phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc kết cấu thành ba chƣơng, bao gồm: Chƣơng 1: Tổng quan về cơ chế quản lý vốn tập trung tại ngân hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng cơ chế quản lý vốn tập trung tại ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý vốn tập trung tại ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam. 6 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CƠ CHẾ QUẢN LÝ VỐN TẬP TRUNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Cơ chế quản lý vốn tại ngân hàng thƣơng mại 1. Nội dung quản lý vốn tại ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm tài sản Nợ – tài sản Có Tài sản Nợ Theo Nguyễn Đăng Dờn (2012), tài sản Nợ là phần còn lại của tài sản sau khi đã loại trừ vốn của ngân hàng. Tài sản Nợ = Tổng tài sản – Vốn chủ sở hữu Các ngân hàng thƣơng mại hoạt động với chức năng chính là trung gian tín dụng, chủ yếu là nhận tiền gửi từ khách hàng dƣ thừa vốn, đồng thời sử dụng vốn huy động đƣợc để cấp tín dụng cho khách hàng đang thiếu hụt vốn.
Với chức năng trên, tài sản chủ yếu trong các ngân hàng thƣơng mại là tài sản Nợ, đó là tài sản của khách hàng, của các chủ sở hữu là các tổ chức, cá nhân mà ngân hàng đang quản lý và sử dụng. Thành phần tài sản Nợ của ngân hàng bao gồm: Tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, vốn đi vay và các tài sản Nợ khác. Tài sản Có Tài sản Có là toàn bộ tài sản của ngân hàng đƣợc tồn tại dƣới dạng vật chất cụ thể, bao gồm: tiền, vàng, ngoại tệ, các tài sản cố định hữu hình, vô hình các loại công cụ dụng cụ dùng trong quản lý kinh doanh ngân hàng Theo góc độ kinh tế, tài sản Có là giá trị biểu hiện bằng tiền của các loại tài sản mà ngân hàng đang có quyền sở hữu một cách hợp pháp. Đó là những tài sản đƣợc sử dụng với mục đích khác nhau nhằm đem lại thu nhập cho ngân hàng.
Theo góc độ kế toán thống kê, tài sản Có là những tài sản bằng hiện vật hoặc hiện kim, tồn tại dƣới dạng hữu hình hoặc vô hình, đƣợc thể hiện ở bên Có của bảng cân đối kế toán, bất kể nó đƣợc tạo ra từ nguồn nào. 7 Tài sản Có = Vốn chủ sở hữu + Nợ phải trả Tài sản Có = Nguồn vốn huy động + Nguồn vốn tự có của ngân hàng Thành phần tài sản Có của một ngân hàng bao gồm tài sản Có nội bảng nhƣ ngân quỹ, cho vay các tổ chức tín dụng khác, cho vay tổ chức kinh tế và cá nhân, các khoảng đầu tƣ, tài sản cố định và tài sản Có khác. Tài sản Có ngoại bảng bao gồm các cam kết bảo lãnh cho khách hàng, phát hành thƣ tín dụng, chấp nhận hối phiếu thƣơng mại, cam kết giao dịch hối đoái, các hợp đồng giao dịch lãi suất. Quản trị tài sản Nợ – tài sản Có Khái niệm quản trị tài sản Nợ – tài sản Có Gardner (1991) cho rằng “Quản trị tài sản Nợ – tài sản Có là một khuôn khổ toàn diện để đo lƣờng, giám sát và quản lý rủi ro thị trƣờng của một ngân hàng.
