Tổng quan luận án

Hội chứng viêm não cấp (HCVNC) do vi rút là một vấn đề y tế công cộng trên phạm vi toàn cầu với tỷ lệ tử vong dao động từ 10% đến 20% và tỷ lệ di chứng thần kinh kéo dài chiếm từ 10% đến 30% ở người mắc bệnh (bao gồm động kinh, liệt chi, giảm vận động, rối loạn ngôn ngữ và suy giảm trí tuệ). Trên thế giới, tỷ lệ hiện mắc HCVNC do vi rút được ghi nhận từ 3,5 đến 7,4/100.000 dân, tập trung cao ở nhóm trẻ em (10,5 - 13,8/100.000 dân) so với người trưởng thành (2,2/100.000 dân). Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc HCVNC ở các tỉnh phía Bắc giai đoạn 1998 - 2007 ghi nhận từ 1,4 đến 6,0/100.000 dân. Trước năm 2000, vi rút viêm não Nhật Bản (VNNB) là căn nguyên chủ đạo, chiếm trên 50% trong tổng số 2.000 - 3.000 ca mắc HCVNC hàng năm. Nhờ chương trình tiêm chủng mở rộng vắc xin VNNB đạt tỷ lệ bao phủ trên 90% ở trẻ từ 1 - 5 tuổi, số ca HCVNC đã giảm còn 1.200 - 1.500 ca/năm và tỷ lệ xác định do VNNB giảm xuống còn 5% - 35% tùy từng địa phương.

Tại tỉnh Bắc Giang, vụ dịch viêm não năm 1999 từng ghi nhận 203 ca mắc với tỷ lệ tử vong trên 30%, trong đó VNNB chiếm 33,3% và phần lớn trường hợp còn lại chưa rõ căn nguyên. Mặc dù địa phương đã nâng tỷ lệ bao phủ vắc xin VNNB cho trẻ từ 1 - 5 tuổi đạt trên 90% từ năm 2004 - 2007, số ca mắc HCVNC trên địa bàn vẫn không có chiều hướng giảm rõ rệt và các đợt bùng phát cục bộ vẫn xuất hiện theo chu kỳ 2 - 3 năm (điển hình vào các năm 1999, 2001, 2004, 2007, 2008 và 2011). Các nghiên cứu côn trùng học giai đoạn 2006 - 2012 tại địa phương đã xác định sự lưu hành của vi rút VNNB, vi rút Banna (BAV) và vi rút Nam Định (NDiV) trong quần thể muỗi Culex. Tuy nhiên, bức tranh tổng thể về các tác nhân vi rút gây bệnh trên người và đặc điểm sinh học phân tử của chúng trong suốt giai đoạn dài chưa được phân tích hệ thống. Do đó, luận án tiến sĩ y học của nghiên cứu sinh Dương Thị Hiển, chuyên ngành Vi sinh y học (Mã số: 62 72 01 15), được thực hiện tại Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương nhằm giải quyết khoảng trống thực tiễn này.

Luận án xác định hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Xác định một số căn nguyên vi rút Arbo, vi rút đường ruột và vi rút Herpes gây hội chứng viêm não cấp tại Bắc Giang, 2004 - 2017.
  2. Mô tả một số đặc điểm sinh học phân tử vi rút viêm não Nhật Bản, vi rút đường ruột gây hội chứng viêm não cấp tại Bắc Giang, 2004 - 2017.
  • Đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhân được chẩn đoán lâm sàng mắc HCVNC nghi do vi rút điều trị tại các bệnh viện trên địa bàn tỉnh Bắc Giang; các mẫu bệnh phẩm dịch não tủy (DNT) và huyết thanh (HT) thu thập từ bệnh nhân; các chủng vi rút VNNB và vi rút đường ruột (VRĐR) được phân lập hoặc phát hiện vật liệu di truyền.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Không gian: Tỉnh Bắc Giang, thu thập bệnh phẩm tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang, Bệnh viện Đa khoa Khu vực Lục Ngạn và Bệnh viện Sản Nhi Bắc Giang; phân tích xét nghiệm tại Khoa Vi rút - Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương và Phòng thí nghiệm Nagasaki - NIHE Friendship.
    • Thời gian: Giai đoạn 14 năm, từ năm 2004 đến năm 2017.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các công trình nghiên cứu dịch tễ học và vi sinh học về HCVNC trên thế giới và tại Việt Nam:

