CHƯƠNG 1.1 Tổng quan về cảm biến khí 1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước Hiện nay trong nước đã có một số nhóm nghiên cứu cảm biến khí như nhóm nghiên cứu của PGS. Nguyễn Văn Hiếu – Trường Đại học Bách khoa Hà nội đã công bố khá nhiều các bài báo quốc tế về chế tạo các cảm biến khí kiểu điện trở. Nhóm nghiên cứu này đã công bố nhiều kết quả về chế tạo các cảm biến đo nồng độ ethanol sử dụng oxit kim loại SnO2/ZnO [1], cảm biến hydro sử dụng Pt/SnO2 [2], cảm biến khí NH3 sử dụng composite gồm ống than nano và polyme dẫn điện polypyrrole, cảm biến khí NH3 sử dụng polyaniline trên điện cực platin [3], cảm biến đo CO2 sử dụng LaOCl- SnO2 [4]. Tuy nhiên, các điện cực cảm biến thường được chế tạo bằng phương pháp quang khắc truyền thống sử dụng mặt nạ (mask) và polyme cản quang (photoresist) đắt tiền.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài Trên thế giới cũng đã có khá nhiều công trình nghiên cứu chế tạo các nền (platform) cảm biến bằng công nghệ in phun hướng đến ứng dụng làm cảm biến khí.
Ví dụ như nhóm Tseng [5] sử dụng hạt nano palladium ổn định trong nước bởi oligome styrene-N-isopropylacrylamide được in phun trên bề mặt đế PET để tạo các điểm xúc tác, sau đó nickel được phủ tiếp theo lên trên bằng phương pháp mạ điện không điện cực để tạo thành các cấu trúc điện cực dạng lược như thiết kế. Tiếp đến, họ sử dụng phản ứng thay thế galvanic để phủ đơn lớp vàng trên bề mặt lớp nickel để tăng độ dẫn điện (Hình 1. Cuối cùng họ phủ lớp polyme dẫn điện PEDOT-PSS cũng bằng công nghệ in phun lên trên điện cực vàng và dùng để dò khí CO2. Cấu trúc điện cực vàng phủ trên đế PET.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 Molina và các cộng sự đề xuất chế tạo các điện cực đan xen dạng lược bằng phương pháp in phun để giảm kích thước của các cảm biến [6]. Quy trình công nghệ tương thích với công nghệ chế tạo ở nhiệt độ thấp và có thể áp dụng lên trên các đế hữu cơ dẻo (flexible). Ý tưởng đưa ra là phủ lớp điện môi mỏng parylene-C trên điện cực dạng lược đầu tiên trước khi in lên điện cực thứ 2. Bằng phương pháp này các điện cực răng lược không nằm trên cùng 1 mặt phẳng, tránh được vấn đề ngắn mạch không mong muốn.
Thiết kế này đặc biệt thích hợp cho các linh kiện kiểu điện dung, cho phép tăng điện dung trên diện tích bề mặt. Nhóm này đã thí nghiệm bằng cách phủ lớp nhạy độ ẩm trên các điện cực chế tạo và đánh giá cảm biến khi độ ẩm tương đối thay đổi. Nhóm nghiên cứu này cũng thử nghiệm mạ điện bạc với nickel [7]. Tuy nhiên cảm biến này chỉ đo được độ ẩm đến 70%.
Các cảm biến khí thử nghiệm với lớp phủ nhạy khí poly (ether urethane) cũng cho kết quả tốt và có thể sử dụng trong các linh kiện ứng dụng thực tế.2 Ảnh chụp các bản tụ điện là các điện cực đan xen chế tạo bằng phương pháp in phun bạc. Bề rộng của các điện cực là 95 ± 3 μm và khoảng cách là 105 ± 3 μm. Ảnh chụp các bản tụ điện là các điện cực đan xen chế tạo bằng phương pháp in phun bạc. Cho và các cộng sự [8] chế tạo dãy các vi điện cực bằng vàng sử dụng máy in phun thông thường (Hình 1.3), hướng đến ứng dụng cảm biến đo hơi iodine.
