CHƯƠNG 1. YNHA II trong PCVC 2. Cấu trúc YNHA II trong PCVC 2.1 Những dạng thức cụ thể của YNHA II 2.2 Dẫn chứng và thuyết minh 3, Một số thủ pháp tìm YNHA II của TDVB trong PCVC 4, Nhận xét tổng kết IV. KHẢ NANG DOAN ĐỊNH CUA TIÊU ĐỀ VÀ SỰ BO SUNG - SOI SÁNG CUA NỘI DUNG VAN BẢN ĐỐI VỚI TIÊU DE.
cự LJ Luận Văn Tốt Nghiệp Trang & 1. Khả năng đoán định của TD 1.1 Những mức độ đoán định của TD 1.2 Khả năng đoán định của YNHÂ II 2.Sự bổ sung - soi sáng của NDVB đối với TD 3. Độ vénh giữa ý nghĩa của TD và NDVB trong PCVC Phẩnba: ' KE7 LUAN iJ Luận Văn Tốt Nghiệp Trang 9 PHAN KAT. CẤU TRÚC Y NGHĨA CUA TIÊU DEVAN BAN TIENG VIỆT _TR0RG PHONG CACH R&ÔR R&ŸỮ YAN CHUGHG Tiêu để luôn là một tín hiệu có lý do và có ý thức bởi một TD ra đời bao giờ cũng là kết quả của một quá trình suy nghĩ, lựa chọn công phu.
“Việc xác định TP thường bị chỉ phối bởi những nhân tố chủ quan ( như ý định, sở thích, thị hiếu, thẩm mỹ.) lại vita bị chế định bởi những nhân tố khách quan ( như đối tượng tiếp nhận, nội dung để tài phong cách văn bản, hoàn cảnh xã hội.) Tuỳ thuộc vào từng loại văn bản, từng điều kiện cụ thể mà mức độ chỉ phốt của những nhân tổ chủ quan, khách quan ấy có khác nhau” ° chẳng hạn như: TD trong phong cách thông tấn chứa đựng thông tin và sự kiện, hay có mặt một lớp từ ngữ mang tính thời sự. Hoặc như TD trong phong cách khoa học, TB thuộc phong cách nay chủ yếu là ý nghĩa hiển hiện. Đọc xong TD là về cơ bản có thể nắm bắt được nội dung chính của VB, thậm chí hiểu được '_ Trịnh Sam, Ban chất của THVB tiếng Việt và sự miêu tả phân loại chúng ( Thing tin Khoa lọc ĐHSP - số đặc biệt 4/95 ) ? Phan Mậu Cảnh, Về mũi quan hệ giữa đầu để và tác phẩm, TCVH số 7/95 L.) Luận Văn Tốt Nghiệp Trang 10 giới hạn nội dung sẽ trình bày trong VB. Nhìn chung, các VB thuộc phong cách hành chánh, phấp luật, khoa học, chính luận thì chủ để, ND cơ ban của VB được thể hiện một cách tường minh, cô đúc qua TD, Tiêu để trong phong cách ngôn ngữ văn chương cũng là một kiểu tên goi, nhưng nó có những nét đặc trưng riêng biệt.
Tiêu để trong phong cách ngôn ngữ văn chương: Tiêu để trong phong cách ngôn ngữ văn chương ( gọi tất là tiêu để trong phong cách văn chương - viết tit TD trong PCVC ) so với TD trong các phong cách ngõn ngữ khác về mặt cấu trúc là đa dang và phức tạp hơn nhưng cũng thú vị hơn rất nhiều. Ở đây, TĐVB được mã hoá sâu đến mức lắm lúc phải suy nghĩ, thậm chí đôi khi phải có lời bình mới hiểu được dụng ý nghệ thuật của người lập văn bản. Do vậy, xét từ nhiều phương diện, TDVB trong phong cách này hoàn toàn có tính chất mở. Có thể nói, chữ nghĩa trong TD điểu lung linh mờ do’.
Nói tóm lại, TDVB trong PCVC là cuộc sống đã được nhận thức và mã hóa dưởi dạng ký hiệu vẫn tự. Chúng tôi dựa vào đặc điểm ngôn ngữ của TDVB trong PCVC do tác giả Trinh Sim nêu ra để làm cơ sở cho việc nghiên cứu TĐVB trong PCVC. Cu thể, TDVB trong PCVC có mấy đặc điểm sau: a. Sử dụng một cách “tổng hợp" tất cả các phương tiện ngôn ngữ vốn là đặc trưng trong kết cấu TD của một số phong cách khác.
