CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT RỦI RO HOẠT ĐỘNG CỦA QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN VIỆT NAM 1. Cơ sở lý thuyết về quỹ tín dụng nhân dân Quá trình hình thành và phát triển mô hình Quỹ tín dụng (QTD) luôn gắn liền với lịch sử phong trào Hợp tác xã (HTX) nói chung và Hợp tác xã tín dụng (HTXTD) nói riêng. Vào nửa cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, phương thức sản xuất Tư bản chủ nghĩa được hình thành và phát triển mạnh mẽ ở nhiều nước thuộc Châu Âu và Bắc Mỹ. Cùng với quá trình phát triển tư bản hoá nói trên, những người nông dân mới được giải phóng và đông đảo người nghèo thuộc tầng lớp thị dân mau chóng rơi vào tình trạng nghèo đói và bị bần cùng hoá; vì vậy họ buộc phải tìm cách cùng nhau hợp tác nhằm tương trợ, giúp đỡ nhau vượt qua tình trạng đói nghèo.
Từ những tổ chức đầu tiên mang tính từ thiện, tương trợ xã hội đơn thuần và được hình thành ở từng khu vực, từng vùng nhỏ hẹp, các tổ chức này dần dần phát triển thành các doanh nghiệp HTX hoạt động kinh doanh đầy đủ, đồng thời mau chóng trở thành phong trào lan rộng ở các nước Châu Âu như Anh, Pháp, Đức, Italya, Hà Lan, Tây Ban Nha, Áo, Hungary. vào nửa cuối thế kỷ 19; Canada, Mỹ vào đầu thế kỷ 20 và Châu Á, Châu Phi, Mỹ Latinh trong suốt thế kỷ 20. Cho đến nay các HTXTD (hay các TCTD hợp tác) với nhiều loại hình và tên gọi khác nhau như HTXTD, QTDND, Quỹ tín dụng và tiết kiệm, Ngân hàng hợp tác xã (NH HTX). hầu như đã hiện diện ở tất cả các nước trên thế giới.
Trong đó, hình thức NH HTX được coi là loại hình TCTD hợp tác có quy mô lớn hơn và trình độ phát triển ở cấp cao hơn so với hình thức QTD. Trong khi các QTD tập trung vào phục vụ cho khách hàng là thành viên của mình, các NHHTX phục vụ cả đối tượng khách hàng là thành viên và phi thành viên (tùy mỗi khu vực pháp lý, sẽ có những quy định chi tiết về tỷ lệ thành viên và phi thành viên). Ngoài ra, các NHHTX chịu sự điều chỉnh của cả các quy định pháp lý đối với ngân hàng và các quy định pháp lý đối với khu vực HTX, theo đó cũng được phép cung cấp một loạt các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng và tham gia vào các hoạt động đầu tư rộng rãi hơn so với các QTD. Tuy nhiên, sự khác biệt trong quy mô và trình độ phát triển giữa các loại hình TCTD hợp tác xã ngày càng mờ LUẬN VĂN – TRỊNH THỊ THU 1 nhạt khi mô hình hoạt động và lĩnh vực hoạt động của các TCTD hợp tác này ngày càng phát triển theo cả chiều rộng và chiều sâu.
Thứ nhất, theo Canadian Bankers Association (2015), các QTD ở nhiều quốc gia phát triển đã và đang cung ứng một loạt các dịch vụ tài chính đa dạng và phức tạp giống như các ngân hàng thương mại (NHTM), do đó khó có thể khẳng định trình độ phát triển hệ thống QTD của quốc gia này thấp hơn trình độ phát triển của hệ thống NHHTX của một quốc gia khác. Thứ hai, bên cạnh những hệ thống NHHTX lớn mạnh như Rabobank của Hà Lan, cũng có những hệ thống QTD phát triển mạnh mẽ thành những tập đoàn lớn như Tập đoàn Desjardins của Canada - được xếp vào nhóm các Công ty nắm vốn ngân hàng (BHC), hay những QTD trung tâm phát triển như Quỹ trung tâm 1 tại British Columbia, Canada - được xếp vào nhóm các tổ chức tài chính có tầm quan trọng hệ thống quốc gia (D-SIFI). Theo Tổ chức Hiệp hội các Liên hiệp tín dụng thế giới (WOCCU), “Quỹ tín dụng được gọi dưới nhiều tên gọi khác nhau tại các nước trên thế giới - là các hợp tác xã tài chính được sở hữu bởi chính khách hàng của mình, nhằm cung cấp các dịch vụ tiết kiệm, tín dụng và các dịch vụ tài chính khác cho thành viên. Thành viên của các quỹ tín dụng có mối liên kết chung với nhau, dựa trên các mối quan hệ chung về cộng đồng, nghề nghiệp, tổ chức hoặc tín ngưỡng”.
