MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn ca lâm sàng Hiện tượng phải kiểm tra lại khóa cửa một lần cho yên tâm sau khi đi khỏi nhà là một hiện tượng tương đối phổ biến trong dân số. Thông thường, những hiện tượng như vậy không quá gây khó chịu và mất thời gian cho những người gặp phải. Tuy vậy, nếu hiện tượng này trở nên quá thường xuyên, khiến cá nhân cảm thấy khó chịu và tốn quá nhiều thời gian cho các hành vi như vậy thì có thể đó là những dấu hiệu đầu tiên của Rối loạn ám ảnh - cưỡng chế (sau đây viết tắt là OCD).
Về mặt dịch tễ học, rối loạn này ảnh hưởng tới khoảng 1-3% dân số trong đời sống của họ (Brock và cộng sự, 2024). OCD được cho là phổ biến hơn ở nam giới đối với trẻ em; trong khi, ở trẻ vị thành niên và người trưởng thành, nữ giới có vẻ phổ biến hơn (Mathes và cộng sự, 2019). Theo nhận định của Butcher và cộng sự (2016), OCD thường có xu hướng trở thành rối loạn mạn tính. Đặc trưng của OCD là sự tồn tại của ý nghĩ ám ảnh và/hoặc hành vi cưỡng chế.
Ý nghĩ ám ảnh là những suy nghĩ, hình ảnh, xung động cố định và lặp đi lặp lại, gây khó chịu cho thân chủ. Hành vi cưỡng chế là các hành vi được cá nhân thực hiện để làm giảm cảm giác khó chịu hoặc ngăn chặn sự kiện nào đó cá nhân sợ hãi xảy ra. Sự khác biệt giữa người có OCD và những suy nghĩ ám ảnh thông thường nằm ở việc cá nhân thường phải dành rất nhiều thời gian để thực hiện hành vi cưỡng chế, hoặc những vấn đề này gây đau khổ rõ rệt hay suy giảm các hoạt động chức năng (Tổ chức Y tế Thế giới, 2019). OCD có thể gây tổn hoại rất nhiều tới đời sống của những người mắc phải.
Theo nhận định của Markarian và cộng sự (2010), OCD có thể gây ảnh hưởng đến chất lượng của giấc ngủ, cũng như các hoạt động chức năng trong các lĩnh vực như công việc, học tập. Có một số “con đường” mà qua đó OCD tổn hại tới đời sống của cá nhân: (1) Gây mất thời gian của cá nhân, (2) Các phản ứng lo âu đi kèm với sự xuất hiện của suy nghĩ ám ảnh, gây suy giảm chất lượng giấc ngủ, (3) Sự né tránh đối với các yếu tố có thể kích hoạt suy nghĩ ám ảnh và (4) Hệ quả khác của các hành vi cưỡng chế ở cá nhân. Có thể thấy rằng OCD là một rối loạn cần được can thiệp và hỗ trợ để giúp những người gặp phải thích ứng với những triệu chứng OCD; từ đó, duy trì các hoạt động chức 8 năng cần thiết cũng như giảm những áp lực mà OCD mang lại. Từ những lý do trên, kết hợp với mong muốn góp phần giúp đỡ thân chủ được đề cập tới trong đề án này, học viên quyết định chọn đề tài “Can thiệp tâm lý cho một trường hợp có rối loạn ám ảnh cưỡng chế” làm đề án tốt nghiệp.
Nhiệm vụ nghiên cứu ● Trình bày cơ sở lý luận, đánh giá, chẩn đoán vấn đề OCD. ● Thực hiện can thiệp vấn đề OCD cho TC, đánh giá hiệu quả của quá trình can thiệp. ● Đưa ra kết luận và khuyến nghị cho ca lâm sàng. LÝ LUẬN VỀ RỐI LOẠN ÁM ẢNH CƯỠNG CHẾ 1.1 Tổng quan nghiên cứu về rối loạn ám ảnh cưỡng chế 1.1 Các nghiên cứu về thực trạng rối loạn ám ảnh cưỡng chế Nghiên cứu của Fawcett và cộng sự (2020) ước lượng rằng trên thế giới, tỷ lệ người mắc OCD vào khoảng 1,1%, trong một thời điểm; theo giai đoạn thì con số này rơi vào khoảng 0,8% và trong toàn bộ cuộc sống có khoảng 1,3% dân số mắc chứng OCD.