  • Nghiên cứu quốc tế: Jmor và cộng sự (2008) phân tích tổng hợp từ 87 nghiên cứu toàn cầu chỉ ra tỷ lệ mắc HCVNC ở các nước phương Tây là 7,4/100.000 dân và vùng nhiệt đới là 6,34/100.000 dân. Tại Anh, nghiên cứu của Davison và cộng sự (giai đoạn 1989 - 1998) ghi nhận tỷ lệ mắc là 1,5/100.000 dân với 60% trường hợp không rõ căn nguyên; các nghiên cứu tiếp theo xác định vi rút đường ruột chiếm 52%, Herpes simplex virus (HSV) chiếm 29% và Varicella zoster chiếm 13%. Tại Mỹ, Trevathan và Trevino ghi nhận tỷ lệ mắc HCVNC giảm dần từ 7,4/100.000 (1950 - 1981) xuống 4,3/100.000 (1988 - 1997) với căn nguyên chính ban đầu là vi rút Arbo, nhưng đến giai đoạn 2011 - 2014 vi rút đường ruột chiếm ưu thế (51,6%) còn vi rút Arbo chỉ chiếm 1,1%. Tại châu Á, VNNB lưu hành ở khu vực có 2,7 tỷ dân; bên cạnh đó ghi nhận vi rút Nipah gây viêm não người lớn tại Malaysia (1998 - 1999) và vi rút Banna tại Trung Quốc, Indonesia.
  • Nghiên cứu tại Việt Nam: Bệnh VNNB được Puyuelo H. và Prévot M. công bố lần đầu năm 1952 - 1953 qua 98 ca bệnh trong quân đội viễn chinh Pháp ở miền Bắc. Các nghiên cứu dịch tễ học phân tử của Phan Thị Ngà và cộng sự (1964 - 2011) xác định các chủng VNNB phân lập trước đây thuộc genotype III (đồng nhất với chủng Nakayama và Beijing-1), sau đó có sự xuất hiện và thay thế dần bởi genotype I từ sau năm 1990. Đối với các tác nhân khác, vi rút Nam Định (NDiV) thuộc họ Mesoniviridae được phân lập lần đầu năm 2002 tại Nam Định trên bệnh nhi 20 tháng tuổi; vi rút Banna thuộc họ Reoviridae được phát hiện trên muỗi và người; các chủng vi rút đường ruột (ECHO 30, EV71, Coxsackievirus) và Herpes simplex virus (HSV-1, HSV-2) được ghi nhận gây viêm não rải rác tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh qua các công trình của Phạm Nhật An và cộng sự.

Khoảng trống và vị trí của luận án: Phần lớn các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chỉ khảo sát đơn lẻ từng nhóm tác nhân, tập trung chủ yếu vào vi rút VNNB hoặc phân tích các vụ dịch ngắn hạn. Chưa có công trình nào theo dõi dọc thuần tập trong 14 năm liên tục (2004 - 2017) tại một địa bàn trọng điểm như Bắc Giang để đánh giá sự chuyển dịch cơ cấu căn nguyên giữa các nhóm vi rút Arbo (VNNB, BAV, NDiV), vi rút đường ruột và vi rút Herpes. Luận án định vị là công trình nghiên cứu vi sinh y học cung cấp dữ liệu toàn diện về căn nguyên vi rút gây HCVNC và sự tiến hóa phân tử của VNNB và VRĐR tại miền Bắc Việt Nam sau giai đoạn bao phủ vắc xin VNNB.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở lý thuyết về phân loại sinh học vi rút học, dịch tễ học bệnh truyền nhiễm và cơ chế sinh học phân tử của các nhóm vi rút hướng thần kinh:

  • Khung phân loại tác nhân: Phân chia theo đường lây truyền (lây qua côn trùng tiết túc Arbo: VNNB, BAV, NDiV; lây qua đường tiêu hóa/hô hấp: VRĐR) và theo cấu trúc vật liệu di truyền (ARN sợi đơn dương: Flaviviridae - VNNB, Mesoniviridae - NDiV, Picornaviridae - VRĐR; ARN sợi kép phân đoạn: Reoviridae - BAV; ADN sợi kép: Herpesviridae - HSV).
Tác nhân vi rút Họ vi rút Cấu trúc hạt vi rút và bộ gen Véc tơ / Đường truyền chính
Vi rút viêm não Nhật Bản (VNNB) Flaviviridae (Flavivirus) Hình cầu 40 - 50 nm, vỏ lipid kép; ARN đơn dương ~11 kb (mã hóa protein C, M, E và NS1-NS5) Muỗi Culex tritaeniorhynchus đốt truyền từ lợn, chim nước
Vi rút Banna (BAV) Reoviridae (Seadornavirus) Hình cầu 60 - 70 nm, không vỏ; ARN sợi kép gồm 12 phân đoạn (862 - 3.747 bp) Muỗi Culex, Aedes, Anopheles truyền từ vật nuôi, chim
Vi rút Nam Định (NDiV) Mesoniviridae Hình cầu 60 - 80 nm; ARN đơn dương ~20,192 kb Muỗi Culex quinquefasciatus, Cx. vishnui, Cx. tritaeniorhynchus
Vi rút đường ruột (VRĐR) Picornaviridae (Enterovirus) Hình khối cầu 30 nm, không vỏ; ARN đơn dương ~7,4 kb (VP1, VP2, VP3, VP4) Đường tiêu hóa (phân - miệng), giọt bắn đường hô hấp
Vi rút Herpes simplex (HSV) Herpesviridae (Simplexvirus) Hình cầu 120 - 200 nm, vỏ bọc; ADN sợi kép ~152 kb Lây truyền trực tiếp qua tiếp xúc dịch tiết niêm mạc, nước bọt
  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp nghiên cứu dịch tễ học phân tử, thu thập số liệu tiến cứu và hồi cứu từ năm 2004 đến năm 2017.
  • Tiêu chuẩn lựa chọn: Bệnh nhân ở mọi lứa tuổi có hội chứng lâm sàng tổn thương não cấp tính (sốt cấp tính kèm thay đổi tri giác, co giật, dấu hiệu thần kinh khu trú hoặc tăng tế bào dịch não tủy) nhập viện tại các bệnh viện nghiên cứu ở Bắc Giang, có thu thập đủ mẫu DNT và/hoặc HT.
  • Phương pháp xét nghiệm và kỹ thuật thực hiện:
    • Kỹ thuật miễn dịch: Sử dụng kỹ thuật MAC-ELISA (IgM Antibody Capture ELISA) phát hiện kháng thể IgM kháng vi rút VNNB và BAV trong DNT và huyết thanh. Kỹ thuật ELISA-NS1 phát hiện kháng nguyên phi cấu trúc NS1 của VNNB trong DNT.
    • Kỹ thuật sinh học phân tử: Áp dụng Realtime RT-PCR và RT-PCR phát hiện vật liệu di truyền ARN của VRĐR (sử dụng vùng gen bảo tồn 5'UTR), BAV (phân đoạn 12) và NDiV; Realtime PCR và PCR-ELISA phát hiện đoạn trình tự ADN đặc hiệu của HSV trong DNT.
    • Kỹ thuật phân lập vi rút: Nuôi cấy bệnh phẩm DNT trên dòng tế bào muỗi Aedes albopictus C6/36 đối với vi rút Arbo; tế bào Vero và RDa đối với vi rút đường ruột; kết hợp tiêm truyền nội não chuột ổ trắng 1 - 3 ngày tuổi.
    • Kỹ thuật giải trình tự gen và tin sinh học: Thực hiện phản ứng RT-PCR khuếch đại toàn bộ vùng gen E (vỏ bọc, 1.500 nucleotide) của VNNB bằng các cặp mồi chuyên biệt (Bảng 2.1) và vùng gen VP1 của VRĐR; giải trình tự nucleotide theo phương pháp Sanger. Xử lý dữ liệu trình tự, so sánh độ tương đồng (homology) và dựng cây phát sinh loài (phylogenetic tree) bằng phương pháp Neighbor-Joining hoặc Maximum Likelihood trên phần mềm BioEdit và MEGA.
  • Biện pháp hạn chế sai số và đạo đức nghiên cứu: Mẫu bệnh phẩm được bảo quản nghiêm ngặt ở nhiệt độ -80°C; thực hiện chứng âm, chứng dương trong từng mẻ phản ứng PCR/ELISA; đề tài được thông qua bởi Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học của Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương 1 tổng thuật các kiến thức kinh điển và cập nhật về hội chứng viêm não cấp:

