phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo & phụ lục, luận văn gồm 3 chƣơng : Chƣơng 1: Một số vấn đề lý thuyết và thực tiễn về chất lƣợng thẩm định tín dụng tại các NHTM Chƣơng 2: Hoạt động thẩm định tín dụng tại NHNo&PTNT Việt Nam Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng thẩm định tín dụng tại NHNo&PTNT Việt Nam 5 z CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƢỢNG THẨM ĐỊNH TÍN DỤNG TẠI CÁC NHTM 1. Tín dụng ngân hàng và vai trò của hoạt động tín dụng 1. Tín dụng ngân hàng Tín dụng xuất phát từ tiếng La tinh Creditidum, trong tiếng Anh là Credit, tiếng Pháp là Crédit (tin tƣởng, tín nhiệm), theo thuật ngữ dân gian Việt Nam tín dụng có nghĩa là sự vay mƣợn. Thuật ngữ tín dụng xuất hiện từ khi loài ngƣời có sự phân công lao động xã hội, sản xuất và trao đổi hàng hóa phát triển.
Trong quá trình sản xuất và trao đổi hàng hóa đã xuất hiện tình trạng nợ nần lẫn nhau giữa các chủ thể kinh tế và sau đó là phát sinh quan hệ vay mƣợn để thanh toán. Đó chính là mầm mống hình thành của tín dụng. Hiểu theo nghĩa rộng, tín dụng là một quan hệ xã hội, quan hệ vay mƣợn giữa các chủ thể kinh tế này với các chủ thể kinh tế khác dựa trên nguyên tắc có hoàn trả. Nói cách khác, tín dụng là sự chuyển nhƣợng tạm thời quyền sử dụng một lƣợng giá trị nhất định dƣới hình thức hiện vật hay tiền tệ trong một thời hạn nhất định từ ngƣời cho vay (ngƣời sở hữu) sang ngƣời đi vay (ngƣời sử dụng) và khi đến hạn phải trả lại với một lƣợng lớn hơn giá trị ban đầu.
Khoản giá trị dôi ra này đƣợc gọi là lợi tức tín dụng. Có thể đƣa ra khái niệm tổng quát về tín dụng nhƣ sau: “Tín dụng là một quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc hoàn trả (cả gốc và lãi) sau một thời gian nhất định”. [13, trang 104] Tín dụng ngân hàng là gì? Tín dụng ngân hàng đƣợc hiểu là “quan hệ vay mượn bằng tiền tệ, trong đó ngân hàng là người cho vay, còn người đi vay là các tổ chức, cá nhân trong xã hội, trên nguyên tắc người đi vay sẽ hoàn trả cả vốn lẫn lãi vào một thời điểm xác định trong tương lai như hai bên đã thỏa thuận”. Nhƣ vậy, mặc dù ngân hàng là tổ chức đi vay để cho vay nhƣng tín dụng ngân hàng ở đây mang ý nghĩa là quan hệ cho vay của ngân hàng đối với khách hàng.
* Các hình thức tín dụng Loại hình tín dụng khá đa dạng, căn cứ vào các tiêu chí khác nhau có thể phân ra nhiều thể loại cho vay khác nhau nhƣ: 6 z Căn cứ vào thời hạn tín dụng: tín dụng ngắn hạn (< 1 năm ), tín dụng trung hạn ( 1-5 năm ), tín dụng dài hạn ( > 5 năm ). Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng: cho vay không đảm bảo và cho vay có đảm bảo. Căn cứ vào hình thức tài trợ: cho vay, chiết khấu thƣơng phiếu, cho thuê, bảo lãnh. Căn cứ vào mục đích sử dụng: cho vay bất động sản, cho vay công nghiệp và thƣơng mại , cho vay nông nghiệp, cho vay cá nhân… Căn cứ vào phương thức hoàn trả: cho vay trả góp, cho vay phi trả góp, cho vay thấu chi… Nhìn chung, giữa các loại hình tín dụng trên luôn có sự tƣơng quan, liên kết chặt chẽ với nhau.