Đó là quản lý cơ cấu bảng cân đối kế toán (tài sản và nợ phải trả) để tối đa hóa thu nhập thuần từ lãi trong tổng thể rủi ro của tổ chức”. “Quản lý tài sản Nợ – tài sản Có đƣợc định nghĩa nhƣ là một cơ chế để giải quyết những rủi ro mà một ngân hàng phải đối mặt do sự mất cân đối giữa tài sản nợ và tài sản có, cũng nhƣ do tính thanh khoản hoặc sự thay đổi về lãi suất” (An Oracle White paper, 2008). Theo một định nghĩa khác, John R.Brick (2012) cho rằng “Quản lý tài sản Nợ – tài sản Có là một tiến trình liên quan đến việc quản lý kết hợp và đồng thời tài sản Nợ và tài sản Có để đo lƣờng, giám sát và kiểm soát những tác động của thay đổi lãi suất đối với thu nhập giá trị tài sản, tính thanh khoản và vốn điều lệ”. Nhƣ vây, quản lý tài sản Nợ – tài sản Có là điều hành chính sách giải quyết các rủi ro tài chính liên quan đến thay đổi lãi suất, tỷ giá hối đoái và các yếu tố khác.
Quản lý tài sản Nợ – tài sản Có nhằm hạn chế rủi ro đến mức chấp nhận bằng cách giám sát và dự đoán cơ cấu giữa tài sản và nợ phải trả của ngân hàng. Quản lý tài sản Nợ – tài sản Có là một phần cốt lõi của ngân hàng với mục tiêu giảm thiểu rủi ro và tối đa hóa lợi nhuận. Mục tiêu của quản trị tài sản Nợ – tài sản Có 8 Theo Asha (2014), mục tiêu chính của quản trị tài sản Nợ – tài sản Có trong ngân hàng là bảo vệ/gia tăng giá trị thị trƣờng của giá trị thuần, tăng thu nhập lãi ròng (Net interest income – NII), giữ vững tỷ lệ lãi cận biên (Net interest margin – NIM). “Mục tiêu chính của quản trị tài sản Nợ – tài sản Có là cung cấp một cảnh báo sớm về vấn đề tài chính do tác động của sự thay đổi lãi suất lên bảng cân đối kế toán và báo cáo thu nhập” (John R.
Cùng quan điểm trên, Phan Thị Hoàng Yến (2012) cho rằng mục tiêu quản trị tài sản Nợ – tài sản Có, bao gồm: - Đảm bảo sự cân bằng kỳ hạn giữa tài sản và nợ nhằm có đƣợc cấu trúc bảng cân đối kế toán hợp lý; - Tối đa hóa lợi nhuận trong khuôn khổ “khẩu vị rủi ro” của ngân hàng; - Mục tiêu cuối cùng là tối đa hóa giá trị ròng của ngân hàng. Để đạt đƣợc các mục tiêu trên nhà quản trị ngân hàng cần phải thực hiện quản trị nguồn vốn, đảm bảo sự phù hợp về kỳ hạn với sử dụng vốn, quản trị rủi ro theo chuẩn mực quốc tế, thực hiện các biện pháp quản trị, từ tổ chức bộ máy quản lý, xây dựng chiến lƣợc đến các hoạt động nghiệp vụ. Dựa trên việc quản trị tài sản Nợ – tài sản Có, các ngân hàng thƣơng mại sẽ nâng cao dần chất lƣợng hoạt động của mình. Quản trị tài sản Nợ – tài sản Có chính là nền tảng cho việc vận hành bất cứ cơ chế quản lý vốn nào.
Vì vậy, các NHTM phải nghiên cứu kỹ và đƣa vào vận dụng cơ chế quản lý vốn phù hợp nhất. Lý luận về cơ chế quản lý vốn tại ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm cơ chế quản lý vốn tại ngân hàng thƣơng mại Cơ chế quản lý vốn tại NHTM là tổng thể các phƣơng pháp, hình thức và công cụ đƣợc vận dụng trong quá trình quản lý vốn phải trả của ngân hàng (tài sản Nợ – TSN) và các danh mục sử dụng vốn (tài sản Có – TSC) tạo một cơ cấu tài sản thích hợp nhằm đảm bảo cho ngân hàng luôn có đủ nguồn vốn để đáp ứng kịp thời mọi 9 nhu cầu thanh khoản, duy trì và phát triển một cách hiệu quả, an toàn trong hoạt động kinh doanh của mình và tối đa hóa lợi nhuận, đồng thời kiểm soát đƣợc rủi ro trong cơ cấu tài sản của ngân hàng (Nguyễn Thị Mùi, 2008). Trong hoạt động quản lý vốn, cần đặc biệt quan tâm và kiểm soát rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất.