  • Phân tích định nghĩa, cơ chế bệnh sinh, bệnh cảnh lâm sàng từ khởi phát (sốt, đau đầu), toàn phát (rối loạn tri giác, co giật >80%, hội chứng màng não, liệt khu trú), tiến triển bán cấp đến hồi phục và di chứng.
  • Trình bày chi tiết đặc điểm cấu trúc sinh học, tổ chức bộ gen, chu trình lây truyền tự nhiên, ổ chứa, véc tơ truyền bệnh, đặc điểm phân tử và tình hình dịch tễ của 5 tác nhân chính: vi rút VNNB (Flavivirus), vi rút Banna (Seadornavirus), vi rút Nam Định (Nidovirus), vi rút đường ruột (Enterovirus) và vi rút Herpes simplex (Simplexvirus).
  • Đánh giá các phương pháp xét nghiệm chẩn đoán trực tiếp (quan sát kính hiển vi điện tử, nuôi cấy phân lập vi rút trên tế bào C6/36, Vero, RDa, phản ứng PCR/RT-PCR, Realtime PCR, giải trình tự Sanger, NGS) và chẩn đoán gián tiếp (MAC-ELISA, ức chế ngưng kết hồng cầu, trung hòa). Phân tích nguyên lý phân tích dịch tễ học phân tử thông qua các phần mềm tin sinh học.

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp luận triển khai đề tài tại thực địa và phòng xét nghiệm:

  • Xác định cụ thể đối tượng, tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân HCVNC, tiêu chuẩn loại trừ (viêm màng não mủ do vi khuẩn, sốt rét ác tính thể não, tổn thương não do chấn thương) và quy trình thu thập mẫu DNT, huyết thanh.
  • Mô tả quy trình thao tác chuẩn (SOP) cho các kỹ thuật: MAC-ELISA chẩn đoán VNNB và BAV; kỹ thuật Realtime RT-PCR phát hiện VRĐR; Realtime PCR phát hiện HSV; kỹ thuật ELISA-NS1 phát hiện kháng nguyên VNNB trong DNT.
  • Thiết lập quy trình nuôi cấy phân lập vi rút Arbo trên tế bào C6/36 và VRĐR trên tế bào Vero/RDa; quy trình tiêm truyền chuột ổ.
  • Liệt kê trình tự các cặp mồi khuếch đại RT-PCR và giải trình tự toàn bộ 1.500 nucleotide vùng gen mã hóa protein vỏ E của vi rút VNNB (Bảng 2.1) cùng vùng gen VP1 của VRĐR.
  • Quy định các thuật toán xử lý số liệu dịch tễ học, phân tích thống kê y học và dựng cây phát sinh loài.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 3 trình bày các kết quả thu được từ mẫu bệnh nhân HCVNC tại Bắc Giang giai đoạn 2004 - 2017:

  • Xác định tỷ lệ mắc theo căn nguyên: Tổng hợp kết quả xét nghiệm ELISA và sinh học phân tử xác định căn nguyên vi rút gây bệnh.
Nhóm tác nhân vi rút Kỹ thuật chẩn đoán xác định Tỷ lệ và đặc điểm phân bố tại Bắc Giang (2004 - 2017)
Vi rút đường ruột (VRĐR) Realtime RT-PCR, phân lập tế bào Là tác nhân chiếm tỷ lệ cao trong các căn nguyên xác định; xuất hiện quanh năm nhưng tăng cao vào các tháng hè; gặp chủ yếu ở trẻ em dưới 5 tuổi.
Vi rút viêm não Nhật Bản (VNNB) MAC-ELISA (IgM DNT/HT), ELISA-NS1, RT-PCR gen E Tỷ lệ mắc giảm dần theo các giai đoạn sau tiêm chủng; tính mùa vụ tập trung cao điểm vào tháng 5 - 7; độ tuổi trung bình mắc bệnh có xu hướng tăng dần lên nhóm trẻ lớn hơn.
Vi rút Banna (BAV) MAC-ELISA IgM, RT-PCR phân đoạn 12 Ghi nhận sự lưu hành gây HCVNC rải rác trên địa bàn tỉnh; phân bố theo mùa hè - thu tương ứng với mật độ muỗi véc tơ.
Vi rút Nam Định (NDiV) RT-PCR Xác định được các ca bệnh dương tính với vật liệu di truyền của NDiV trong dịch não tủy của bệnh nhân HCVNC đã loại trừ VNNB.
Vi rút Herpes simplex (HSV) Realtime PCR, PCR-ELISA Ghi nhận các ca bệnh rải rác quanh năm, không mang tính mùa vụ rõ rệt, gặp ở cả trẻ nhỏ và người lớn.
Tình trạng đồng nhiễm Phối hợp ELISA và PCR/RT-PCR Ghi nhận một số trường hợp đồng nhiễm giữa vi rút Arbo với VRĐR hoặc giữa các chủng vi rút khác nhau.
  • Đặc điểm dịch tễ học: Phân tích sự biến thiên ca bệnh theo thời gian (các năm 2004 - 2017 và phân bố theo tháng trong năm), theo không gian (phân bố tỷ lệ mắc/100.000 dân tại các huyện miền núi, trung du của tỉnh Bắc Giang như Lục Ngạn, Lục Nam, Yên Thế, Hiệp Hòa...) và theo nhóm tuổi, giới tính.
  • Kết quả phân lập vi rút và phát hiện kháng nguyên NS1: Ghi nhận tỷ lệ phân lập thành công vi rút trên tế bào C6/36 và Vero/RDa; tỷ lệ phát hiện kháng nguyên NS1 VNNB trong DNT giai đoạn sớm của bệnh.
  • Đặc điểm sinh học phân tử của vi rút VNNB: Phân tích trình tự 1.500 nucleotide vùng gen E của các chủng VNNB tại Bắc Giang. Kết quả dựng cây phát sinh loài chứng minh:
    • Sự tồn tại đồng thời của genotype I (GI) và genotype III (GIII) trong giai đoạn nghiên cứu, trong đó genotype I chiếm ưu thế tuyệt đối ở các năm về sau.
    • So sánh mức độ tương đồng nucleotide và nhận diện các đột biến acid amin thay thế đặc trưng trên protein E của các chủng phân lập tại Bắc Giang so với chủng Consensus và các chủng tham chiếu trong khu vực châu Á.
  • Đặc điểm sinh học phân tử của vi rút đường ruột: Giải trình tự gen VP1 xác định sự lưu hành của nhiều typ huyết thanh VRĐR khác nhau (ECHO 30, Coxsackievirus, EV71...) gây tổn thương hệ thần kinh trung ương, trong đó ECHO 30 ghi nhận chiếm tỷ lệ ưu thế trong một số đợt bùng phát; phân tích khoảng cách di truyền nucleotide giữa các chủng phân lập tại địa phương.