Các dây vàng hình dích dắc chế tạo bằng phương pháp in phun đơn lớp alkanethiolate trên đĩa CD-R vàng và sau đó khắc ướt. Các dây có bề rộng 100 μm và các vòng dài 8 mm, cách nhau 300 μm. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Các dây vàng hình rắn chế tạo bằng phương pháp in phun Busato và các cộng sự [9] phát triển công nghệ in phun chế tạo các mạch in đồng trên màng polyimide uốn cong ứng dụng trong điện tử.
Quy trình gồm in phun dung dịch palladium (II) trên bề mặt đã có màng polyimide, tiếp theo là khử thành palladium kim loại và mạ đồng không điện cực. Tất cả các bước sử dụng máy in phun bàn thông dụng và có thể chế tạo các mạch in kim loại với kích cỡ khoảng 100 μm. Nhóm nghiên cứu này đã ứng dụng trong chế tạo các màng điện cực đan xen dùng vật liệu composite. Loffredo và các cộng sự [10] sử dụng phương pháp in phun để chế tạo điện cực trên đế alumina và cũng dùng phương pháp này để phun phủ lớp vật liệu nhạy khí trên cơ sở composit gồm polyme và than đen (carbon black) lên các điện cực.
Các cảm biến này dùng để đo nồng độ acetone và toluene trong không khí ở nhiệt độ phòng. Kết quả nghiên cứu được so sánh với các linh kiện có các điện cực chế tạo bằng phương pháp quang khắc truyền thống và lớp vật liệu nhạy khí phủ bằng đúc mẫu (casting) và in phun. Bên cạnh đó, phương pháp in phun còn được sử dụng để phun phủ các lớp vật liệu nhạy khí lên trên các điện cực. Ví dụ như Kukkola và các cộng sự [11] trình bày quy trình công nghệ in phun chất điện giải rắn (solid electrolyte) là hỗn hợp của H3PW12O40 và PVC ứng dụng trong chế tạo cảm biến khí hydro (nồng độ dưới 100 ppm trong không khí) sử dụng trong transistor có cấu trúc nano Kim loại-Điện giải-Cách điện-Bán dẫn (Metal- Electrolyte-Insulator-Semiconductor - MEIS).
Mabrook [12] dùng công nghệ in phun để phủ các màng polyme dẫn điện polypyrrol ứng dụng đo nồng độ ethanol và methanol. Shen [13] dùng mực in SnO2 tổng hợp bằng kỹ thuật sol- TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 gel với ethanol để in phun trên đế ceramic alumina và silicon ứng dụng đo nồng độ ethanol, NO2, H2S và H2.3 Các loại cảm biến khí Cảm biến khí hiện nay có nhiều loại phổ biến như sau: - Cảm biến kiểu điện trở (chemiresistor), - Cảm biến kiểu transistor: transistor màng mỏng sử dụng polymer dẫn điện làm cực cổng (gate) (Organic Thin Film Transistor - OTFT) và transistor hiệu ứng trường dùng cực cổng cách điện (Insulated Gate Field-Effect Transistor - IGFET), - Cảm biến vi cân tinh thể thạch anh (Quartz Crystal Microbalance - QCM), - Cảm biến sử dụng sóng âm bề mặt (Surface Acoustic Wave - SAW). Trong bốn loại cảm biến nêu trên, loại cảm biến kiểu điện trở và transistor được nghiên cứu nhiều nhất do khả năng chế tạo dễ dàng và hiệu năng cảm biến vượt trội hơn với độ nhạy cao hơn và thời gian đáp ứng nhanh hơn. Trong luận văn này tập trung nghiên cứu về cảm biến kiểu điện trở được chế tạo bằng công nghệ in phun và sử dụng trong cảm biến đo khí amoniac.