Nghiên cứu này cũng gợi ý rằng trên một nhóm mẫu điển hình, nữ giới có nguy cơ mắc OCD cao gấp 1,6 lần nam giới và có những xu hướng cho thấy OCD khởi phát nhiều hơn ở người trưởng thành trẻ tuổi. Nghiên cứu của Brakoulias và cộng sự (2017) về các rối loạn đồng diễn của các trường hợp OCD trên thế giới cũng cho thấy rằng có rất nhiều rối loạn có xu hướng đồng diễn với OCD. Một số rối loạn có thể kể đến là rối loạn trầm cảm chủ yếu, rối loạn nhân cách ám ảnh cưỡng chế, rối loạn lo âu lan tỏa, rối loạn hoảng sợ kịch phát và rối loạn lo âu xã hội. Nghiên cứu của Fullana và cộng sự (2010) trên dân số của 6 nước châu Âu đã chia các loại triệu chứng của OCD thành các nhóm khác nhau.
Kết quả khảo sát cho thấy, tỷ lệ xuất hiện của bất kỳ nhóm triệu chứng OCD nào trong toàn bộ đời sống của dân số chiếm 13%. Trong đó, nhóm ý nghĩ ám ảnh và hành vi cưỡng chế tương ứng Nguy hại/Kiểm tra là nhóm phổ biến nhất (8%), sau đó là nhóm Ám ảnh cơ thể (5%) và nhóm Sắp xếp/Thứ tự (3%). Nữ giới dễ có các nhóm triệu chứng ám ảnh về Nhiễm bẩn/Tẩy rửa và nhóm Ám ảnh cơ thể hơn so với nam giới. Tất cả các nhóm này đều có liên hệ với sự gia tăng về nguy cơ đối với hầu hết các rối loạn tâm thần.
Tỷ lệ mắc của các nước trong nghiên cứu này có sự khác biệt nhất định. Trên một nghiên cứu về OCD tại Đài Loan, số trường hợp khởi phát OCD mỗi năm là 27.57 với mỗi 10000 dân số, và tỷ lệ hiện mắc OCD trong một năm là 65.05 với mỗi 10000 dân số. Số trường hợp khởi phát và tỷ lệ hiện mắc tăng dần theo độ tuổi, đạt tới đỉnh ở tuổi 18-24 với nam giới. Đối với nữ giới, khoảng tuổi này là 35-44 tuổi.
Khoảng 53% người trưởng thành và 48% trẻ em, vị thành niên có ít nhất một vấn đề tâm thần đồng diễn. 10 Ở Việt Nam hiện nay chưa có nhiều nghiên cứu về OCD. Chủ đề này đã được nhắc tới trong mô tả của Nguyễn Văn Thiêm (2002) về “rối loạn ám ảnh” và “rối loạn cưỡng bức” ở trẻ em, cũng như một số quan điểm của tác giả về vấn đề này. Một nghiên cứu khác của Tô Thanh Phương (2016) về rối loạn ám ảnh cưỡng bức cũng đã mô tả về một liệu pháp được thực hiện tại Bệnh viện Tâm thần Trung ương I dành cho các bệnh nhân có vấn đề rối loạn ám ảnh cưỡng bức.