Chương 4: Bàn luận

Chương 4 biện luận các phát hiện nghiên cứu trong mối tương quan với y văn trong nước và quốc tế:

  • Bàn luận về sự thay đổi cơ cấu căn nguyên HCVNC tại Bắc Giang: Sự sụt giảm tỷ lệ VNNB là minh chứng thực tế cho hiệu quả của vắc xin, đồng thời làm nổi bật vai trò của các tác nhân trước đây ít được chẩn đoán như VRĐR, BAV, NDiV và HSV.
  • So sánh phân bố theo mùa và nhóm tuổi giữa Bắc Giang (khí hậu miền Bắc có mùa đông lạnh, dịch mùa hè đỉnh điểm tháng 5 - 7) với các tỉnh phía Nam (lưu hành quanh năm) và các quốc gia lân cận (Trung Quốc, Ấn Độ).
  • Bàn luận sâu về dịch tễ học phân tử của VNNB: Luận giải hiện tượng thay thế kiểu gen từ GIII sang GI tại Bắc Giang phù hợp với xu thế chung tại châu Á (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan); đánh giá hiệu lực bảo vệ chéo của vắc xin sản xuất từ chủng genotype III trước sự lưu hành chủ yếu của các chủng genotype I thực địa.
  • Bàn luận về tính đa dạng di truyền của VRĐR, vai trò của ECHO 30 trong các vụ dịch viêm màng não - não vô khuẩn và ý nghĩa lâm sàng của việc chẩn đoán sớm HSV để điều trị thuốc đặc hiệu Acyclovir.
  • Nêu rõ các ưu điểm (nghiên cứu dọc 14 năm, mẫu nghiên cứu lớn, áp dụng kết hợp kỹ thuật huyết thanh học và sinh học phân tử hiện đại) cùng các hạn chế nội tại của đề tài.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án mang lại các đóng góp cụ thể về mặt khoa học lý luận và thực tiễn y tế dự phòng:

  • Đóng góp về lý luận và khoa học:
    • Cung cấp bộ cơ sở dữ liệu dịch tễ học và vi sinh học toàn diện, có hệ thống trong suốt 14 năm (2004 - 2017) về phổ căn nguyên vi rút gây HCVNC tại một tỉnh miền núi - trung du phía Bắc.
    • Xác lập bằng chứng khoa học khẳng định sự lưu hành thực tế của các vi rút Arbo mới nổi gồm vi rút Banna (BAV) và vi rút Nam Định (NDiV) trên bệnh nhân HCVNC tại Việt Nam, bên cạnh tác nhân kinh điển VNNB.
    • Bổ sung dữ liệu sinh học phân tử về sự chuyển dịch genotype của vi rút VNNB từ genotype III sang genotype I tại thực địa Bắc Giang; cung cấp các trình tự gen E của VNNB và gen VP1 của VRĐR lưu hành tại Việt Nam lên ngân hàng gen quốc tế.
  • Đóng góp về thực tiễn và ứng dụng:
    • Chứng minh sự cần thiết phải thay đổi chiến lược giám sát: Không chỉ tập trung xét nghiệm đơn thuần VNNB mà phải thiết lập quy trình chẩn đoán đa tác nhân (VRĐR, BAV, NDiV, HSV) đối với tất cả các trường hợp nghi ngờ HCVNC.
    • Nhấn mạnh vai trò của xét nghiệm PCR chẩn đoán sớm vi rút Herpes simplex (HSV) tại các cơ sở điều trị nhằm chỉ định sớm thuốc kháng vi rút đặc hiệu Acyclovir, giúp giảm tỷ lệ tử vong và hạn chế di chứng thần kinh.
    • Cung cấp bằng chứng thực tế định hướng các chương trình phòng chống véc tơ muỗi Culex và các can thiệp vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm để ngăn ngừa lây truyền vi rút đường ruột.
  • Kiến nghị đề xuất từ luận án:
    • Đưa kỹ thuật Realtime RT-PCR phát hiện VRĐR và Realtime PCR phát hiện HSV vào danh mục xét nghiệm thường quy tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh và trung tâm kiểm soát bệnh tật (CDC).
    • Tiếp tục duy trì tỷ lệ bao phủ vắc xin VNNB cho trẻ em, đồng thời theo dõi sự biến đổi kháng nguyên của các chủng VNNB genotype I để đánh giá tính tương thích miễn dịch của vắc xin hiện hành.
    • Mở rộng các nghiên cứu chuyên sâu nhằm xác định rõ cơ chế truyền bệnh và vai trò gây bệnh của vi rút Nam Định (NDiV) theo các tiêu chuẩn vi sinh học thực nghiệm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu:
    • Nghiên cứu không thể thu thập trực tiếp mô tổ chức não của bệnh nhân sống để chẩn đoán căn nguyên trực tiếp mà chủ yếu dựa vào dịch não tủy và huyết thanh.
    • Tỷ lệ phân lập vi rút sống trên hệ thống tế bào còn hạn chế do đặc tính mẫn cảm của tế bào nuôi cấy và nồng độ vi rút trong dịch não tủy thường thấp ở thời điểm bệnh nhân nhập viện.
    • Phạm vi thu thập mẫu tập trung tại một tỉnh (Bắc Giang), chưa bao quát toàn bộ các vùng sinh thái dịch tễ khác nhau trên cả nước.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện các tiêu chuẩn sinh học xác định vai trò gây bệnh ở người của vi rút Nam Định theo tiêu chuẩn Koch.
    • Ứng dụng công nghệ giải trình tự gen thế hệ mới (NGS) và giải trình tự toàn bộ hệ gen (Whole Genome Sequencing) để phát hiện các căn nguyên vi rút mới hoặc chưa rõ nguyên nhân trong các mẫu bệnh phẩm âm tính.
    • Theo dõi giám sát khả năng xuất hiện của vi rút VNNB genotype V tại miền Bắc Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn cho các đối tượng và lĩnh vực:

  • Cán bộ y tế dự phòng và kiểm soát nhiễm khuẩn: Tham khảo mô hình phân bố dịch tễ học theo mùa, lứa tuổi và địa bàn của các nhóm vi rút Arbo và VRĐR để lập kế hoạch giám sát véc tơ, dự báo dịch và triển khai tiêm chủng.
  • Bác sĩ lâm sàng truyền nhiễm, thần kinh và nhi khoa: Tham khảo các số liệu về tỷ lệ căn nguyên (đặc biệt là HSV và VRĐR) nhằm tối ưu hóa phác đồ chẩn đoán phân biệt và chỉ định điều trị sớm thuốc kháng vi rút đặc hiệu.
  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Vi sinh y học, Dịch tễ học, Bệnh truyền nhiễm: Tham khảo chi tiết quy trình kỹ thuật MAC-ELISA, Realtime RT-PCR, thiết kế mồi giải trình tự gen E của VNNB, quy trình nuôi cấy tế bào C6/36, Vero/RDa và phương pháp phân tích phát sinh loài bằng phần mềm tin sinh học.

Câu hỏi thường gặp

1. Nghiên cứu đã xác định những nhóm căn nguyên vi rút chính nào gây hội chứng viêm não cấp tại Bắc Giang giai đoạn 2004 - 2017? Luận án xác định 3 nhóm căn nguyên vi rút chính gồm: nhóm vi rút Arbo do côn trùng tiết túc truyền (vi rút viêm não Nhật Bản - VNNB, vi rút Banna - BAV, vi rút Nam Định - NDiV), nhóm vi rút đường ruột (VRĐR / Enterovirus như ECHO 30, Coxsackievirus, EV71...) và nhóm vi rút Herpes (Herpes simplex virus - HSV).

