Chương I TỔNG QUAN 1. Khái quát về rừng Thông ba lá 1. Đặc điểm phân loại Thông ba lá Thông ba lá (Pinus keysia Royle ex Gordon) là loài cây gỗ lớn, cao 30-35m, đường kính 50-60cm. Thân thẳng, vỏ dày và có màu nâu sẫm, nứt dọc, bong mảng, chịu lửa tốt.
Thông ba lá thường có ba lá kim màu xanh thẫm, mọc cụm trên chồi ngắn (bẹ), dài 15-20cm. Quả nón hình trứng viên chùy, dài 5-9cm. Quả có vỏ dày và có rốn rất rõ, có khi có gai nhọn. Hạt có cánh dài 1,5-2,5cm.
Thông ba lá ra hoa vào tháng 4-5, quả chín vào tháng 11-12 năm sau. Quả có thể tồn tại trên cây đến 9- 10 năm. Thông ba lá có thể ra hoa ngay từ lúc 6-7 tuổi. Gỗ mềm, nhẹ, màu vàng đến da cam; tỷ trọng 0,650-0,700[4].
Đặc tính sinh thái Theo Thái Văn Trừng (1999)[10], Thông ba lá phân bố ở Ấn Độ, Miến Điện, Thái Lan, Trung Quốc, Lào và Việt Nam… Ở Việt Nam, Thông ba lá phân bố ở khu vực Tây Nguyên, Hà Giang, Yên Bái và Lào Cai. Thông ba lá là loài cây tự nhiên của khu hệ thực vật núi vừa và cao. Ở phía nam nước ta, Thông ba lá phân bố ở những nơi có độ cao 500 đến 1.900 m so với mặt biển; lượng mưa trung bình từ 1.500 mm trở lên; nhiệt độ bình quân hàng năm từ 18-200C. Thông ba lá loài cây ưa sáng mạnh, tái sinh tốt trên đất trống.
Nó đòi hỏi đất tốt, tầng đất sâu và ẩm. Những nghiên cứu về rừng Thông ba lá Năm 1988, dựa trên cơ sở điều kiện tự nhiên và sinh trưởng của Thông ba lá, Nguyễn Ngọc Lung[6] đã phân chia rừng Thông ba lá thành 3 vùng - đó là phạm vi thích hợp với độ cao từ 1.800 m; phạm vi mở rộng với độ cao dưới 1.800 m và phạm vi giới hạn với độ cao dưới 600 m. Phạm vi thích hợp là trung tâm phân bố của rừng Thông ba lá thuần loài; trong đó Thông ba lá chiếm ưu thế ở tầng ưu thế sinh thái. Phạm vi mở rộng là vùng ngoại vi ở độ cao dưới 1.
Khi phân bố ở độ cao dưới 1.000 m, Thông ba lá mọc hỗn giao với Thông 2 lá (Pinus merkusii) và Dầu trà beng (Dipterocapus obtusiforlius). Nếu phân bố ở độ cao trên 1.800 m, Thông ba lá mọc chung với những loài cây thuộc họ Fagaceae và thường hỗn giao theo đám. Ở phạm vi giới hạn (dưới 600 m), Thông ba lá sinh trưởng kém. Khi nghiên cứu cấu trúc rừng Thông ba lá, Nguyễn Ngọc Lung (1988; 1999)[6], [7] đã mô tả phân bố N/D bằng hàm Normal, Weibull và Lognormal tùy theo tuổi.
Viên Ngọc Hùng (1989)[5] đã xây dựng biểu cấp đất rừng Thông ba lá Lâm Đồng. Lê Hồng Phúc (1995)[9] cũng đã nghiên cứu về cấu trúc và sinh khối rừng trồng Thông ba lá ở khu vực Đà Lạt tỉnh. Phó Đức Đỉnh (1995)[1] đã nghiên cứu những phương thức khai thác - tái sinh rừng Thông ba lá ở khu vực Đà Lạt tỉnh Lâm Đồng. Khi nghiên cứu cấu trúc rừng Thông ba lá, Nguyễn Ngọc Lung (1988; 1992)[6], [7] đã mô tả phân bố N-D bằng hàm phân bố chuẩn, Weibull và lognormal tùy theo tuổi.
