CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CƠ CHẾ TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN 1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN 1. Khái quát về Ngân hàng phát triển 1. Khái niệm Ngân hàng phát triển Hơn 100 năm trước đây, ở thế kỷ 19, nước Mỹ đã hoàn thành công nghiệp hoá, nước Anh và một số các nước ở Trung Âu đã phát triển nền tảng công nghiệp cơ bản.
Những quốc gia công nghiệp này đã thực hiện công nghiệp hoá nhờ hoạt động tài trợ dài hạn của các ngân hàng dưới tên gọi là “Ngân hàng Công nghiệp”. Những ngân hàng công nghiệp cung cấp vốn trung – dài hạn và chấp nhận rủi ro để tài trợ cho các dự án hứa hẹn sẽ đem lại tỷ lệ sinh lời lớn do khai thác vào các lĩnh vực sản xuất mới. Như vậy, các ngân hàng công nghiệp đã thực hiện vai trò quan trọng mà ngày nay đang được tiến hành bởi các NHPT. Cho đến cuộc khủng hoảng tài chính của thế giới từ năm 1929 đến năm 1932, các hoạt động tài trợ trên mới bị thu hẹp lại do rủi ro đối với các dự án vượt quá khả năng chịu đựng của các ngân hàng công nghiệp này và do khả năng huy động vốn của ngân hàng trên thị trường bị hạn chế.
Các loại chứng khoán do ngân hàng phát hành không bán được trên thị trường; đồng thời các tổ chức và cá nhân cũng không gửi tiền vào ngân hàng nữa. Trong hoàn cảnh đó, để lấp đầy sự thiếu hụt về vốn trong các quỹ dài hạn để tài trợ cho đầu tư, các Chính phủ cũng như các tổ chức tài chính của Chính phủ đã cam kết sử dụng các nguồn vốn có nguồn gốc từ ngân sách Nhà nước để tài trợ. Kết quả là trong những năm 1930, các NHPT thuộc sở hữu của Chính phủ đầu tiên đã được thành lập, như là các NHPT ở Bán cầu Tây, Nacional Finaciera ở Mê Hi Cô, CORFO ở Chile và CAVENDES ở Vê-nê-zuê- na. Nhìn khái quát lịch sử phát triển của NHPT có thể nhận thấy trong bất kỳ nền kinh tế nào, dù là nền kinh tế phát triển, đang phát triển hay kém phát triển, luôn tồn tại các đối tượng khó có khả năng tiếp cận với các nguồn tín dụng 5 thương mại do một số nguyên nhân, chẳng hạn nhu cầu vốn tài trợ lớn, thời gian hoàn vốn dài, rủi ro lớn do đầu tư vào lĩnh sản phẩm mới hay vào các vùng khó khăn…Tuy nhiên, các đối tượng này có ý nghĩa quan trọng trong việc thúc đấy sự phát triển của nền kinh tế và xã hội nên không thể không được đầu tư.
Do vậy, đòi hỏi nền kinh tế phải có một loại hình trung gian tài chính chuyên tài trợ cho các đối tượng này, đó là NHPT. Mục đích hoạt động của NHPT là tài trợ cho các đối tượng phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia với định hướng là chính sách tín dụng đầu tư phát triển của quốc gia trong từng thời kỳ. Ngân hàng phát triển là một tổ chức tín dụng mà hoạt động chủ yếu là tài trợ trung và dài hạn cho các dự án phát triển và các đối tượng đặc biệt trong nền kinh tế. NHPT là một công cụ của Chính phủ trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
Tổ chức này sẽ đứng ra tập hợp các khoản vốn trung và dài hạn trong và ngoài nước, sau đó tài trợ có trọng điểm và ưu đãi cho các đối tượng nhất định trong nền kinh tế để đạt được một cách có hiệu quả các mục tiêu Chính phủ đề ra trong từng thời kỳ nhất định. Cũng giống như các ngân hàng khác, NHPT là một tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Bên cạnh đó, vì NHPT cũng là một công cụ của Chính phủ trong việc điều hành nền kinh tế vĩ mô nên nó cũng mang một số nét khác biệt so với các trung gian tài chính khác. Đặc điểm của Ngân hàng phát triển - NHPT thuộc sở hữu Nhà nước hoặc có mối quan hệ chặt chẽ với Chính phủ: Đặc điểm này cho thấy sự ra đời của NHPT có tính chất lịch sử, nó phụ thuộc vào sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà nước.
Tính chất các khoản tài trợ của NHPT đòi hỏi phải có sự hỗ trợ từ Chính phủ cho ngân hàng. Đồng thời, vì là một công cụ của Chính phủ nên ngân hàng và các hoạt động của nó phải 6 đặt dưới sự kiểm soát của các cơ quan quản lý Nhà nước mà đứng đầu là Chính phủ. - Mục tiêu tối cao/cuối cùng của NHPT là hỗ trợ cho sự phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia: Đây là đặc điểm phản ánh sự khác biệt giữa NHPT với các trung gian tài chính khác. NHPT luôn hướng tới mục tiêu duy trì hiệu quả kinh tế - xã hội cho các DAPT nên đôi khi mục tiêu này mâu thuẫn với mục tiêu hiệu quả tài chính.
