu cầu cụ thể. Các nhu cầu này không chỉ từ phía khách hàng mà còn từ các bên có liên quan. Do đó, CLTD được đánh giá trên ba phương diện sau: - Đối với chính phủ: Tín dụng ngân hàng phải khai thác các nguồn tài chính và sử dụng hợp lý các nguồn vốn này, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội của mỗi địa phương và đất nước.
Tín dụng NHTM phải góp phần xây dựng thị trường tài chính phát triển an toàn, lành mạnh và ổn định. - Đối với khách hàng: NHTM phải cung cấp được các dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của KH và đáp ứng các quy định của luật pháp trong từng thời kỳ cụ thể. Hoạt động TD là việc NH cung cấp kịp thời và đầy đủ nhu cầu vay vốn của KH. Bên cạnh đó, NH cần ưu tiên tạo điều kiện cấp vốn cho KH hoạt động ở lĩnh vực then chốt thuộc chiến lược phát triển kinh tế xã hội của địa phương và cả nước.
- Đối với chủ sở hữu ngân hàng: hoạt động TD phải quan tâm tới hai mục tiêu cơ bản: Thứ nhất, khẳng định vai trò chủ đạo trong hệ thống TD đối với nền kinh tế; thứ hai, đảm bảo đạt mục tiêu tăng trưởng, an toàn và sinh lời về vốn kinh doanh phù hợp với mục tiêu kế hoạch, các quy định pháp luật trong từng thời kỳ, trong đó: + Vai trò chủ đạo: NHTM đảm bảo hoạt động tín dụng có tính chất hướng dẫn, đảm bảo thị phần, tìm kiếm dịch vụ mới và hệ thống nghiệp vụ tín dụng tiên tiến nhằm góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế của quốc gia. 9 z + Mức độ an toàn về vốn: Trước khi quyết định cho vay vấn đề luôn được các NHTM xem xét thận trọng về mức độ tín nhiệm và năng lực của KH. Việc NHTM mở rộng hoạt động cho vay dựa trên mức độ tín nhiệm của KH là đồng hành với gia tăng lợi nhuận từ đó hoạt động tín dụng được đánh giá có chất lượng là tiền để đảm bảo an toàn vốn, tăng thị phần KH và khả năng sinh lời của NHTM. + Khả năng sinh lời: Hoạt động TD ngân hàng phải giúp NHTM tăng quy mô cho vay, mở rộng mạng lưới, đa dạng hóa đối tượng cho vay nhưng phải dựa trên cơ sở ổn định, an toàn và hiệu quả.
Hạn chế thấp nhất các khoản nợ xấu để đem lại lợi nhuận cho NH, góp phần giảm tỷ lệ nợ xấu, hạn chế rủi ro và tổn thất cho NHTM. Trong luận văn này, tác giả tập trung chủ yếu tiếp cận trên phƣơng diện NHTM thực hiện hoạt động tín dụng phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và đạt được mục tiêu kinh doanh trong từng thời kỳ. Sự cần thiết nâng cao chất lƣợng tín dụng Ngân hàng là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ và có tác động rất lớn tới toàn bộ nền kinh tế. Thực tế cho thấy nguyên nhân của hầu hết các cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra đều bắt nguồn từ ngân hàng.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu tìm ra các giải pháp hữu hiệu để nâng cao CLTD luôn là mục tiêu, đồng thời là nhân tố quan trọng nhất để tồn tại và phát triển của mỗi NHTM trong nền kinh tế đầy cơ hội cho kinh doanh, song cũng chứa đựng đầy thách thức và rủi ro. Do đó, vấn đề nâng cao CLTD của ngân hàng là rất cần thiết. Chất lƣợng tín dụng đối với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội Đảm bảo CLTD là điều kiện để ngân hàng làm tốt chức năng trung tâm thanh toán: Khi CLTD được đảm bảo sẽ tăng vòng quay vốn tín dụng, góp phần giảm thiểu lượng tiền thừa trong lưu thông, kiềm chế lạm phát, củng cố sức mua của đồng tiền, và làm tăng uy tín của ngân hàng. CLTD tạo điều kiện cho ngân hàng làm tốt chức năng trung gian tín dụng trong nền kinh tế quốc dân: là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, tín dụng góp phần điều hòa vốn trong nền kinh tế, tăng cường CLTD sẽ giảm thiểu lượng tiền thừa 10 z trong lưu thông.
Điều đó không chỉ giải quyết mối quan hệ cung cầu về vốn trong nền kinh tế mà còn tạo điều kiện để mở rộng phạm vi thanh toán không dùng tiền mặt, từ đó tiết kiệm chi phí lưu thông cho xã hội, góp phần điều hòa và ổn định lưu thông tiền tệ. CLTD góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định tiền tệ tăng trưởng kinh tế, tăng uy tín quốc gia: Điều này xuất phát từ chức năng tạo tiền của các NHTM, thông qua chuyển khoản, thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt, các ngân hàng có thể mở rộng tiền ghi sổ gấp nhiều lần so với số tiền thực tế có hoặc lý do nào đó các chủ tài khoản có khả năng phát hành sẽ và thanh toán bằng các phương tiền khác cho khách hàng vượt quá số tiền thực tế của họ. Như vậy, nghiệp vụ tín dụng của NHTM có quan hệ chặt chẽ với khối lượng tiền mặt trong lưu thông và là nguyên nhân tiềm ẩn của lạm phát. Đảm bảo CLTD sẽ tạo khả năng giảm bớt lượng tiền thừa trong lưu thông góp phần hạn chế lạm phát, ổn định tiền tệ, tăng uy tín quốc gia bằng việc phát huy tác dụng của các sản phẩm, dịch vụ trong tương lai của các công trình đầu tư.
CLTD góp phần lành mạnh hóa quan hệ tín dụng: Hoạt động TD được mở rộng với các thủ tục được đơn giản hóa, thuận tiện nhưng vẫn tuân thủ các nguyên tắc tín dụng sẽ góp phần cho vay đúng các đối tượng cần thiết, giảm thiểu và đi đến xóa bỏ nạn cho vay nặng lãi chủ yếu hiện nay đang hoành hành ở nông thôn và các vùng xa xôi, hẻo lánh. CLTD sẽ làm tăng khả năng hợp tác và cạnh tranh. Hơn nữa, hoạt động theo cơ chế thị trường, khách hàng có quyền lựa chọn bất kỳ ngân hàng nào đồng thời sự cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng gay gắt, do đó CLTD là điều kiện để ngân hàng mở rộng phạm vi hoạt động và thu hút khách hàng. Tín dụng có mối quan hệ mật thiết với nền kinh tế, xã hội.
Thiết lập một cơ chế chính sách tín dụng đồng bộ, có hiệu quả sẽ có tác dụng tích cực đến mọi mặt của nền kinh tế, xã hội. Thông qua CLTD, các nhà hoạch định chính sách nhà nước và nhà quản lý tiền tệ - ngân hàng xây dựng các mục tiêu chung của nền kinh tế và các mục tiêu riêng biệt của hoạt động tín dụng và CLTD NHTM trong từng thời kỳ. Nâng cao CLTD đồng nghĩa với việc giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng TD và tăng trưởng kinh tế.