Rủi ro thanh khoản là khả năng ngân hàng không thể đáp ứng các nhu cầu thƣờng xuyên hoặc đột xuất của ngƣời gửi tiền cũng nhƣ không chi trả đƣợc kịp thời các nghĩa vụ tài chính khác. Rủi ro lãi suất là một trong những thách thức lớn nhất đối với hoạt động quản lý TSN – TSC của ngân hàng. Khi lãi suất thị trƣờng thay đổi, ngân hàng thấy rằng những nguồn thu chính từ danh mục cho vay và đầu tƣ chứng khoán cũng nhƣ chi phí đối với tiền gửi và các nguồn vay đều bị tác động. Ngoài ra, sự thay đổi lãi suất ảnh hƣởng đến giá trị thị trƣờng của tài sản và nợ, làm thay đổi giá trị vốn chủ sở hữu của ngân hàng.
Vì vậy, lãi suất thay đổi tác động đến toàn bộ bảng cân đối kế toán và báo cáo thu nhập của ngân hàng (P. Các loại hình cơ chế quản lý vốn tại ngân hàng thƣơng mại Cơ chế quản lý vốn phân tán Các chi nhánh thực hiện quản lý vốn độc lập thông qua hoạt động của phòng đầu mối tại từng chi nhánh, tự cân đối trên cơ sở tuân thủ các qui định của ngành và của hệ thống về quản lý rủi ro, quản lý thanh khoản và dự trữ bắt buộc. Chi nhánh phải mở tài khoản tại Ngân hàng Nhà nƣớc địa phƣơng để đáp ứng nhu cầu thanh khoản tức thời và an toàn vốn. Nguyên tắc thực hiện của cơ chế quản lý vốn phân tán Phần chênh lệch giữa TSC – TSN đƣợc điều chuyển giữa Hội sở chính và chi nhánh, các chi nhánh thực hiện giao dịch “vay” phần vốn thiếu hụt (TSC > TSN) và “gửi” phần vốn thừa (TSC < TSN) cho Hội sở chính với lãi suất điều chuyển vốn nội bộ.
Các chi nhánh hoạt động nhƣ một ngân hàng con, độc lập, tự chủ động cân đối nguồn vốn và sử dụng vốn, mọi rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản do chi nhánh tự chịu trách nhiệm. 10 Thị trƣờng ------------------- -------------------- Bán vốn cho chi nhánh 1 Cho Mua vốn của chi nhánh 2 Huy vay Huy động Cho động Trung tâm vay vốn Chi nhánh 1: Thiếu vốn Chi nhánh 2: Thừa vốn Hình 1.1: Mô hình cơ chế quản lý vốn phân tán (Nguồn: Ngân hàng TMCP Đầu tƣ & Phát triển Việt Nam) Ƣu điểm và nhƣợc điểm của cơ chế quản lý vốn phân tán Ƣu điểm Chi nhánh đƣợc chủ động quyết định lãi suất cho vay và huy động với khách hàng, đảm bảo tính cạnh tranh so với các ngân hàng khác, tăng quy mô huy động vốn và cho vay. Cơ chế quản lý vốn phân tán đặc biệt có lợi đối với các chi nhánh có số dƣ huy động vốn cao hơn hoặc xấp xỉ bằng dƣ nợ tín dụng vì ngoài phần margin giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động vốn, các chi nhánh này còn đƣợc hƣởng toàn phần lãi suất “gửi” vốn tại Hội sở chính. Nhƣợc điểm Theo cơ chế này, chi nhánh hoạt động một cách độc lập tƣơng đối, có bảng cân đối riêng, trong đó phân loại TSN và TSC theo kỳ hạn và theo mức độ rủi ro.