Chương 1: Cơ sở lý luân và thực tiễn quản lý Nhà nước vềđất đai. Chương 2: Thực trạng công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2015-2019. Chương 3: Một số biện pháp hoàn thiện công tác quản lý Nhànước về đất đai trên địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2020-2025. 6 CHƯ NG 1: C SỞ LÝ LUẬN VÀ TH C TI N C NG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯ C VỀ ĐẤT Đ I 1.
Cơ sở uận của quản Nhà nước về đất đai 1. Khái niệm đất đai Theo góc độ địa chất h c, đất bao gồm tất cả các tài nguyên có nguồn gốc tự nhiên, ch ng hạn như vị trí địa lý của khu vực đất đai, các tài nguyên khoáng sản dưới lòng đất. Theo Tổ chức Nông lương iên hiệp quốc ( AO), đất đai là một tổng thể v t chất, bao gồm cả sự kết hợp giữa địa hình và không gian tự nhiên. Trong kinh tế h c đất được coi là một trong các yếu tố sản xuất, các yếu tố khác còn lại là tư bản và sức lao động.
Những quan điểm tổng hợp hơn cho rằng đất đai là những tài nguyên sinh thái và tài nguyên kinh tế, xã hội. Như v y, quan niệm về đất có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau: không gian, môi trường, vị trí địa lý, cộng đồng lãnh thổ, nguồn lực phát triển kinh tế, tài sản… Theo quy định tại u t đất đai năm 1993, “ ất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan tr ng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng. Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo l p, bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay” [5, tr. Trong luân văn này, đất đai được hiểu theo nghĩa kinh tếh c, với tư cách nguồn lực tăng trưởng phát triển vì lợi ích quốc gia, môi trường sống của dân cư và tài sản, tư liệu sản xuất của người sử dụng đất.
Đặc điểm của đất đai Do quan niệm về đất có thể được hiểu theo nhiều cách khácnhau nên đặc điểm của đất đai cũng được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, song nhìn từ góc độ Q NN, có thể nhấn mạnh một số đặc điểm của đất đai như sau: 7 - Đất bị giới hạn về diện tích. Diện tích đất tự nhiên được cố định trong phạm vi bề mặt trái đất. ối với quốc gia, diện tích đất được cố định trong biên giới từng nước g i là lãnh thổ. m i t nh, thành phố, huyện, xã, diện tích đất tự nhiên được xác định theo địa giới hành chính.
Trong quá trình phát triển, tổng diện tích đất tự nhiên là cố định, nhưng phần diện tích của từng loại đất dùng cho các nhu cầu khác nhau có thể có biến động tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế cũng như khả năng khai thác quỹ đất chưa sử dụng. ặc điểm này khiến cho đất đai trở thành nguồn lực đặc biệt khan hiểm. Hơn nữa, trong quá trình phát triển của xã hội loài người, nhu cầu sử dụng đất đai không ngừng tăng lên, trong khi quỹ đất tự nhiên không thay đổi luôn gây áp lực lên quỹ đất và làm cho đất đai ngày càng trở nên quý giá đối với con người. Chính vì thế, Nhà nước cần phải có chính sách quản lý thích hợp để đảm bảo sử dụng nguồn lực khan hiếm này một cách hiệu quả cả trên phương diện quốc gia, địa phương, lẫn từng đơn vị, tổ chức cụ thể.
- Đất luôn gắn với vị trí cố định trên vỏ trái đất. Tính cố định về vị trí của đất đai đồng thời cũng quy định tính cố định về khí h u, thủy văn, địa chất, địa hình của từng thửa đất. Tính cố định về vị trí của đất đòi hỏi con người phải thích nghi và tăng hiệu quả sử dụng đất bằng các biện pháp phù hợp với nó. ặc điểm này khiến cho giá trị kinh tế của đất đai phụ thuộc rất lớn vào vị trí của thửa đất.
ất ở đô thị, gần đường giao thông, trong khu dân cư, có vị trí địa lý thu n lợi có giá trị kinh tế cao hơn đất tại các vùng xa xôi hẻo lánh. - Đất không bị tiêu phí khi sử dụng. Khác với các dạng của cải khác, đất không bị mất giá trị trao đổi và giá trị sử dụng trong quá trình sử dụng. Ngược lại, nếu biết cách sử dụng hợp lý, các tính năng của đất có thể tăng lên và giá cả thửa đất, vì thế, cũng tăng lên.
Trừ trường hợp bị thiên tai huỷ hoại, đặc trưng thông thường của hàng hoá là do con người tạo ra và bị tiêu biến khi sử dụng, ngược lại, con người không thể tạo ra đất đai và thửa đất không bị mất đi trong quá trình sử dụng. Có thể nói, đất đai là tư liệu sản xuất vĩnh cửu (không phụ thuộc vào tác động của thời gian, của quá trình sử dụng). 7 - Giá cả đất đai phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng đất. ể xác địnhgiá trị của đất, người ta thường dựa vào thu nhâp từ sử dụng đất.