Tuy nhiên, các DAPT mà NHPT chấp nhận tài trợ vẫn phải đảm bảo các nguyên tắc tín dụng cơ bản thông qua hoạt động thẩm định và tư vấn kỹ càng đối với các dự án đó. NHPT cùng khách hàng kết hợp với sự hỗ trợ của các cơ quan quản lý Nhà nước tìm các biện pháp hạn chế rủi ro có thể gây ra tổn thất cho các dự án. - NHPT tập trung huy động các nguồn vốn trung và dài hạn trong và ngoài nước: Đối tượng tài trợ của ngân hàng là các dự án hình thành nên cơ sở hạ tầng, cụ thể là tăng cường đầu tư vào các tài sản cố định để phục vụ các hoạt động kinh doanh cho nền kinh tế; các dự án có thời gian hoàn vốn dài nên nguồn vốn tài trợ cho chúng cũng phải có kỳ hạn tương ứng. - NHPT tài trợ vốn lớn, thời gian sử dụng vốn dài và có ưu đãi cho các DAPT: Đây là đặc điểm riêng có của NHPT so với các NHPT khác.
Đối tượng tài trợ của NHPT luôn gắn với các đối tượng được ưu tiên khuyến khích đầu tư phát triển của Chính phủ theo kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ nhất định. - Kết hợp đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội và hiệu quả tài chính của dự án nhận tài trợ là nội dung thẩm định quan trọng của NHPT:Hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án là mối tương quan giữa lợi ích xã hội mà dự án đem lại và hao phí xã hội để thực hiện dự án, tức là giá trị gia tăng xã hội có được từ việc thực hiện dự án đó. Khi NHPT thẩm định dự án, nếu không làm rõ được hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án thì ngân hàng sẽ không phê duyệt việc tài trợ cho dự án đó. 7 - Trợ giúp kỹ thuật cho các đối tượng khách hàng là vai trò quan trọng của NHPT: Thông qua vai trò hỗ trợ về kỹ thuật cho dự án, NHPT có thể cải thiện căn bản chất lượng của dự án cũng như gia tăng lãi suất tài trợ.
Sự hỗ trợ của NHPT về kỹ thuật có thể bao gồm: (i) cho dự án vay để nhập khẩu công nghệ mới, (ii) tư vấn cho dự án về công nghệ sẽ sử dụng, (iii) cho dự án thuê công nghệ… - NHPT là “cứu cánh tài trợ cuối cùng” đối với các đối tượng khách hàng đặc biệt: Trong nền kinh tế có một số đối tượng khách hàng được coi là đặc biệt. Đó có thể là những người nghèo, hộ nghèo; các đối tượng khách hàng ở các vùng sâu vùng xa; các dự án tạo ra các sản phẩm mới (sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu hoặc sản phẩm nhằm mục đích khuyến khích xuất khẩu)…NHPT hoạt động như là “người cho vay cuối cùng” trong nền kinh tế đối với các DAPT không có khả năng nhận được tài trợ từ các nguồn vốn khác. Đồng thời, trong chính sách của mình, NHPT cũng sẽ không cung cấp nguồn vốn trung – dài hạn vốn rất khan hiếm của nó cho các DAPT có khả năng nhận được tài trợ từ các nguồn vốn khác. - NHPT nhận được nhiều ưu đãi từ Chính phủ: Để đảm bảo sự bền vững về tài chính thì NHPT nhận được sự ưu đãi của Chính phủ trong việc thực hiện các nghĩa vụ tài chính như: miễn một số loại tThanh Hóa, phí đối các với khoản lãi từ hoạt động cho vay, bảo lãnh, đầu tư; được áp dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0% [27] hoặc nếu phải nộp thì tỷ lệ này không đáng kể… 1.
Các hoạt động nghiệp vụ của Ngân hàng phát triển Với phương thức hoạt động là tập trung huy động vốn trung và dài hạn để tài trợ có trọng điểm và ưu đãi cho các DAPT, do vậy các hoạt động cơ bản của NHPT cũng tập trung chủ yếu vào hai mảng này. Hoạt động huy động vốn Các nguồn huy động cụ thể của NHPT bao gồm: - Vốn do Nhà nước cấp Là ngân hàng thuộc sở hữu của Chính phủ, hoạt động phục vụ chính sách phát triển của Chính phủ nên khi NHPT mới thành lập, Chính phủ sẽ cấp cho ngân hàng một lượng vốn nhất định. Hàng năm, tùy thuộc vào thu NSNN, nhiệm 8 vụ Chính phủ giao cho NHPT trong từng thời kỳ và quy mô các khoản viện trợ không hoàn lại của các Chính phủ và tổ chức tài chính nước ngoài, Chính phủ tiếp tục cấp bổ sung vốn cho NHPT. Ngoài ra, có một nguồn vốn mà NHPT không phải nhận trực tiếp từ Chính phủ mà là một khoản mục ngân hàng được giữ lại để tái sử dụng cho các kỳ sau, đó là nguồn từ lợi nhuận sau thuế được giữ lại.
Đây là khoản mục giúp NHPT gia tăng vốn chủ sở hữu. - Huy động tiền gửi từ dân cư, dự án và các tổ chức NHPT huy động tiền gửi ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, trong đó tập trung vào tiền gửi trung và dài hạn. Ngân hàng có thể huy động tiền gửi bằng đồng nội tệ hoặc ngoại tệ, có thể áp dụng lãi suất cố định hoặc thả nổi trong thời gian sử dụng vốn của khách hàng. Ngân hàng mở các tài khoản tiền gửi thanh toán cho khách hàng, chủ yếu là cho các dự án.