CHƯƠNG 1 CO SỞ LÝ LUẬN VÈ HOẠT ĐỌNG CHO VAY KHÁCH HÀNG PHÁP NHÂN CỦA NGÂN HÀNG HỌP TÁC XÃ 1.1 TÔNG QUAN VÈ TÔ C HÚC TÍN DỤNG HỢP TÁC 1.1 Tín dụng họp tác Khi sự phân công lao dộng trong xã hội ngày càng rõ nét, thì việc kinh doanh sàn xuất cùng có khoáng cách rõ rệt giừa nhừng người làm ăn được và nhừng người làm ăn thua lỏ. Nhưng người làm ăn thua lỗ có thể do rất nhiều nguyên nhân: thiếu kinh nghiệm, thiếu vốn,. và nhiều người đà phải rơi vào tình trạng di vay nặng lài, phá sản. Đế thoát khỏi thực trạng nghèo khó, khốn khổ, tưởng chừng như không có lối thoát đó, nhừng người này đà đoàn kết lại và hợp tác với nhau về vốn kinh doanh băng quan hệ tín dụng hợp tác.
Nguồn vốn được hình thành chu yếu bằng cách đi vay các thành viên và sừ dụng để cho vay chính các thành viên tham gia. Từ mối quan hệ này các tô, nhóm hợp tác, nhóm tín dụng hợp tác theo đó đà ra đời, giúp cho các thành viên dễ tiếp cận được với đồng vốn tín dụng đê thực hiện các hoạt dộng đầu tư, sán xuất kinh doanh hay tiêu dùng, với đặc điểm nồi bật là ban đầu tự hình thành do sự tự nguyện, tự phát với các tên gọi khác nhau như: Nhóm tin dụng, hội tiết kiệm, hội cho vay, hội tiết kiệm và cho vay, hội tạm ứng, hội tín dụng và tạm ứng. Đó là hình thức sơ khai cua các nhóm Tín dụng hợp tác. Sau này, các hoạt dộng và hình thức huy động, góp vốn, cho vay được mở rộng, phát triên hơn cà về hình thức, quy mô, số lượng, địa bàn.
và ngày càng trờ nên đa dạng, phong phú, khi số lượng thành viên nhiều hơn, quy mô, địa bàn hoạt động, doi tượng phục vụ lớn hơn, các nhóm TDHT dần trờ thành các nhóm hoạt động có tồ chức hơn với bộ máy quan lý lớn hơn, chặt chè hơn với số lượng thành viên lẽn tới hành trăm, hàng nghìn thành viên. 13 Sự ra đời cua các nhỏm TDHT đà hồ trợ rất nhiều cho các thành viên - chù yếu là các hộ gia đình nghèo ờ nông thôn, hồ trợ cho hoạt động sàn xuất kinh doanh cùa họ, và qua đó cùng dà hồ trợ cho sự phát triên cùa kinh tế địa phương nói chung, góp phần tạo công ãn việc làm, ôn định an ninh chính trị và trật tự xã hội, phát huy nội lực tại chồ cho tâng trương kinh tế, xóa đói giam nghèo.2 Quỹ ỉín dụng nhân dân QTDND là loại hình tô chức TDHT hiện dại mới dược xây dựng và phát triển ơ Việt Nam từ nhừng năm 1993 theo chù trương phát triển kinh tế hợp tác cũa Đang và Nhà nước Việt Nam. “Quỹ tín dụng nhân dân là tô chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình thức Hợp tác xà dê thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định cua Luật này và Luật hợp tác xà nhẳm mục tiêu chú yếu là tương trợ nhau phát triên sân xuất, kinh doanh và đời sống” (Luật các tồ chức tín dụng 2010)[ 12). Trong dinh nghía này, Hợp tác xã dược dịnh nghía: “Là tồ chức kinh tế tập thể, đồng sờ hừu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyên thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt dộng sân xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sờ tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình dăng và dân chũ trong quàn lý hợp tác xã”.
