phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục kèm theo, luận văn gồm 3 chƣơng: 6 z - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý thu BHXHbảo hiểm xã hội - Chƣơng 2: Phân tích tThực trạng quản lý thu BHXH bảo hiểm xã hội tại BHXH bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội - Chƣơng 3: Giải pháp Hhoàn thiện quản lý thu bảo hiểm xã hội BHXH tại bảo Formatted: No underline, Font color: Auto, Condensed by 0.3 pt hiểm xã hộiBHXH thành phố Hà Nội Formatted: No underline, Font color: Auto, Condensed by 0.3 pt Formatted: No underline, Font color: Auto, Condensed by 0.3 pt Formatted: No underline, Font color: Auto, Condensed by 0.3 pt Formatted: Condensed by 0.3 pt Formatted: Heading 1, Left, Line spacing: single, Tab stops: Not at 0.94" 7 z Formatted: Font color: Auto Formatted: Heading 1, Left, Line spacing: single Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Heading 1, Line spacing: single CHƢƠNG 1 Formatted: Font: 13 pt, No underline, Font color: Auto CƠ SNG 1 LUSNG 1 QUSNG 1 THU BTO HING XÃ HNICƠ SỞ LÝ LUẬN Formatted: Heading 1, Left, Line spacing: VỀ QUẢN LÝ THU BẢO HIỂM XÃ HỘI single Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: Font: 13 pt, No underline, Font color: Auto 1. Bảo hiểm xã hội và thu Bảo hiểm xã hội Formatted: Font color: Auto 1. Bảo hiểm xã hội Formatted: Font: 13 pt, Font color: Auto Formatted: No underline, Font color: Auto 1. Khái niệm và sự ra đời của Bảo hiểm xã hội Formatted: Heading 2, Left, Line spacing: single BHXH là một trong những loại hình bảo hiểm ra đời khá sớm và ngày nay Formatted: Font: Not Bold, Font color: Auto đƣợc phổ biến ở tất cả các nƣớc trên thế giới, đây là một loại hình bảo hiểm đặc Formatted: Font color: Auto Formatted: Font color: Auto biệt, nó ít mang tính chất kinh doanh thƣơng mại mà chủ yếu là tính nhân đạo và nhân văn cao cả.
Trong hoạt động của đời sống xã hội cũng nhƣ trong hoạt động sản xuất kinh doanh, ngoài những biến cố đã đƣợc con ngƣời tính toán khoa học và đƣợc dự báo trƣớc, con ngƣời luôn phải đối mặt với những rủi ro bất ngờ có thể xảy ra do rất nhiều nguyên nhân nhƣ: thiên tai, tai nạn giao thông, tai nạn trong lao động sản xuất, ốm đau, bệnh dịch… Những bất trắc rủi ro đó đã gây ra và đem đến cho con ngƣời những tổn thất, hậu quả to lớn cả về mặt kinh tế lẫn môi trƣờng sinh thái và 8 z môi trƣờng xã hội. Chính vì vậy mà con ngƣời đã phải đƣa ra nhiều biện pháp để phòng ngừa hạn chế và khác phục những biến cố rủi ro đó. Những biện pháp phòng ngừa, né tránh và hạn chế rủi ro thƣờng đƣợc con ngƣời chủ động đƣa ra các quy định cụ thể trong từng lĩnh vực quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh và trong đời sống sinh hoạt xã hội để buộc mọi đơn vị, mọi tổ chức và mọi thành viên trong xã hội phải tuân thủ thực hiện. Chẳng hạn đề phòng chống bão, lũ nhà nƣớc ban hành luật về đê điều; để phòng tai nạn giao thông nhà nƣớc ban hành luật giao thông đƣờng bộ, đƣờng thủy, hàng không… Mặt khác, theo quy luật sinh học thì con ngƣời thƣờng phải trải qua các giai đoạn là: con ngƣời đƣợc sinh ra, đƣợc nuôi dƣỡng đến lúc trƣởng thành, lao động cống hiến sức lực, trí tuệ cho xã hội, cho gia đình, tiếp đến là giai đoạn hết tuổi lao động , già yếu, bệnh tật đƣợc xã hội, gia đình và lớp ngƣời kế tiếp nuôi dƣỡng chăm sóc cho đến khi chết.
