Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh chất lượng dịch vụ hình ảnh doanh nghiệp và truyền miệng trong ngành hàng không nội địa việt nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu kinh doanh chất lượng dịch vụ hình ảnh doanh nghiệp và truyền miệng trong ngành hàng không nội địa, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Trường đại học

Đại học Bách Khoa

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2013

96
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Chất lượng dịch vụ trong ngành hàng không nội địa Việt Nam

Chất lượng dịch vụ là yếu tố then chốt trong ngành hàng không, ảnh hưởng trực tiếp đến sự hài lòng của khách hàng. Nghiên cứu đã xác định bốn thành phần chính của chất lượng dịch vụ hàng không bao gồm: thuận tiện, tin cậy, dịch vụ hành khách và dịch vụ trong chuyến bay. Các hãng hàng không cần chú trọng cải thiện từng khía cạnh này để nâng cao trải nghiệm của hành khách. Một nghiên cứu cho thấy, "Chất lượng dịch vụ không chỉ là yếu tố quyết định sự lựa chọn hãng hàng không mà còn là động lực thúc đẩy truyền miệng tích cực từ khách hàng". Việc cải thiện chất lượng dịch vụ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng hình ảnh doanh nghiệp tích cực và từ đó, gia tăng khả năng truyền miệng hiệu quả.

1.1. Các thành phần của chất lượng dịch vụ

Các thành phần của chất lượng dịch vụ bao gồm sự thuận tiện trong việc đặt vé, độ tin cậy trong lịch trình bay và chất lượng phục vụ trên chuyến bay. Sự hài lòng của hành khách phụ thuộc vào việc các hãng hàng không có đáp ứng được mong đợi của họ hay không. Chất lượng dịch vụ được đánh giá thông qua phản hồi của khách hàng, và nếu dịch vụ không đạt yêu cầu, hành khách sẽ có xu hướng không quay lại và không giới thiệu cho người khác. "Dịch vụ hàng không cần phải liên tục cải tiến để giữ chân khách hàng trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gia tăng".

II. Truyền miệng và vai trò của nó trong ngành hàng không

Truyền miệng là một trong những hình thức tiếp thị mạnh mẽ nhất trong ngành hàng không. Khách hàng thường chia sẻ trải nghiệm của họ với bạn bè và gia đình, ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn hãng hàng không của những người xung quanh. Nghiên cứu chỉ ra rằng, "Sự hài lòng của khách hàng với chất lượng dịch vụ sẽ dẫn đến truyền miệng tích cực, từ đó tạo ra một vòng lặp lợi ích cho các hãng hàng không". Các hãng hàng không cần nhận thức rõ về tầm quan trọng của truyền miệng và phát triển các chiến lược marketing phù hợp để tối ưu hóa lợi ích từ điều này.

2.1. Tác động của truyền miệng đến sự lựa chọn của hành khách

Khi hành khách có trải nghiệm tích cực, họ không chỉ trở thành khách hàng trung thành mà còn là những người đại diện cho thương hiệu thông qua truyền miệng. Nghiên cứu cho thấy rằng, "Hành khách có xu hướng chọn hãng hàng không được bạn bè hoặc người thân giới thiệu hơn là hãng không có thông tin từ người quen". Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng hình ảnh doanh nghiệp tích cực để kích thích truyền miệng.

III. Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ hình ảnh doanh nghiệp và truyền miệng

Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ, hình ảnh doanh nghiệp và truyền miệng là một phần quan trọng trong nghiên cứu này. Chất lượng dịch vụ không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến sự hài lòng của khách hàng mà còn gián tiếp tác động đến hình ảnh doanh nghiệp. Hình ảnh doanh nghiệp tốt sẽ thúc đẩy truyền miệng tích cực, trong khi hình ảnh xấu có thể dẫn đến những phản hồi tiêu cực. "Một hãng hàng không có hình ảnh thương hiệu mạnh mẽ sẽ dễ dàng thu hút khách hàng mới thông qua truyền miệng tích cực".