Cảm biến kiểu điện trở Cảm biến kiểu điện trở: là loại cảm biến thông dụng nhất, chúng có thể được chế tạo theo quy trình công nghệ đơn giản và có giá thành thấp. Cảm biến kiểu điện trở là một điện trở thay đổi (nhạy) với môi trường hóa chất xung quanh. Cấu tạo cảm biến kiểu điện trở Cảm biến điện trở được cấu tạo gồm 3 phần: - Đế cách điện PET, thủy tinh hay SiO2, … - Điện cực dẫn điện Pt, Au, Ag, … - Lớp vật liệu nhạy khí polyaniline (PANI), polypyrrole (PPy), … Cấu trúc cảm biến hoàn chỉnh gồm phần điện cực dẫn điện tạo thành nhiều cặp điện cực đan xen dạng răng lược và trên cùng là một lớp nhạy khí được phủ trên các điện cực xem hình 1. Sự thay đổi điện trở của lớp nhạy TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 khí được ghi nhận bằng cách áp vào cảm biến một dòng điện hay điện thế cố định và tín hiệu đo (output) là sự thay đổi điện thế hay cường độ dòng điện.
Đế cách điện Điện cực dẫn điện (vàng, bạc, đồng,.) Lớp vật liệu nhạy khí Lớp vật liệu nhạy khí Điện cực Bạc Điện cực Bạc Đế cách điện SiO2 Đế Silic Đế Silic (a) (b) Hình 1. Cấu trúc (a) và mặt cắt ngang của cảm biến kiểu điện trở (b) Nguyên lý hoạt động Nguyên lý hoạt động của cảm biến khí dùng polyme dẫn điện phủ lên điện cực dựa trên sự thay đổi độ dẫn điện của lớp polyme khi tiếp xúc với khí ammoniac. Khi áp điện thế vào hai điện cực của cảm biến, phản ứng giữa khí ammoniac hoặc hơi hóa chất với polyme dẫn đến sự thay đổi nồng độ pha tạp thông qua phản ứng oxy hóa khử hay trao đổi proton (protonation) hoặc làm thay đổi hình dạng của mạch polyme, kết quả làm thay đổi độ dẫn điện. Tùy theo loại polyme dẫn điện và khí phản ứng mà độ dẫn điện có thể tăng hoặc giảm.
Các đặc trưng của cảm biến khí Cấu tạo của cảm biến khí bao gồm 2 phần: lớp nhạy khí và phần chuyển tính hiệu cảm biến thành tính hiệu điện. Lớp nhạy khí được lựa chọn trong luận văn này là vật liệu polyaniline (PANI) và bộ phận chuyển tính hiệu được quyết định bởi kỹ thuật in phun mực in bạc trên đế SiO2. Bên cạnh đó, sự lựa chọn vật liệu chế tạo cảm biến cũng làm ảnh hưởng đến độ nhạy, thời gian hồi phục và độ ổn định của cảm biến khí. Độ nhạy của cảm biến được định nghĩa là hệ số giữa điện trở của lớp nhạy khí trong môi trường chứa khí và điện trở trong không khí, S = Rgas / Rair.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Thời gian đáp ứng hay thời gian hồi phục là thời gian cần thiết để giá trị đầu ra của cảm biến ổn định khi các điều kiện đo thay đổi đột ngột từ trạng thái này sang trạng thái khác. Thời gian đáp ứng là khoảng thời gian giữa 10 và 90 % giá trị ổn định. Trong cảm biến khí, giá trị này phụ thuộc chủ yếu vào động học của phản ứng hóa học. Thời gian đáp ứng phụ thuộc vào tốc độ hấp phụ/giải hấp và phụ thuộc vào khả năng phản ứng (tăng nhiệt độ để tăng thời gian đáp ứng).
Thời gian hồi phục được định nghĩa là thời gian cần thiết để vật liệu trở về trạng thái ban đầu khi ngắt kích thích khí (hấp phụ lại oxy nhanh, không phụ thuộc vào khí cần đo). Trong luận văn này chúng tôi dùng phương pháp gia nhiệt để giảm thời gian hồi phục nhằm giúp cảm biến hoạt động tốt hơn trong lần đo tiếp theo. Độ ổn định, ngược lại với độ chọn lọc và độ nhạy, vấn đề về độ ổn định ít được đề cập trong các tài liệu. Điều này không có nghĩa là độ ổn định ít ảnh hưởng lên tính hữu ích của cảm biến khí.
Đúng hơn là độ ổn định là vấn đề thường được chú ý đến ở giai đoạn chế thử và sản xuất.