Lê Hồng Phúc (1995)[9] cũng sử dụng hàm Weibull và lognormal để mô tả phân bố N-D của rừng trồng Thông ba lá ở Đà Lạt. Những nghiên cứu về đặc tính sinh thái của rừng Thông ba lá cũng đã được nhiều tác giả quan tâm. Phạm Trọng Nhân (2001)[8] và Nguyễn Văn Thêm (2003)[12], [13], [14] đã nghiên cứu ảnh hưởng của những yếu tố khí hậu đến sinh trưởng của Thông ba lá ở khu vực Đà Lạt. Năm 2005, Nguyễn Văn Thêm[17] đã ứng dụng hàm lập nhóm tuyến tính Fisher để phân cấp sinh trưởng rừng Thông ba lá từ 4-20 tuổi ở Đà Lạt tỉnh Lâm Đồng.
Phương pháp phân cấp sinh trưởng cây rừng 1. Phân loại cấp sinh trưởng cây rừng của Kraft (1884) Theo G. Kraft (1884) (Dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 2004)[16], toàn bộ cây gỗ của một quần thụ thuần loài đồng tuổi có thể được phân chia thành 5 cấp sinh trưởng theo thứ tự giảm dần sức sống. Những cây cấp I là những cá thể tốt nhất.
Cây cấp II và III tương ứng là những cá thể khá và trung bình. Những cây cấp IV và V tương ứng là những cá thể xấu (bị chèn ép) và sắp bị đào thải. Những chỉ tiêu sử dụng để phân cấp sinh trưởng cây rừng bao gồm vị trí tán cây trong tán rừng, độ lớn 5 và hình dạng tán lá, khả năng ra hoa quả, tình trạng sinh lực, cây còn sống hay đã chết. Mỗi chỉ tiêu có một hệ thống tiêu chuẩn để nhận biết và đánh giá.
Cây cấp I là những cá thể cao nhất, đường kính thân cây to nhất, tán lá phát triển tốt nhất. Chiều cao của chúng bằng 1,2 - 1,3 H , với H là chiều cao bình quân lâm phần. Đây là nhóm cây sinh sản mạnh nhất, chất lượng hạt tốt nhất. Cây cấp II bao gồm những cá thể sinh trưởng và phát triển tốt, nhưng có các tiêu chuẩn thấp hơn cây cấp I.
So với H của quần thụ, chiều cao cây cấp II đạt 1,1 - 1,15 H. Cây cấp II cũng có khả năng sinh sản tốt, chất lượng di truyền tốt, tiả cành tự nhiên tốt và thường chiếm số lượng cá thể khá lớn. Cây cấp III là những cá thể trung bình, chiều cao đạt 0,95 - 1,0 H , lượng hoa quả đạt 35 - 40% so với cây cấp I. Số lượng cây cấp III thường đạt lớn nhất.
Cây cấp IV là những cá thể bị chèn ép, nhưng chúng vẫn có thể tham gia vào tầng thấp của tán rừng. Cây cấp IV được phân nhỏ thành hai nhóm: IVa là cây có tán hẹp nhưng đều; IVb là cây có tán dạng cờ lệch về một phía. Nói chung, cây cấp IV không ra hoa quả. Nếu loại bỏ cây cấp IVb ra khỏi tán rừng thì không để lại lỗ trống trong tán rừng.
Ngược lại, khi loại bỏ cây cấp IVa thì để lại lỗ trống nhỏ trong tán rừng. Cây cấp V bao gồm những cá thể đang chết hoặc đã chết, nhưng chúng vẫn chưa bị đổ gẫy. Cây cấp V được chia thành hai phân cấp nhỏ - đó là cấp Va và Vb. Cây cấp Va là những cây đang chết nhưng một vài bộ phận còn sống.
Cây cấp Vb là những cây đã chết, nhưng chúng chưa bị đổ gãy. Nhóm cây cấp V được gọi là nhóm cây bị đào thải. Nếu loại bỏ cây cấp V thì không để lại lỗ trống trong tán rừng. Phân cấp sinh trưởng cây rừng của Kraft có những ưu điểm như đơn giản, sử dụng nhiều chỉ tiêu biểu thị vai trò của mỗi cá thể trong quần thể, có ý nghĩa trong tuyển chọn cây giống và chặt nuôi rừng, dễ áp dụng trong phân loại cây theo cấp sinh trưởng ở rừng thuần loại đồng tuổi.