Như vậy, “QTDND là tồ chức tài chinh thuộc sở hừu diều hành bời các thành viên (có nhừng đặc điểm tương đồng nhau về nơi cư trú, nghề nghiệp hay dặc điểm chung khác), có tư cách pháp nhân, hoạt dộng dựa trên nền tàng tự chủ, tự chịu trách nhiệm, dân chù, bình đẳng, công bằng và trung thực, tất cã vì lợi ích thành viên. QTDND cung cấp các dịch vụ ngàn hàng, bao gồm huy động tiền gửi, tín dụng, thanh toán. Với chất lượng dịch vụ và giá cà cạnh tranh so với các tô chức khác cho các thành viẻn.13 Ngân hàng họp tác xã Ngân hàng hợp tác được ra đời và hoạt động rất nhiều năm trên thế giới. Đơn 14 cử như Rabobank, Ngân hàng hợp tác tại Hà Lan hoạt động được hơn 100 năm, là ngân hàng tư nhân được xếp hạng cao nhất, đóng góp lớn vào sự phát triên kinh tế của đắt nước Hà Lan.
Đen nay Ngân hàng này có 10 triệu khách hàng; 1,8 triệu thành viên; 141 Rabobank cơ sớ với ba chức năng chính như: kinh doanh, hồ trợ công nghệ thông tin, kiêm soát nội bộ. Rabobank hoạt động với chiến lược hoạt động giừ vị trí nhà cung cấp tài chính lớn nhất và sáng tạo nhất ở Hà Lan; Nhà cung cấp tài chính hàng đầu thế giới trên thị trường lương thực, thực phẩm; Là ngân hàng bền vừng nhất và có trách nhiệm với xă hội. Tại Đức, lĩnh vực ngân hàng hợp tác ớ Đức hình thành phát triển qua nhiêu thập ký, dên nay dã tăng đều dặn thị phần cua mình trước các loại hình ngân hàng khác. Kết qua này cho thấy rằng mô hình ngân hàng hợp tác phù hợp nhất với các nền kinh tể chậm phát triền, làm nồi bật vai trò kép cùa các thành viên vừa là người đi vay và người cho vay.
Trong đó, sự thay đồi thành viên trung bình và chũ chốt cúa hợp tác xã từ chu yếu là người vay sang dinh hướng người cho vay khiến ngân hàng hợp tác xà chuyển chính sách từ định giá thấp tín dụng sang cung cấp dịch vụ tiền gưi và tín dụng có giá cạnh tranh. Các hoạt động cua ngân hàng hợp tác cùng với cơ sở hạ tầng luôn được đáp ứng trên toàn quốc, bảt kịp xu hướng nền kinh tể, phù hợp chính sách dinh hướng thị trường của các ngân hàng hợp tác tại Đức ngày nay cho phép họ cạnh tranh thành công với các nhóm ngân hàng khác. Ò Việt Nam, NHHTX là một trong 3 loại hình NH. Theo Luật các tồ chức tín dụng 2010, “Ngàn hàng hợp tác xà là ngân hàng cùa tất cá các quỹ tín dụng nhân dân do các quỹ tín dụng nhân dân và một số pháp nhân góp vốn thành lập theo quy định cua Luật này nhàm mục tiêu chu yếu là liên kết hệ thống, hồ trợ tài chính, điều hòa vốn trong hệ thống các quỹ tín dụng nhân dân.” Tại Việt Nam, NHHTX đầu tiên ra đời là NHHTXVN.