Một món vay ngắn hạn có thể đƣợc cho vay có đảm bảo bằng tài sản (thế chấp, cầm cố tài sản tại ngân hàng hoặc có sự bảo lãnh của bên thứ ba) hoặc cũng có thể đƣợc cho vay không có bảo đảm bằng tài sản nếu ngân hàng đánh giá khách hàng vay vốn có mức độ uy tín cao. Bên cạnh đó, cho vay trả góp hay cho vay bất động sản thƣờng là một món vay trung dài hạn trong khi bảo lãnh thƣờng là các món vay có thời hạn ngắn… Tóm lại, các hình thức tín dụng đƣợc phân chia ở trên đều mang tính tƣơng đối, vì một món vay có thể bao hàm hai hoặc nhiều tiêu chí phân loại nhƣ trên. Vai trò của hoạt động tín dụng ngân hàng * Đối với ngân hàng Có thể coi tín dụng đã và vẫn đang là nguồn thu chính của các NHTM. Không chỉ vậy, việc đáp ứng tốt nhu cầu tín dụng càng đem lại cho ngân hàng một vũ khí cạnh tranh lợi hại, khả năng mở rộng tín dụng thể hiện tiềm lực mạnh về vốn của ngân hàng và chất lƣợng tín dụng tốt càng chứng tỏ năng lực quản lý, năng lực chuyên môn cao của cán bộ ngân hàng,.
Tất cả những điều đó đã tạo nên uy tín, thƣơng hiệu cho các NHTM. Mặt khác, tín dụng đƣợc đẩy mạnh sẽ thu hút các khách hàng thực hiện những giao dịch và sử dụng các dịch vụ khác của ngân hàng một cách thuận tiện và thu lợi nhuận cao hơn. * Đối với doanh nghiệp Tín dụng ngân hàng đóng góp một phần quan trọng giúp nâng cao năng lực cạnh tranh trong kinh doanh cho các doanh nghiệp bởi do yêu cầu của cạnh tranh, các công 7 z ty phải liên tục đổi mới công nghệ, đổi mới kỹ thuật mà hiện nay việc đổi mới này vẫn chủ yếu dựa vào vốn vay từ các NHTM. Mặt khác, tín dụng còn tạo điều kiện mở rộng quy mô sản xuất, chiếm lĩnh thị trƣờng.
Với tƣ cách là một trung tâm tín dụng, NHTM có vai trò rất quan trọng trong việc tích tụ và tập trung mọi nguồn vốn nhàn rỗi trong các cơ sở sản xuất kinh doanh của tất cả các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cƣ, trong nƣớc và ngoài nƣớc để đáp ứng yêu cầu vốn cho các doanh nghiệp thực hiện tái sản xuất mở rộng theo chiều sâu hoặc bù đắp vốn thiếu hụt cho doanh nghiệp. Ngoài ra, hoạt động tín dụng còn góp phần tăng cƣờng việc chấp hành chế độ hạch toán trong các doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Trƣớc khi cho vay vốn, ngân hàng có nhiệm vụ giúp đỡ các đơn vị vay vốn xây dựng kế hoạch xin cấp vốn của mình dựa trên căn cứ về kế hoạch sản xuất, kỹ thuật, tài chính,… Khi xét duyệt cho vay ngân hàng còn căn cứ vào tình hình chấp hành các nguyên tắc cơ bản của chế độ tín dụng, tình hình thực hiện nghĩa vụ hợp đồng kinh tế đối với các đơn vị đối tác cũng nhƣ tôn trọng các quy chế thủ tục cho vay. Đặc biệt, phải có các báo cáo tài chính, kế hoạch sản xuất kinh doanh trong đó nêu rõ mục đích và khẳng định tính khả thi và mức sinh lời của dự án.
Nhƣ vậy, muốn vay đƣợc vốn các doanh nghiệp cần phải thực hiện chế độ hạch toán thật tốt. Tất cả các công tác trên giúp cho doanh nghiệp sử dụng vốn có hiệu quả và ngân hàng có khả năng thu hồi lại đƣợc vốn. * Đối với kinh tế - xã hội Tín dụng đã góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển, điều hòa nguồn vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu. Qua đó, giúp cho quá trình tái sản xuất đƣợc tiến hành một cách thƣờng xuyên liên tục.