Về bản chất, giá đất phụ thuộc vào địa tô và lãi suất thị trường. Trong nền kinh tế thị trường, lãi suất có xu hướng giảm do cạnh tranh, trong khi cầu về đất có xu hướng tăng dẫn đến giá đất có xu hướng tăng. ặc điểm này đặt ra ra yêu cầu cần xây dựng các phương pháp định giá đất đai thích hợp, nhất là trong điều kiện cơ quan nhà nước có vai trò lớn trong định giá đất như ở Việt Nam. - Đất vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động.
Trong quá trình sản xuất nông nghiệp, con người sử dụng những đặc tính củađất đai để tác động vào cây trồng tạo ra nông sản, khi đó đất đóng vai trò tư liệu sản xuất. Trong đa số các ngành kinh tế, đất là đối tượng lao động, trên đó con người thực hiện các hoạt động sản xuất để tạo ra các sản phẩm đa dạng như nhà ở, đường giao thông, công trình kiến trúc,…. Khi đất đai là tư liệu lao động thì nó đòi hỏi con người không ngừng cải tạo, nâng cao độ phì nhiêu của đất đai. Khi đất đai là đối tượng lao động, đất cần được qui hoạch và có kế hoạch sử dụng hợp lý để phát huy lợi thế từng vùng, từng vị trí nhằm đạt được giá trị kinh tế lớn nhất.
Vai trò của đất đai trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ất đai là sản phẩm của tự nhiên, là tài nguyên, môi trườngsống của con người. Trong quá trình lao động con người tác động vào đất đai để tạo ra các sản phẩm cần thiết phục vụ cho con người, vì v y đất đai vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa là môi trường sống, đồng thời vừa là sản phẩm lao động của con người. Không có đất đai sẽ không có môi trường sống và cũng không có điều kiện tự nhiên cho sự phát triển của xã hội loài người. Sự kh ng định vai trò của đất đai như trên là hoàn toàn có cơ sở.
Bởi vì, đất đai là điều kiện chung để thực hành quá trình sản xuất của các ngành kinh tế và hoạt động sống của con người. Trong xu thế đa dạng hóa các ngành kinh tế để tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu nhiều mặt của xã hội loài người, nhu cầu đất đai cho các ngành kinh tế ngày càng mở rộng hơn, do đó đất đai càng 8 trở nên khan hiếm hơn. ể khắc phục mâu thuẫn này, xã hội phải tìm kiếm các phương thức nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai như t n dụng chiều cao khoảng không, chiều sâu trong lòng đất và bố trí các ngành kinh tế trên bề mặt trái đất hợp lý. ất đai là môi trường sống của động - thực v t và con người trên trái đất.
Không có đất đai, các loài động, thực v t, kể cả con người, sẽ diệt vong. Vì đất là điều kiện rất cần thiết để con người tồn tại và tái sản xuất các thế hệ kế tiếp nhau của loài người, nên cùng với quá trình sử dụng, xã hội phải bảo vệ đất đai cả với nghĩa bảo tồn tính năng tự nhiên của đất cũng như với nghĩa bảo tồn giá trị tinh thần, văn hóa, tài sản quốc gia. ất đai là tài sản quốc gia, là thành quả xây dựng và bảo vệ đất nước của nhiều thế hệ kế tiếp nhau. Vì thế, đất còn gắn với quê hương, với Tổ quốc, với truyền thống, văn hóa của từng quốc gia dân tộc cụ thể.
Con người có thể hy sinh cả tính mạng của mình bảo vệ diện tích đất đai được coi là lãnh thổ thuộc chủ quyền của một nước. ất đai còn là nguồn vốn góp phần phát triển kinh tế. Nhờ thếchấp đất, các tổ chức kinh tế có thể vay vốn ngân hàng phát triển sản xuất, kinh doanh. Nhờ nguồn tài chính huy động qua bán đất, thu thuế đất, cho thuê đất… các chủ thể kinh tế khác nhau, đặc biệt là cơ quan nhà nước, có nguồn tài chính tài trợ cho các hoạt động của h.
Có thể nói, sự liên thông giữa thị trường bất động sản và thị trường tài chính đã làm tăng tính hiệu quả của nền kinh tế. Khái niệm quản l Nhà nước về đất đai a) Khái niệm quản lý nhà nước “Quản lý nhà nước xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước. Quản lý nhà nước thay đổi phụ thuộc vào chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của m i quốc gia qua các giai đoạn lịch sử. Ngày nay quản lý nhà nước bao gồm hoạt động l p pháp của cơ quan l p pháp, hoạt động hành pháp của Chính phủ và hoạt động tư pháp của cơ quan tư pháp.
Có thể hiểu uản l nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp lu t nhà nước để điều ch nh 9 các hành vi của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sốngxã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội”.