Theo Khoản 1 Điều 3 Luật hợp tác xã năm 2012 thì: “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã”. Như vậy, QTDND do các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập để hoạt động ngân hàng nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống, đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ. Theo Khoản 6 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010 quy định: “Quỹ tín dụng nhân dân là tổ chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự LUẬN VĂN – TRỊNH THỊ THU 1 nguyện thành lập dưới hình thức hợp tác xã để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này và Luật hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống” Như vậy, quỹ tín dụng nhân dân do các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập để hoạt động ngân hàng nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống, đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ. Mặc dù có sự phát triển đa dạng khác nhau ở các nước và ngày càng tiệm cận lẫn nhau giữa các hình thức TCTD hợp tác, nhưng nhìn chung về mặt lý thuyết, QTD có những đặc điểm cơ bản của một tổ chức tín dụng HTX được thể hiện ở mục tiêu, vai trò, tính liên kết và nguyên tắc hoạt động như sau: Cung cấp dịch vụ tài chính ổn định, thường xuyên và lâu dài; tạo công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, hạn chế cho vay nặng lãi trên địa bàn hoạt động và thu được lợi nhuận cao nhất từ hoạt động sản xuất kinh doanh.
Cùng với việc cung cấp dịch vụ tài chính tốt nhất đến đối tượng của dịch vụ nhưng vẫn đảm bảo khả năng về tài chính để phục vụ hoạt động giáo dục cho các thành viên của quỹ. Tập hợp, đoàn kết hội viên, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của hội viên, hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và các địa phương. Quỹ tín dụng nhân dân là một trung gian tài chính theo mô hình HTX khu vực tư nhân. Việc gia nhập thành viên là không hạn chế và tự nguyện.
Tổ chức này thuộc về thành viên, là những người quản lý một cách dân chủ. Vì vậy, đây là nơi giáo dục về kinh tế và HTX của thành viên. Quỹ tín dụng nhân dân là một tổ chức tài chính được kiểm soát bởi một đoàn thể, bao gồm những thành viên vay vốn và gửi tiết kiệm đồng thời là người sở hữu sở hữu tổ chức đó. QTDND có những mục tiêu khác với những mục tiêu của một ngân hàng đó là mưu cầu tối đa hóa lợi thế của QTDND dành cho các thành viên của mình thông qua các món tiết kiệm và/hoặc các món vay của họ.
LUẬN VĂN – TRỊNH THỊ THU 1 Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của QTDND được quy định trong Luật và Nghị định 48/2001/NĐ-CP gồm các nguyên tắc: + Thứ nhất: Tự nguyện gia nhập và ra QTDND + Thứ hai: Quản lý dân chủ và bình đẳng + Thứ ba: Tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi + Thứ tư: Chia lãi bảo đảm kết hợp lợi ích của thành viên và sự phát triển của Quỹ tín dụng nhân dân + Thứ năm: Hợp tác và phát triển cộng đồng 1. Các loại rủi ro và kiểm soát rủi ro trong hoạt động của QTDND Việt Nam 1. Khái niệm rủi ro: Theo quan điểm truyền thống, rủi ro là những sự kiện có thể xảy ra làm cho mất mát tài sản hay làm phát sinh một khoản nợ, không thể đo lường được. Theo quan điểm hiện đại, rủi ro bao hàm nghĩa rộng hơn và có thể đo lường được, rủi ro không thể tính đến rủi ro tài chính mà còn phải tính đến rủi ro liên quan đến những mục tiêu hoạt động và mục tiêu chiến lược.
Theo Khoản 1, Điều 2, Quyết định số 493/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc NHNN Việt Nam, đề cập khái niệm “rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của TCTD là khả năng xảy tổn thất trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ theo cam kết”. Theo quan điểm tác giả, rủi ro là khả năng có thể xảy ra do một bên (khách hàng, đối tác …) không thể hoặc không đủ năng lực để thực hiện nghĩa vụ của họ một cách đầy đủ như đã cam kết. Các loại rủi ro: a. Rủi ro đạo đức LUẬN VĂN – TRỊNH THỊ THU 1 Thời gian qua, trong quá trình hoạt động đã xuất hiện các QTDND vi phạm nghiêm trọng các quy định của pháp luật.
Nguyên nhân chủ yếu là do rủi ro về đạo đức của một số bộ phận lãnh đạo và cán bộ quỹ vi phạm các quy định của pháp luật trong hoạt động QTDND. Có thể kể đến một số vụ việc sau: (1) Sai phạm tại QTDND trên địa bàn tỉnh Đồng Nai: Giám đốc cùng người nhà thâu tóm, chỉ đạo, chi phối toàn bộ hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn, lấy tiền sử dụng vào mục đích cá nhân, dẫn đến mất khả năng chi trả… (2) Cho vay một số đối tượng (không phải là thành viên Quỹ), là các cá nhân ngoài địa bàn hoạt động, là chủ một số doanh nghiệp dẫn đến thua lỗ, không có khả năng trả nợ tại địa bàn tỉnh Thanh Hóa.; (3) Chủ tịch HĐQT, Giám đốc, Phó giám đốc kiêm cán bộ tín dụng, kế toán, thủ quỹ và một số cán bộ Quỹ lập hồ sơ tín dụng khống; Chủ tịch HĐQT lập hồ sơ khống rút tiền của Quỹ, ủy viên HĐQT kiêm Giám đốc điều hành lợi dụng chức vụ, quyền hạn tham ô chiếm đoạt tài sản lớn của Quỹ tại địa bàn Hà Nội, Hưng Yên.