3.1. Hình ảnh doanh nghiệp và sự ảnh hưởng đến truyền miệng

Hình ảnh doanh nghiệp đóng vai trò như một cầu nối giữa chất lượng dịch vụtruyền miệng. Nếu hành khách cảm thấy hài lòng với dịch vụ mà họ nhận được, họ sẽ có xu hướng chia sẻ trải nghiệm tích cực đó với người khác. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng, "Hình ảnh doanh nghiệp tích cực có thể nâng cao khả năng truyền miệng từ khách hàng, đồng thời góp phần xây dựng lòng trung thành của khách hàng".

IV. Chiến lược marketing dựa trên truyền miệng

Các hãng hàng không cần phát triển các chiến lược marketing dựa trên truyền miệng để tối ưu hóa lợi ích từ trải nghiệm của khách hàng. Việc khuyến khích hành khách chia sẻ trải nghiệm tích cực thông qua các chương trình khuyến mãi hoặc các ưu đãi đặc biệt có thể tạo ra một làn sóng truyền miệng mạnh mẽ. "Chiến lược marketing dựa trên truyền miệng không chỉ giúp tăng cường hình ảnh doanh nghiệp mà còn tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững trong ngành hàng không".

4.1. Khuyến khích truyền miệng thông qua trải nghiệm khách hàng

Các hãng hàng không có thể khuyến khích truyền miệng thông qua việc tạo ra những trải nghiệm khách hàng đáng nhớ. Điều này có thể bao gồm dịch vụ khách hàng xuất sắc, các chương trình khách hàng thân thiết, và các sự kiện đặc biệt. "Hành khách sẽ có xu hướng chia sẻ những trải nghiệm tích cực mà họ có được, từ đó gia tăng khả năng tiếp cận khách hàng mới".

05/01/2025
Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh chất lượng dịch vụ hình ảnh doanh nghiệp và truyền miệng trong ngành hàng không nội địa việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 đã giới thiệu vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi và ý nghĩa của nghiên cứu. Chương này sẽ trình bày sơ lược về ngành hàng không Việt Nam, các định nghĩa, khái niệm về dịch vụ, chất lượng dịch vụ, hình ảnh doanh nghiệp và truyền miệng. Bên cạnh đó còn trình bày các kết quả nghiên cứu trước có liên quan. Sơ lược về ngành hàng không dân dụng Việt Nam 2.

Lịch sử phát triển ngành hàng không dân dụng Việt Nam Ngày 15/01/1956, Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành Nghị định số 666/TTg thành lập Cục Hàng không dân dụng Việt Nam. Đó là mốc lịch sử đánh dấu sự ra đời của ngành Hàng không dân dụng Việt Nam (HKDDVN). Vào thời điểm đó, đội bay còn rất nhỏ, chỉ với 5 chiếc máy bay cánh quạt thuộc loại IL-14, AN2, LI-2, T-28. Chuyến bay nội địa đầu tiên được khai trương tháng 09/1956.

Ðối với quốc gia nào cũng vậy, hàng không dân dụng bao giờ cũng là ngành kinh tế kỹ thuật đặc thù, bởi nó được ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến nhất. Hoạt động hàng không dân dụng không chỉ mang tính chất kinh tế đơn thuần mà còn liên quan chặt chẽ đến kinh tế đối ngoại, an ninh, quốc phòng. Giai đoạn trước năm 1975, do yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ tổ quốc, lực lượng hàng không dân dụng đã tổ chức hàng ngàn chuyến bay vận tải phục vụ mở đường Trường Sơn, làm nhiệm vụ quốc tế, song song thực hiện hai nhiệm vụ quân sự và dân dụng. Do đó, trong hơn hai mươi năm kể từ khi được thành lập, ngành HKDDVN hầu như chưa có sự phát triển (Wikipedia, 2013).