Ngoài ra, những mô tả về sự tồn tại của OCD cũng xuất hiện trong một số nghiên cứu khác, ví dụ như: nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Mai và cộng sự (2020) chỉ ra rằng ở các trẻ em đang điều trị HIV bằng ARV, có 3.5% các em có những vấn đề liên quan tới lo lắng, trong đó có OCD; nghiên cứu của Nguyễn Thị Phú và Ngô Tích Linh (2016) cũng chỉ ra rằng có khoảng 3% bệnh nhân rối loạn cơ thể hóa trong nghiên cứu có OCD; nghiên cứu của Phạm Văn Mạnh và cộng sự (2021) chỉ ra rằng có 16,3% bệnh nhân loạn thần do rượu có vấn đề OCD; nghiên cứu của Trần Thị Minh Đức và Hà Thị Kim Cúc (2015) chỉ ra rằng các vấn đề lo âu của phụ nữ sau sinh có thể xuất hiện dưới ba dạng, trong đó có một dạng là OCD.2 Các nghiên cứu về hệ quả của rối loạn ám ảnh cưỡng chế Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ (2022) đã mô tả rất rõ ràng về những hệ quả của OCD như sau: OCD có liên hệ với sự suy giảm chất lượng đời sống cũng như sự trục trặc trong các hoạt động chức năng về xã hội hoặc công việc. OCD khiến cá nhân gặp vấn đề trong nhiều khía cạnh của đời sống. Thông thường các vấn đề trong đời sống có liên hệ với độ nặng của các triệu chứng. Sự trục trặc trong đời sống có thể đến từ lượng thời gian mà cá nhân bị mất do ý nghĩ ám ảnh được kích hoạt, hoặc do cá nhân thực hiện hành vi cưỡng chế.
Sự né tránh các tình huống kích hoạt các ý nghĩ ám ảnh hoặc hành vi cưỡng chế cũng có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động chức năng. Thêm vào đó, Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ cũng khẳng định rằng các triệu chứng cụ thể cũng có thể tạo ra những cản trở khác nhau đối với đời sống của cá nhân: - Các ám ảnh về sự nguy hiểm có thể khiến các mối quan hệ với gia đình, bạn bè trở nên đe dọa; do đó cá nhân sẽ né tránh các mối quan hệ đó. - Sự ám ảnh về thứ tự hoặc sắp xếp có thể khiến cá nhân không thể hoàn thành các bài tập hoặc dự án công việc đúng hạn bởi vì những thứ này không bao giờ là “đủ ổn”, từ đó gây ra việc thất bại trong học tập hoặc mất việc. 11 - Các hệ quả về sức khỏe thể chất cũng có thể có liên quan đến một số nhóm triệu chứng đặc thù như ám ảnh về việc bị nhiễm bẩn.
Ví dụ, người có ám ảnh bị nhiễm bẩn sẽ có thể không đi thăm khám tại bệnh viện (do sợ tiếp xúc với vi khuẩn), hay gặp một số vấn đề về da (do rửa tay quá nhiều). - Đôi khi, bản thân các triệu chứng cũng sẽ cản trở tiến trình trị liệu (ví dụ như khi cá nhân từ chối uống thuốc vì cho rằng trên thuốc có dính bẩn). - Nếu rối loạn này khởi phát trước tuổi trưởng thành, cá nhân có thể xuất hiện một số vấn đề liên quan đến phát triển. Trẻ vị thành niên có thể tránh tương tác xã hội với người đồng trang lứa, người trưởng thành trẻ tuổi có thể gặp khó khăn trong việc rời khỏi nhà.
Điều này có thể dẫn đến sự thiếu tự chủ và phụ thuộc về kinh tế vào gia đình của cha mẹ. - Thêm vào đó, một số cá nhân có OCD có thể cố gắng “áp đặt” các nguyên tắc trong gia đình do các ý nghĩ ám ảnh của họ gây ra, và điều này có thể gây đảo lộn trong cấu trúc gia đình.3 Tổng quan về nguyên nhân của rối loạn ám ảnh cưỡng chế Hiện nay các nhà khoa học chưa biết chính xác về nguyên nhân gây ra OCD. Tuy vậy, có nhiều quan điểm về nguyên nhân của OCD được đưa ra. OCD được cho là có một số yếu tố di truyền.
Mahjani và cộng sự (2021) khi tổng hợp các tài liệu về tính di truyền của OCD đã nhận định rằng OCD là một rối loạn di truyền, đa gen với tác động của cả biến thể gen phổ biến và biến thể gen hiếm gặp, thậm chí bao gồm cả các biến thể có hại cho di truyền.