Tất nhiên sẽ được "thẩm thấu” của chất văn chương dưới sự “lan tỏa”, chính xác hơn là dưới dp lực của ngôn ngữ nghệ thuật. Tập trung với tin suất khá cao các phương thức biểu trưng, biểu tượng, các biện pháp tu từ trong tiếng Việt. Có thể nói, cấu trúc TDVB tiểm tàng nhiều chất thơ. c, TĐVB luôn luôn đa nghĩa.
Ý nghĩa hiển hiện nổi rõ trên câu chữ chi 18 cái nền làm cơ sở cho các tang nghĩa khúc xạ nảy sinh. Và trong quan hệ với nội dung toàn văn bản, con đường hình thành nên các tang nghĩa của cấu trúc ' Trịnh Sâm, Tiêu dé văn bản tiếng Việt và sự phát triển của nó từ 1865 đến nay, 1995 ee (¿1 Luận Văn Tốt Nghiệp Trang II TP rất tinh vi. Đây cũng chính là nét riêng khiến cho TDVB trong PCVC khác biệt với tất cả các loại TD trong phong cách khác. Đi sâu vào tìm hiểu “nét riêng” đó của TD trong PCVC là một công việc chấc chấn thú vị và nhiều bất ngỡ.
KHẢ : | ÚC PCVC: Ý nghĩa hiển hiện. (YNHH), ý nghĩa hàm ẩn (YNHA) và ý nghĩa Khi trừu xuất ra khỏi VB hay gắn với VB, TD đều có YNHH. Đó là loại ý nghĩa ro rằng được biểu hiện trên bể mặt hình thức TD. Mat khác,TÐ còn chứa cả YNHÂ.
YNHÂ là loại ý nghĩa không hiển lộ trên bể mặt hình thức TP mà phải được “suy ra” từ YNHH, nhưng trong các chỗ dựa để suy ra nó, tất không thể thiếu được YNHH. Như vậy, YNHH là cơ sở để từ đó làm nảy sinh các tang nghĩa khúc xạ. YNHH một mặt mở ra những khả năng hàm ẩn có thể có, nhưng mặt khắc, chính nó lại hạn định biên độ liên tưởng và đặc biệt quy định những cách dẫn đến YNHA. Trong điều kiện tách khỏi VB để xem xét, ngoài YNHH tất phải có, TP còn có khả năng mang lại hai loại YNHÂ.Đó là: YNHA 1 và YNHA 1.
YNHA 1 là loại YNHA được tạo ra do kết cấu ngôn ngữ của TD. Thường nó được tạo nên nhờ cách ding ngôn từ “ độc đáo” hoặc “khác la”. Tất nhiên, YNHA | không tất yếu phải có trong tất cả mọi TD b. YNHA 2 là loại YNHA do người đọc liên tưởng mà có.
YNHA 2 tất phai có trong tất cả mọi loại TD vì từ YNHH ( và có thể cộng thêm cả YNHA 1) người đọc tất phải dự báo về cái NDVB mang TP ấy. Sự dự báo này là kết quả từ mối liên hệ giữa tổng thé các ý nghĩa có thể có từ TD với các mã tri thức trong đầu người đọc có liên quan đến những diéu chỉ báo do TD Edi ra. Cả YNHA | và YNHA 2 déu thuộc YNHA tang I. Với các phong cách khác, mạnh nhất là trong phong cách thông tấn báo chí- nếu việc đặt TP với nhiều tang nghĩa nhằm m mục đích để gây natn thú cho cn đọc, lỗi kéo độc L2 Luận Văn Tốt Nghiệp Trang 12 thức khác nhau là một đặc trưng của PCVC.
Nét đặc trưng này được thể hiện ngay từ YNHAIvà càng phức tạp - tinh vi hơn ở YNHA II ( YNHA II sẽ được trình bay ở phần IIT).YNHA tẳng I TĐVB trong PCVC: 2.1 YNHA 1: Các phương tiện ngôn ngữ của TPVB trong PCVC luôn được vận dung một cách đặc biệt sáng tạo. Vi vậy, YNHA1 của TDVB trong PCVC được tạo nên dựa trên cả hai mối quan hệ: “quan hệ phi cấu trúc câu" và “quan hệ ngữ nghĩa bất thường" 'Và như vậy, các TD được xây dựng trên quan hệ phi cấu trúc câu và quan hệ ngữ nghĩa bất thường là thuộc quan hệ cấu trúc câu.1 Dựa vào mối quan hệ phi cấu trúc câu: a. Dùng từ dẳng âm: VÍ dụ và phân tích: Hoa Muộn ( Phan Thị Vàng Anh ), Sông Lấp ( Nguyễn Bản ). -Hoa Muộn: có thể muốn nói đến hoa ra muộn, hay hoa nở muộn, nhưng cũng có thể hoa là biểu trưng cho người con gái.