Tuy vậy, hệ thống phân loại của Kraft cũng có một số nhược điểm. Trước hết, hệ thống phân loại này chỉ áp dụng tốt cho rừng thuần loài đồng tuổi và rừng chưa qua tiả thưa. Hai là, sử dụng các chỉ tiêu định tính nên khó đưa ra tiêu chuẩn định lượng. Chẳng hạn, bằng mắt thường rất 6 khó so sánh những cây ra hoa quả nhiều với cây ra hoa quả ít, cây sinh trưởng tốt với cây sinh trưởng kém.
Ba là, cách phân loại này không phản ánh rõ động thái biến đổi của cây rừng theo thời gian. Thật vậy, cây ưu thế và cây bị chèn ép không phải lúc nào cũng giữ vị trí ổn định đến tuổi trưởng thành. Do tương tác qua lại giữa các cá thể cây rừng với nhau và giữa cây rừng với môi trường, nên một bộ phận cây cấp I và II có thể chuyển xuống nhóm cây cấp III và cấp IV, còn một bộ phận cây cấp III và IV lại chuyển lên nhóm cây thuộc cấp cao hơn. Bốn là, phương pháp này chưa cho biết rõ chất lượng cây rừng về mặt kỹ thuật.
Chẳng hạn, hai cây có vị trí tán trong tán rừng như nhau, nhưng chất lượng thân cây có thể khác nhau. Mặc dù còn một vài nhược điểm, nhưng hệ thống phân loại của Kraft rất thông dụng và được áp dụng nhiều trong nghiên cứu và sản xuất. Phương pháp phân cấp sinh trưởng cây rừng ở Pháp Cuối thế kỷ XIX, các nhà lâm học Pháp đã đưa ra hệ thống phân loại cấp sinh trưởng của những cây gỗ hình thành rừng Giẻ. Hệ thống này bao gồm 3 cấp.
Cấp cây tốt là những cây to lớn nhất, hình dạng thân đẹp, tán cân đối. Cấp cây cần chặt bỏ là những cây bé nhỏ, sinh trưởng kém, thậm chí cả cây to lớn nhưng chất lượng kỹ thuật kém, cây cản trở cây tương lai cần giữ lại. Cây phụ trợ là những cây có lợi cho cây cần giữ lại, nằm ở tầng thấp, có ý nghĩa trợ giúp cho cây cần giữ lại tỉa cành tốt và chống được yếu tố bất lợi (Dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 2004)[16]. Phân loại cấp năng suất cây rừng của W.
Shadelin và Leibundgyt Nhà lâm học Thụy sỹ W. Shadelin (Dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 2004)[16] đã đề xuất hệ thống phân cấp sinh trưởng cây rừng dựa trên 3 dấu hiệu – đó là vị trí tán cây trong lâm phần, chất lượng thân cây và chất lượng tán lá. Vị trí tán cây trong lâm phần được chia ra 4 cấp; trong đó mỗi cấp được mã hoá bằng các số hàng trăm. Số 100 biểu thị những cây nằm ở tầng ưu thế sinh thái, số 200 - tầng bán ưu thế, số 300 và 400 - tương ứng tầng phụ thuộc và bị chèn ép.
Chất lượng thân cây được chia ra 3 cấp; trong đó mỗi cấp được mã hoá bằng các số hàng chục. Cây có thân đẹp (tốt), trung bình và xấu biểu thị tương ứng bằng số 10, 20 và 30. Chất lượng tán 7 lá được chia thành 3 cấp và tương ứng mỗi cấp được mã hoá bằng các số hàng đơn vị. Số 1 chỉ cây có tán lá tốt, số 2 – cây có tán lá trung bình, số 3 - cây có tán lá xấu.
Để khắc phục những thiếu sót và mở rộng khả năng áp dụng hệ thống phân cấp cây rừng của Shadelin, Leibundgyt (học trò của Shadelin) đã cải tiến hệ thống phân loại của Shadelin bằng việc xây dựng một hệ thống phân cấp sinh trưởng cây rừng chi tiết hơn. Phân cấp sinh trưởng cây rừng của Leibundgyt được Liên hiệp các viện nghiên cứu lâm nghiệp quốc tế (IUFRO) đánh giá rất cao và gọi là “Phân loại cây IUFRO”.