Con ngƣời muốn tồn tại và phát triển trƣớc hết phải ăn, mặc, ở, đi lại… Để thỏa mãn nhu cầu đó, con ngƣời phải lao động để đem lại thu nhập. Nhƣng trong toàn bộ cuộc đời, không phải lúc nào con ngƣời cũng có đủ sức khỏe và cơ hội lao động để có thu nhập. Trái lại, trong thực tế có rất nhiều những rủi ro bất lợi ngẫu nhiên đến với con ngƣời nhƣ ốm đau, tai nạn, suy giảm sức khỏe, mất việc làm…Trong khi con ngƣời luôn cần có những nhu cầu về vật chất và tinh thần. Thậm chí trong một số trƣờng hợp, nhu cầu chi tiêu mới nảy sinh con tăng thêm nhƣ chi phí khám, chữa bệnh, chăm sóc nuôi dƣỡng… Chính vì vậy, để chủ động khắc phục những khó khăn, tổn thất đó, mỗi ngƣời lao động và cộng đồng xã hội cần thiết phải có một nguồn lực tài chính dự trữ để kịp thời đáp ứng nhu cầu không những cho bản thân mình, mà còn cho cả những ngƣời mình phải trực tiếp nuôi dƣỡng và cho cả những ngƣời gặp phải những biến cố rủi ro (kể cả ngẫu nhiên và tất yếu) trong đời sống xã hội.
Trong nền kinh tế thị trƣờng luôn tồn tại hai lực lƣợng đó là ngƣời lao động và giới chủ (ngƣời làm thuê lao động). Lúc đầu ngƣời chủ chỉ cam kết trả công lao động, nhƣng về sau họ đã phải cam kết cả việc đảm bảo cho ngƣời làm thuê có một số thu nhập nhất định để họ trang trải những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi ốm 9 z đau, tai nạn, thai sản, tuối già… Trong thực tế, nhiều khi các trƣờng hợp trên không xảy ra nên ngƣời chủ không phải chi một đồng tiền nào. Nhƣng có khi lại xảy ra dồn dập, buộc ngƣời chủ phải bỏ ra một khoản tiền lớn mà họ không muốn. Vì thế giới chủ đã dần dần không thực hiện những cam kết ban đầu, dẫn đến việc tranh chấp giữa giới chủ và ngƣời lao động.
Để giải quyết mâu thuẫn này, đã xuất hiện “bên thứ ba” đóng vai trò trung gian nhằm điều hòa lợi ích giữa giới chủ và thợ. Điều này có ý nghĩa là, thay vì phải chi trực tiếp những khoản tiền lớn đột xuất cho ngƣời lao động khi họ gặp bất trắc, giới chủ có thể trích ra thƣờng xuyên hàng tháng một khoản tiền nhỏ dựa trên có sở xác xuất những biến cố của tập hợp những ngƣời lao động làm thuê. Số tiền này đƣợc giao cho bên thứ ba quản lý đƣợc dồn tích dần thành một quỹ. Khi ngƣời lao động bị ốm đau, tai nạn… “ Bên thứ ba” sẽ chi trả theo cam kết không phụ thuộc vào giới chủ có muốn hay không muốn.
Nhƣ vậy, một mặt giới chủ đỡ bị thiệt hại về kinh tế, mặt khác ngƣời lao động làm thuê đƣợc đảm bảo chắc chắn bù đắp một phần thu nhập khi bị ốm đau, tai nạn và khi về già. Tuy nhiên khi nền kinh tế ngày càng phát triển, năng xuất suất lao động đòi hỏi cần đƣợc tăng lên, dẫn đến rủi ro lao động càng lớn. Lúc này giới thợ luôn mong muốn đƣợc bảo đảm nhiều hơn, còn ngƣợc lại giới chủ lại mong muốn phải chi it hơn, tức là phải đảm bảo cho giới thợ ít hơn, do đó việc tranh chấp về lợi ích lại xảy ra. Trƣớc tình hình đó Nhà nƣớc đã phải can thiệp và điều chỉnh.