Với sứ mệnh xây dựng và phát triên Quỹ tín dụng nhàn dân là một trong nhùng giài pháp quan trọng đê góp phần đáp ứng nhu cầu phục vụ phát triên kinh tế xà hội ở khu vực nông nghiệp, nông thôn.; đóng góp tích cực vào việc thực hiện mục tiêu thiên niên ký về chong 15 đói nghèo; giìr vừng vai trò là “Ngàn hàng cua tất cả các Ọuỹ tín dụng nhân dân” hoạt động theo hướng tăng trướng - an toàn - hiệu quả - bền vừng. Có thể nói rằng, với sự ra đời từ rất sớm, với chức năng nhiệm vụ quan trọng dối với các HTX, QTDND thành viên, hình thức hoạt động cua NHHTX đà và đang được quan tâm mơ rộng trên thế giới trong đó có Việt Nam. Các chức năng cơ bàn cua NHHTX dó là: ếi, Điều hoà vấn trong hệ thảng QTDND Hoạt dộng cua NHHTX luôn gắn với vai trò rất quan trọng là “Ngàn hàng cùa QTDND”, nhằm giừ cho hệ thống QTDND hoạt động ồn định, vừng chãc dó là thực hiện diều hoà vốn trong hệ thống. Mồi QTDND là một pháp nhân độc lập với các thành viên khác trong hệ thống; Trong khi đó năng lực tài chính cũa các QTDND còn rất hạn chế; diều kiện hoạt dộng rảt khó khăn, hầu như không có khả năng ứng cứu hồ trợ nhau khi một QTDND bị lâm vào tình trạng thiếu khá năng chi trà hoặc kha năng thanh toán.
Do vậy, dề tăng cường sự hợp tác tương trợ giừa các ỌTDND với nhau trong việc khắc phục các khó khăn trong hoạt động; Đặc biệt là dối phó với các cuộc khùng hoàng kinh tế thì việc NHHTX xà ra đời làm một tồ chức đầu mối, hồ trợ về tài chính và là đầu mối liên kết kinh tế cho toàn hệ thống QTDND là một điều kiện hết sức quan trọng. Để thực hiện vai trò này, NHHTX hoạt động trên cơ sờ nhận tiền gưi từ các QTDND thành viên thừa vốn và cho vay các ỌTDND thành viên thiếu vốn với cơ chế điều hoà vốn linh hoạt, lài suất điều hoà phù hợp, hợp lý; Qua đó tạo thành một vòng tuần hoàn vốn khép kín trong hệ thống, phát huy được sức mạnh cua từng thành viên cùng như cua cá hệ thống QTDND. Vì vậy, Ngân hàng Hợp tác xà chính là tô chức đau moi liên kết kinh tế quan trọng nhất trong quá trình phát triên mô hình QTDND cùng như mô hình TCTD là hợp tác xà ờ Việt Nam hay ờ bất kỳ quốc gia nào có phát triển loại hình TCTD này. h, Cung cắp các sán phẩm dịch vụ ngân hàng hiện dại cho các QTD\'D thành 16 viên.
Các QTDND có thị phan hoạt dộng ở địa bàn thành thị chiêm tỷ trọng nhỏ vì ờ địa bàn này luôn có sự cạnh tranh gay gắt cũa các Ngân hàng thương mại cỏ quy mô hoạt dộng lớn, công nghệ và sàn phâm dịch vụ tiên tiến hiện đại. Do các đồng chú sờ hừu (thành viên) đồng thời cũng là các khách hàng cũa QTDND chu yếu là nhừng người có thu nhập thấp, sàn xuất kinh doanh nhỏ lẻ nên khá năng góp vốn, gừi tiền cũng như vay vốn đê phát triển sán xuất kinh doanh còn hạn chế. Mặt khác, với tinh chất là một tồ chức kinh tế họrp tác, khá năng kết nạp và phục vụ thành viên của các ỌTDND cũng có giới hạn tuỳ thuộc vào năng lực tài chính và trình dộ cũa dội ngù nhừng người lành đạo, nhân viên quản lý điều hành QTDND; Trong khi đó so với cán bộ lãnh dạo và nhân viên cũa các loại hình TCTD khác thì trình dộ cùa nhừng người này còn hạn chế rất nhiều. Vì vậy, năng lực cạnh tranh của các QTDND so với các loại hình TCTD khác còn rất hạn chế.
Mặt khác, quy mô hoạt động của QTDND thường nho bé, nghiệp vụ đơn thuần là huy động tiền gừi và cho vay, trong khi các sán phấm dịch vụ ngân hàng khác còn rất nghèo nàn nên khó có thể tồn tại phát triền ồn đjnh và bền vừng nếu như từng QTDND chi hoạt dộng đơn lé và độc lập với nhau.