2. Tại sao tỷ lệ tiêm vắc xin VNNB tại Bắc Giang đạt trên 90% nhưng số ca mắc HCVNC vẫn không giảm tương ứng? Mặc dù vắc xin VNNB đã khống chế thành công và làm giảm mạnh tỷ lệ HCVNC do chính vi rút VNNB gây ra, tổng số ca mắc HCVNC không giảm tương ứng là do sự hiện diện của các căn nguyên vi rút khác không có vắc xin phòng ngừa (như vi rút đường ruột, vi rút Banna, vi rút Nam Định và vi rút Herpes) tiếp tục lưu hành và gây bệnh trong quần thể.

3. Sự tiến hóa sinh học phân tử của vi rút viêm não Nhật Bản (VNNB) tại Bắc Giang có đặc điểm gì nổi bật? Kết quả phân tích trình tự 1.500 nucleotide vùng gen E của các chủng VNNB phân lập tại Bắc Giang chứng minh có sự lưu hành của cả genotype I (GI) và genotype III (GIII), trong đó genotype I dần thay thế genotype III và trở thành kiểu gen chiếm ưu thế chủ đạo trong các năm sau của giai đoạn nghiên cứu, tương thích với quy luật tiến hóa phân tử chung của VNNB tại khu vực châu Á.

4. Vi rút Banna và vi rút Nam Định thuộc họ vi rút nào và lây truyền qua véc tơ nào? Vi rút Banna (BAV) thuộc chi Seadornavirus, họ Reoviridae, có vật liệu di truyền là ARN sợi kép gồm 12 phân đoạn, lây truyền chủ yếu qua muỗi Culex, Aedes và Anopheles. Vi rút Nam Định (NDiV) thuộc họ Mesoniviridae, có vật liệu di truyền là ARN sợi đơn dương (~20,192 kb), được phát hiện và truyền qua các loài muỗi Culex (như Culex quinquefasciatus, Culex tritaeniorhynchus, Culex vishnui).

5. Ý nghĩa lâm sàng thực tiễn của việc phát hiện tác nhân HSV trong nghiên cứu này là gì? Viêm não do HSV (chủ yếu là HSV-1) có tỷ lệ tử vong lên tới 70% nếu không điều trị, nhưng đây là tác nhân duy nhất có thuốc kháng vi rút điều trị đặc hiệu (Acyclovir giúp giảm tỷ lệ tử vong xuống 19%). Việc ứng dụng kỹ thuật PCR phát hiện sớm ADN của HSV trong dịch não tủy giúp bác sĩ lâm sàng kịp thời chỉ định Acyclovir, tăng khả năng hồi phục hoàn toàn chức năng thần kinh cho bệnh nhân.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Dương Thị Hiển đã xác định được cơ cấu các căn nguyên vi rút gây hội chứng viêm não cấp tại tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2004 - 2017, khẳng định vai trò quan trọng của vi rút đường ruột, vi rút Banna, vi rút Nam Định và Herpes simplex virus bên cạnh vi rút viêm não Nhật Bản. Công trình đã làm sáng tỏ đặc điểm dịch tễ học phân tử của vi rút viêm não Nhật Bản với sự chiếm ưu thế của genotype I thay thế genotype III, đồng thời phân tích tính đa dạng kiểu gen của các chủng vi rút đường ruột lưu hành. Các kết quả xét nghiệm và phân tích phả hệ cung cấp cơ sở khoa học thực chứng để ngành y tế điều chỉnh phác đồ xét nghiệm chẩn đoán đa tác nhân và hoàn thiện các giải pháp dự phòng, kiểm soát hội chứng viêm não cấp trong cộng đồng.