Từ sau năm 1975, ngành hàng không dân dụng đã tập trung cho mục đích chính là xây dựng, phát triển kinh tế đất nước, phát triển kinh tế xã hội vùng sâu, vùng xa, duy trì vận tải hành khách, hàng hoá. 6 Trong những năm vừa qua, ngành HKDDVN đã đổi mới, nâng cấp trang thiết bị, nâng cao chất lượng, phạm vi phục vụ. Việc Tổng công ty hàng không Việt Nam chính thức đi vào hoạt động từ tháng 05/1996 đánh dấu một bước chuyển biến lớn trong quá trình xây dựng và phát triển của ngành HKDDVN. Hãng hàng không quốc gia Việt Nam (Vietnam airlines), một trong các thành viên nòng cốt của Tổng công ty HKVN, đóng vai trò trụ cột và có bề dày lịch sử trong ngành HKDDVN.

Ngày 20/10/2002, Vietnam Airlines giới thiệu biểu tượng mới Bông sen vàng. Đây là sự khởi đầu cho chương trình định hướng toàn diện về chiến lược thương hiệu của Vietnam Airlines, kết hợp với những cải tiến về chất lượng dịch vụ, mở rộng mạng đường bay và đặc biệt là nâng cấp đội máy bay. Tháng 10/2003, Vietnam Airlines tiếp nhận và đưa vào khai thác chiếc máy bay hiện đại với nhiều tính năng ưu việt Boeing 777 đầu tiên trong tổng số 10 chiếc Boeing 777 đặt mua của Boeing. Sự kiện này đánh dấu sự khởi đầu của chương trình hiện đại hóa đội bay của hãng.

Ba năm sau đó, Vietnam Airlines trở thành một trong những hàng hàng không có đội máy bay trẻ và hiện đại nhất trong khu vực Đông Nam Á (Wikipedia, 2013). Trong 10 năm liền, HKVN vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng hơn 12,5%, cao gấp rưỡi mức tăng GDP của Việt Nam (7-9%). Số lượng vận chuyển hành khách chỉ 1,1 triệu lượt hành khách năm 1993 đã lên đến 25,3 triệu lượt hành khách năm 2012. Đội máy bay của HKVN không ngừng được tăng cường, cụ thể như năm 2001 là 25 chiếc, năm 2002 là 29 chiếc và đến năm 2012 là 97 chiếc.

Trong đó gồm các máy bay hiện đại (B777, A330, A321, A320, B737, ATR72) với độ tuổi trung bình là 6,5 tuổi, trong đó 44,8% là sở hữu với độ tuổi trung bình là 5,9 tuổi (Lại Xuân Thanh, 2013). Thị trường vận tải hàng không nội địa Việt Nam Là nền kinh tế mới nổi, năng động, với dân số gần 90 triệu dân, Việt Nam được đánh giá là nước có tiềm năng lớn về thị trường hàng không nội địa. Do đó, ngày càng có nhiều hãng hàng không được thành lập, theo đó là sự cạnh tranh giành thị trường diễn ra ngày càng cao. 7 Tại thời điểm trước tháng 03 năm 2013, mạng đường bay nội địa có năm hãng hàng không khai thác gồm (1) Vietnam Airlines, (2) Jetstar Pacific, (3) VASCO, (4) Vietjet Air và (5) Air Mekong (Air Mekong tạm dừng bay từ ngày 01/03/2013 do cơ cấu lại đội máy bay) khai thác với 41 đường bay từ ba trung tâm chính là Hà Nội, Đà Nẵng và Hồ Chí Minh tới 17 Cảng hàng không, sân bay địa phương.

Trong năm 2012, có thêm hai hãng hàng không nội địa được cấp phép là Công ty Hải Âu và Công ty Hành Tinh Xanh. Tuy nhiên, do hai công ty này sử dụng phương tiện bay là trực thăng nên không mấy ảnh hưởng đến thị trường vận tải hành khách của ngành hàng không nội địa Việt Nam. Nhìn chung, sản lượng vận chuyển của các hãng HKVN thị trường nội địa năm 2012 vẫn tăng nhẹ 1,8% so với năm 2011 (sản lượng năm 2012 là 12,2 triệu khách). Kinh tế khó khăn khiến nhu cầu đi lại bằng đường hàng không sụt giảm mạnh là nguyên nhân khiến VNA mất nhiều khách hàng, nhưng quan trọng hơn là sự cạnh tranh của các hãng Jetstar Pacific và Vietjet Air.