-Sông Lấp: có thể là một tên riêng, nhưng chữ lấp đổng âm với một động từ chỉ cái gì đó bị lấp đi. YNHA 1: về một dòng sông bị lấp. Dùng từ vừa đẳng âm vừa đẳng nghĩa: Ví dụ và phân tích: Con Gấu ( Nguyễn Quang Huy ), Mai ( Nguyên Hương), Đàn Duyén ( Châu Giang ). L ‘Trinh Sam, Tiêu dé văn bản tiếng Việt và sự phát triển của nó từ 1865 đến nay, 1995 LQ Luận Văn Tốt Nghiệp Trang 13 -Con Gấu: Một con gấu cụ thể hoặc là tên gọi của một động vat gan noi chung.
-Mai: La tên riêng của một người, hoặc cũng có thể tên một loài hoa thưởng nở vào mùa xuân. -Đàn Duyên: Dan để làm duyên, đàn là duyên cớ - duyén do, cái duyên với dan. Cần thấy, nếu các ngữ đoạn trước các TD liệt kê ở trên xuất hiện trong một ngữ cảnh khác thì có thể các biên độ liên tưởng không rộng như vậy. Tại day, cho TD là TD của các VB thuộc PCVC nên khi tri giác về “mặt sau” của nó.
Nói khác, chính đặc điểm của phong cách ngôn ngữ văn chương khiến người đọc buộc lòng phải suy tưởng theo nhiều chiểu, chứ ít khi tri giác bằng cái nghĩa đen vốn có của các TD. Dùng từ Hán Việt: Vídụ: Nhân Sứ (Hoà Vang), Hậu Thiên Đường ( Nguyễn Thị Thu Huệ ), Kẻ Đạo Văn ( Hoà Vang ), Tràng Giang ( Huy Cận ), Nguyệt Cam ( Xuân Diệu ), Thiên Hương( Hỗ Thị Hải Âu k& 2.2 Dưa vào mối quan hệ ngữ nghĩa bất thường: Nói cho gon là các TD trích dẫn. Người ta nhận biết được là do các ngữ đoạn này vốn rất quen thuộc, mà ở một trình độ bình thường ai cũng hiểu. Ví dụ: Tám Cẳng Hai Càng ( Nguyễn Quang Trung ), Ngày Xửa Ngày Xưa ( Nguyễn Quang Lập ) -Tám cẳng hai cang,TP làm ta nhớ đến câu đồng dao “con cua tam cng hai càng”.
LU Luận Văn Tốt Nghiệp Trang l4 -Ngày xửa ngày xưa, đó là một câu nói quen thuộc dường như thành lệ khi bất đầu kể một câu chuyện cổ tích mà bất cử ai cũng dùng - và bất đầu bằng cách nói ấy. Dùng lối nói bỏ lửng: Yí dụ: Tương tư, chiểu.(Xuân Diệu) Ví dụ và phần tích: -Kẻ Sát Nhân Lương Thiện ( Lại Văn Long ): Kẻ sát nhân thường là kẻ ác, không có tấm lòng nên mới trở thành kẻ sát nhân. YNHA 1 : Kẻ sát nhân - một tên giết người nhưng không phải là kẻ ác, kẻ sát nhân này có tấm lòng lương thiện, do một hoàn cảnh nghiệt ngã nào đó buộc lòng phải sát nhân. , -Mùa Đông Am Áp ( Nguyễn Thị Thu Huệ ): Mùa đông như tên gọi - nó mang lại sự lạnh lẽo, vậy tại sao mùa đông lại ấm áp? YNHA 1: có điểu gì đó làm cho mùa đông trở nên ấm áp.
Dùng lối nói thái quá: d.1 Khuếch đại: Ví dụ: -Thợ Dao Đá Truyền Kiếp ( Ngô Tự Lập ): xưa nay ta vẫn nghĩ, một người thợ đào đá - nếu con cháu cũng theo nghé đào đá thì cũng không gọi là sự truyền kiếp.