Mặt khác, tín dụng ngân hàng còn là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tƣ, từ đó kích thích quá trình tiết kiệm và gia tăng vốn cho đầu tƣ phát triển. Không chỉ vậy, tín dụng ngân hàng còn đẩy mạnh quá trình tích tụ và tập trung vốn nhàn rỗi trong xã hội đã biến mọi nguồn tiền nhàn rỗi phân tán trong xã hội thành nguồn vốn tập trung, qua đó điều hòa quan hệ cung cầu về tiền tệ, thỏa mãn tốt nhu cầu của khách hàng. Là công cụ tài trợ, đầu tƣ cho các ngành kinh tế mũi nhọn, then chốt, hỗ trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển, tín dụng ngân hàng giúp tập trung vốn để cho vay đầu tƣ đúng đối tƣợng, đúng nguyên tắc và có hiệu quả, ƣu tiên cho những ngành then chốt có tính quyết định trong nền kinh tế và hỗ trợ vốn cho các ngành trọng điểm, mũi nhọn có cơ hội tạo ra những bƣớc nhảy quan trọng. Bên cạnh đó, tín dụng ngân hàng còn vận dụng 8 z cơ cấu vốn hợp lý và chính sách lãi suất thích hợp để khuyến khích các ngành kinh tế chậm phát triển.
Là công cụ để Nhà nƣớc điều tiết kinh tế vĩ mô, góp phần chống lạm phát, ổn định tiền tệ và giá cả, tạo công ăn việc làm cho ngƣời lao động: Thông qua việc quy định các mức lãi suất cho vay đối với các NHTM, Nhà nƣớc có thể can thiệp vào lƣợng tiền lƣu thông trong nền kinh tế, qua đó thực hiện chính sách thắt chặt hoặc mở rộng nhằm đạt đƣợc các mục tiêu trên của mình. Tín dụng đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tài trợ xuất nhập khẩu hàng hóa, đầu tƣ máy móc thiết bị dây chuyền sản xuất hiện đại và nhập khẩu công nghệ tiên tiến của nƣớc ngoài, tạo điều kiện mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại… Bên cạnh đó, sự phát triển của hoạt động tín dụng giữa các tổ chức tài chính quốc tế, các quỹ tiền tệ và các Ngân hàng nƣớc ngoài với Chính phủ Việt Nam đã góp phần to lớn thúc đẩy nền kinh tế nƣớc ta có những bƣớc tiến vƣợt bậc, tạo điều kiện thuận lợi để đầu tƣ phát triển kinh tế, phát triển cơ sở hạ tầng, cải tạo lại và xây dựng mới các công trình giao thông, các công trình công cộng phục vụ đời sống của nhân dân. Thẩm định tín dụng 1. Khái niệm, mục đích và ý nghĩa của thẩm định tín dụng Hoạt động của các NHTM là một hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ, do đó nó có tính chất đặc thù riêng và luôn tồn tại nhiều rủi ro so với các hoạt động kinh doanh khác.
Ngân hàng Trung ƣơng với vai trò điều hành quản lý vĩ mô, đã ban hành nhiều loại luật, văn bản nhằm hạn chế rủi ro tín dụng và bảo toàn vốn… Song trên thực tế, rủi ro tín dụng vẫn xảy ra và các sai lầm vẫn lặp lại. Điều này đã và đang trở thành một vấn đề nan giải đối với các NHTM. Việc xảy ra rủi ro tín dụng có rất nhiều nguyên nhân, có thể do yếu tố khách quan nhƣ những biến động bất lợi thuộc về môi trƣờng hoạt động kinh doanh, vấn đề thông tin bất đối xứng dẫn đến lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức xuất phát từ phía khách hàng nhƣng cũng có thể xuất phát từ nhân tố chủ quan từ phía ngân hàng.