Dù có nhiều dãi giá khác nhau nhưng việc duy trì giá ở mức cao và chất lượng dịch vụ chưa được cải thiện tương xứng, đã khiến VNA mất nhiều thị phần đáng kể. Đặc biệt Vietjet Air (vốn chỉ tập trung vào các đường bay trục – cũng là đường bay lợi thế của VNA) liên tục tăng tải, duy trì mức giá thấp, nâng cao chất lượng dịch vụ đã tạo nên cuộc tranh giành thị trường nội địa khá quyết liệt. Theo Kỳ Anh (2013) cho biết, tính đến hết năm 2012 thị phần nội địa của VNA còn 67,5% giảm 5% so với năm 2011, trong khi đó các hãng hàng không khác lần lượt là Jetstar Pacific 13%, Vietjet Air 16,1%, Air Mekong 3,4%. Nếu như trước đây, VNA luôn chiếm trên 80% thị phần nội địa thì hiện nay, thị phần nắm giữ của hãng chỉ còn trên 50% và có nguy cơ tiếp tục giảm mạnh khi các hãng khác có kế hoạch bổ sung đội máy bay.

Trong năm 2013, trong khi VNA chủ động lùi lịch nhận 3 máy bay mới thì Vietjet Air vẫn công bố bổ sung thêm từ 2 đến 8 máy bay mới nhằm tăng tải trên thị trường nội địa (Anh Phương, 2013). Nhìn chung, thị trường hàng không nội địa hiện nay có nhiều biến đổi khả quan. Sự cạnh tranh đã tác động tích cực làm giảm dần vị thế của hãng hàng không 8 dẫn đầu, chia đều thị phần cho các hãng hàng không mới, năng động có chiến lược kinh doanh hợp lý. Chất lượng dịch vụ (Service quality) Xuất phát từ những quan điểm chất lượng trong lĩnh vực sản xuất của những năm 1930, trong những thập kỷ gần đây, chất lượng dịch vụ đã được xác định như một yếu tố cạnh tranh có tính chiến lược.

Chất lượng dịch vụ là một phạm trù rất rộng, phức tạp và có tính đa chiều (Pollack, 2009). Do tính phức tạp đó nên hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về chất lượng dịch vụ. Nhưng nhìn chung, định nghĩa chất lượng dịch vụ của nhiều tác giả trước đây đều xoay quanh ý tưởng “chất lượng dịch vụ là kết quả so sánh giữa sự mong đợi của khách hàng và nhận thức của họ khi đã sử dụng qua dịch vụ” (Caruana & ctg, 2000). Một vài chuyên gia về chất lượng định nghĩa chất lượng dịch vụ như sau.

Chất lượng dịch vụ là mức độ mà một dịch vụ đáp ứng được nhu cầu và sự mong đợi của khách hàng (Lewis & Mitchell, 1990; Dotchin & Oakland, 1994). Chất lượng dịch vụ là cung cấp dịch vụ xuất sắc hoặc vượt trội so với mong đợi của khách hàng (Zeithaml & Bitner, 2000). Chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi của khách hàng và nhận thức của họ khi đã sử dụng qua dịch vụ (Parasuraman & ctg, 1985; Gronroos, 1984). Theo tác giả Bùi Nguyên Hùng & Nguyễn Thúy Quỳnh Loan (2010), mỗi khách hàng thường cảm nhận khác nhau về chất lượng, do vậy việc tham gia của khách hàng trong việc phát triển và đánh giá chất lượng dịch vụ là rất quan trọng.