Sự can thiệp này một mặt làm tăng vai trò của Nhà nƣớc, giới chủ buộc phải đóng thêm, đồng thời giới thợ cũng phải đóng góp một phần vào sự bảo đảm cho chính mình, cả giới thợ và giới chủ đều cảm thầy mình đƣợc bảo vệ. Các nguồn đóng góp của giới chủ, thợ và sự hỗ trợ của Nhà nƣớc đã hình thành nên Quỹ BHXH. Do tập trung nên quỹ có khả năng giải quyết các phát sinh của rủi ra cho tập hợp nguời lao động trong toàn xã hội. Nhƣ vậy sự ra đời của BHXH là một tất yếu khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn của bất kỳ ai và để đáp ứng với sự phát triển chung của xã hội, đòi hỏi BHXH ngày càng phải đƣợc củng cố và hoàn thiện trong mỗi quốc gia cũng nhƣ trên toàn thế giới.
10 z Vậy “BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm một phần thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn tật, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật nhằm ổn định đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội” (Nguồn: Luật BHXH 2006) Comment [h1]: Nguồn??? Formatted: Font: Not Bold 1. Chức năng của Bảo hiểm xã hội Formatted: Font color: Auto BHXH có một số chức năng chủ yếu nhƣ sau: Formatted: Heading 4, Left, Line spacing: single Phòng ngừa rủi ro: Với chức năng này BHXH cho phép tất cả các hoạt động kinh tế xã hội hoặc các đối tƣợng tham gia trong quá trình kinh tế xã hội trƣớc đây hoặc tất cả các công dân… hình thành các quyền lợi đảm bảo để duy trì một chuẩn mực sống tƣơng đối ổn định ngay cả khi trong trƣờng hợp có sự cố bất ngờ rủi ro xảy ra. An sinh xã hội Với chức năng này rất cần thiết cho ngƣời lao động và. Ngƣời sử dụng lao động mà còn đảm bảo sự ổn định chính trị, an toàn xã hội cho quốc gia, đảm bảo chắc chắn đối với mọi thành viên trong xã hội gặp cảnh nghèo đói đều đƣợc cung cấp một khoản thu nhập bằng tiền cũng nhƣ các dịch vụ chăm sóc về y tế và dịch vụ xã hội đầy ý nghĩa.
Hai chức năng trên này hỗ trợ cho nhau, đảm bảo ổn định kinh tế tài chính cho ngƣời lao động, khuyến khích họ yên tâm làm việc phát huy hết khả năng, năng lực chuyên môn giúp cho nền kinh tế phát triển, ổn định xã hội, đảm bảo an toàn cho quốc gia về kinh tế chính trị va an ninh quốc phòng. Chính vì thế mà hiện nay đã có 182 nƣớc có luật về BHXH. Có thể nói BHXH là một trong những hoạt động mà tất cả các quốc gia đều quan tâm không phân biệt thể chế chính trị, trình độ phát triển kinh tế xã hội. BHXH đã đóng góp vai trò to lớn trong việc bảo đảm an sinh xã hội, ổn định và phát triển kinh tế, đƣợc thể hiện thông qua các tác động chủ yếu cụ thể sau: 11 z - Bù đắp một phần thu nhập cho ngƣời lao động khi họ bị giảm thu nhập hoặc bị mất thu nhập do bị suy giảm sức khỏe hoặc mất khả năng lao động bị mất việc làm.
Đây là sự đảm bảo chắc chắn sẽ xảy ra vì mọi ngƣời sẽ mất khả năng lao động khi họ hết tuổi lao động, theo các điều kiện quy định của BHXH. Đây là chức năng cơ bản của BHXH nó quyết định tính chất, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của hệ thống BHXH.