Trong lĩnh vực dịch vụ, chất lượng là một hàm của nhận thức khách hàng. Nói cách khác, chất lượng dịch vụ được xác định dựa vào nhận thức, hay cảm nhận của khách hàng liên quan đến nhu cầu cá nhân của họ. Trong một thời gian dài, nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng đo lường chất lượng dịch vụ theo nhiều mô hình (Lehtinen & Lehtinen, 1982; Gronroos, 1984; 9 Parasuraman & ctg, 1988). Các nhà nghiên cứu đã chia các mô hình này theo hai trường phái chính: trường phái Bắc Âu (Nordic - đại diện là Gronroos) và trường phái Hoa Kỳ (Parasuraman, Zeithaml & Berry).

Đồng quan điểm với Lehtinen & Lehtinen (1982), Gronroos (1984) đề xuất hai thành phần của chất lượng dịch vụ, gồm (1) chất lượng kỹ thuật (technical quality), đó là những gì mà khách hàng nhận được và (2) chất lượng chức năng (functional quality), diễn giải dịch vụ được cung cấp như thế nào. Zeithaml và Berry là những tác giả nghiên cứu sớm nhất trong lĩnh vực tiếp thị dịch vụ. Và kể từ khi Parasuraman cộng tác với Zeithaml và Berry, đã có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của lĩnh vực chất lượng dịch vụ, góp phần làm cho nó trở thành lĩnh vực nghiên cứu quan trọng hàng đầu. Parasuraman & ctg (1988) đã cố gắng xây dựng thang đo dùng để đánh giá chất lượng dịch vụ.

Theo ông và các cộng sự thì chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi về dịch vụ của khách hàng và nhận thức của họ khi đã sử dụng qua dịch vụ, cuối cùng là đưa ra thang đo bao gồm năm thành phần: (1) tính hữu hình (Tangibles), (2) độ tin cậy (Reliability), (3) tính đáp ứng (Responsiveness), (4) năng lực phục vụ (Assurance), và (5) sự đồng cảm (Empathy). (1) Tính hữu hình (Tangibles): là cơ sở vật chất, trang thiết bị, trang phục nhân viên. Bất cứ thứ gì mà khách hàng có thể thấy, nghe, chạm, nếm, ngửi và tác động đến nhận thức của khách hàng. (2) Độ tin cậy (Reliability): là khả năng thực hiện chính xác các dịch vụ đã hứa và đúng thời hạn ngay lần đầu.

(3) Tính đáp ứng (Responsiveness): là thể hiện sự mong muốn và sẵn sàng của nhân viên phục vụ cung cấp dịch vụ kịp thời cho khách hàng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu về chất lượng dịch vụ và ảnh hưởng của truyền miệng trong ngành hàng không nội địa Việt Nam" của tác giả Lê Thành Công, dưới sự hướng dẫn của các giảng viên tại Đại học Bách Khoa, tập trung vào việc phân tích chất lượng dịch vụ trong ngành hàng không và vai trò của truyền miệng trong việc hình thành nhận thức của khách hàng. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng mà còn chỉ ra cách mà truyền miệng có thể tác động đến quyết định lựa chọn dịch vụ của hành khách. Điều này rất hữu ích cho các nhà quản lý trong việc cải thiện dịch vụ và nâng cao trải nghiệm của khách hàng.

Nếu bạn quan tâm đến việc nâng cao chất lượng dịch vụ trong các lĩnh vực khác, bạn có thể tham khảo bài viết "Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ tại nhà hàng Yoshino thuộc khách sạn Lotte Legend Saigon", nơi mà việc cải thiện dịch vụ cũng được thảo luận. Bên cạnh đó, bài viết "Luận văn về quy trình đón tiếp và phục vụ khách tại bộ phận lễ tân khách sạn Continental" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quy trình phục vụ khách hàng trong ngành khách sạn. Cuối cùng, bài viết "Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng tại chuỗi nhà thuốc Long Châu ở TP.HCM" cũng đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng, tương tự như trong nghiên cứu của Lê Thành Công, giúp bạn mở rộng kiến thức trong lĩnh vực quản trị dịch vụ.